Thứ sáu 17/04/2026 15:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Phát triển Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” là nhiệm vụ chính trị quan trọng đặc biệt trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, phải có quyết tâm chính trị cao với lộ trình, bước đi và cách làm phù hợp; đồng thời, phải có sự chung tay góp sức của tất cả các lực lượng có liên quan, trước hết là sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội.

Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước; là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục... và giao dịch quốc tế. Với định hướng phát triển Thủ đô “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”, việc triển khai Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là vấn đề cần thiết, cấp bách. Tuy nhiên, để có một quy hoạch xứng tầm, đáp ứng được đòi hỏi về không gian cũng như nguyện vọng của đông đảo nhân dân cả nước, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới đóng vai trò là cơ sở, chỉ dẫn hàng đầu cho công tác quy hoạch.

Thăng Long - Hà Nội là địa danh tiêu biểu cho lịch sử nghìn năm văn hiến của dân tộc. Bước vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Thủ đô Hà Nội càng có vị trí quan trọng, đòi hỏi cần có sự định hướng quy hoạch phát triển một cách cụ thể. Ngày 20/10/1996, Thường vụ Bộ Chính trị đã ra Thông báo số 10-TB/TW về “Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội tới năm 2020”, chỉ rõ: “Mở rộng quy mô Hà Nội chủ yếu về phía Tây (phía Tây Bắc và Tây Nam) và phía Bắc. Ưu tiên trước cho đầu tư phát triển phía Bắc sông Hồng (từ sông Đuống trở lại), nơi đã có sẵn các đầu mối giao thông thuận lợi để phát huy tốt cảng Cái Lân, Hải Phòng, các trục quốc lộ số 18, số 5 và sân bay quốc tế Nội Bài”[1]. Tiếp đó, ngày 16/4/1998, Bộ Chính trị ra Kết luận số 131-TB/TW về “Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội tới năm 2020” với mục tiêu: “Xây dựng Hà Nội trở thành một thành phố vừa dân tộc vừa hiện đại, đậm đà bản sắc và truyền thống nghìn năm văn hiến, là trung tâm đầu não về chính trị, đồng thời là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học kỹ thuật, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, tương xứng với Thủ đô của một nước có quy mô dân số một trăm triệu dân, có vị trí xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới”[2]. Hiện thực hóa chủ trương trên, ngày 20/6/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 108/1998/ QĐ-TTg về việc “Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020”; chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan lập phương án triển khai xây dựng theo quy hoạch; thành lập Ban Chỉ đạo quy hoạch và xây dựng Thủ đô Hà Nội do một Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội làm Phó Trưởng ban; đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ... là các ủy viên.

Bước sang thế kỷ 21, Hà Nội có những thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng đứng trước những khó khăn, thách thức gay gắt. Để phấn đấu trở thành một trung tâm ngày càng có uy tín ở khu vực, xứng đáng với danh hiệu “Thủ đô Anh hùng”[3], ngày 15/12/2000, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001 - 2010”. Trong quá trình xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội, cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau: Phát triển Thủ đô là trọng điểm trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Cần phát huy đồng bộ sức mạnh tổng hợp của Hà Nội, của cả nước, của hợp tác quốc tế trong quá trình phát triển Thủ đô; khai thác nguồn lực trong nước là quyết định, tranh thủ nguồn lực bên ngoài là quan trọng. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô phải được xây dựng và thực hiện trong mối quan hệ hữu cơ với xây dựng, triển khai chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng và cả nước; tạo ra sự phân công, hợp tác có kế hoạch trong một cơ cấu thống nhất trên phạm vi cả nước. Về phương châm, Nghị quyết chỉ rõ: Phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền là nhiệm vụ then chốt; quản lý đô thị là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng. Kết hợp hài hòa các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với xây dựng, củng cố quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo trật tự, văn minh và công bằng xã hội. Kết hợp giải quyết các vấn đề cấp bách với kiên trì thực hiện các mục tiêu cơ bản; xác định đúng trọng tâm, các khâu đột phá, có những bước đi, giải pháp năng động, sáng tạo, hiệu quả, đi tắt đón đầu, đẩy nhanh tốc độ phát triển Thủ đô và đóng góp kinh nghiệm, bài học cho Trung ương trong quá trình lãnh đạo phát triển đất nước[4]. Trên cơ sở đó, Nghị quyết xác định các nhiệm vụ chủ yếu và chỉ ra 05 nhóm giải pháp cơ bản như: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; huy động và sử dụng tốt các nguồn vốn; đổi mới cơ cấu đầu tư; tạo lập và mở rộng thị trường; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn. Thể chế hóa Nghị quyết, ngày 28/12/2000, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 29/2000/PL-UBTVQH10 về “Thủ đô Hà Nội”, làm cơ sở pháp lý cho quá trình xây dựng, phát triển Thủ đô. Trong đó, xác định: “Xây dựng, phát triển Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trái tim của cả nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại; kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử nghìn năm văn hiến Thăng Long - Hà Nội, góp phần xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”[5]. Cùng với đó, Trung ương cũng dành sự đầu tư lớn về ngân sách và các nguồn tài chính, các phương tiện vật chất - kỹ thuật, tạo điều kiện để Hà Nội phát triển nhanh, toàn diện, vững chắc, tương xứng với vị thế và trọng trách của Thủ đô…

Đặc biệt, ngày 29/5/2008, tại Kỳ họp thứ ba Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 về “Mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan” (Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/8/2008). Ngày 06/7/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1081/QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”; trong đó nhấn mạnh: “Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 phải phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, Quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; đảm bảo thống nhất với quy hoạch ngành, lĩnh vực; xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội thành động lực thúc đẩy phát triển đất nước”[6]. Nhất quán với quan điểm trên, ngày 26/7/2011, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1259/ QĐ-TTg phê duyệt “Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, chỉ rõ: Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố “Xanh - Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”, đô thị phát triển năng động, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao trong nước, khu vực và quốc tế; có môi trường sống, làm việc tốt, sinh hoạt giải trí chất lượng cao và có cơ hội đầu tư thuận lợi[7]. Theo đó, Chính phủ đã xác định các chỉ tiêu phát triển đô thị; định hướng tổ chức phát triển không gian; định hướng phát triển các khu chức năng chính; định hướng phát triển hạ tầng kỹ thuật; định hướng bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử và thiên nhiên… Sau thời gian hợp nhất giữa Hà Nội và một số địa phương đã đặt ra yêu cầu về những chủ trương mới cho lãnh đạo phát triển Thủ đô. Ngày 06/01/2012, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 11-NQ/TW về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020”, xác định: “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội xứng đáng với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước; có kinh tế - xã hội phát triển toàn diện, bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Phấn đấu để Hà Nội thực sự là địa phương đi đầu, về đích sớm 1 - 2 năm sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; đóng góp ngày càng quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[8]. Quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị, ngày 22/02/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 222/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, chỉ rõ 05 quan điểm phát triển; xác định mục tiêu dài hạn - tầm nhìn đến năm 2050; đề ra mục tiêu đến năm 2030: Hà Nội là Thủ đô - đầu não chính trị - hành chính quốc gia; giàu, đẹp, xanh, văn minh, văn hiến, thanh lịch, hiện đại, dân tộc, tiêu biểu cho cả nước; trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục - đào tạo, y tế, du lịch, thể thao và giao dịch quốc tế của cả nước; đi đầu trong nhiều lĩnh vực - là đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước, người dân có điều kiện sống tốt (thu nhập cao hơn mức trung bình của cả nước, được hưởng các dịch vụ chất lượng cao, môi trường làm việc và đầu tư đạt tiêu chuẩn quốc tế, thân thiện, an toàn)[9]. Từ đó, đưa ra định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực và đề ra các nhóm giải pháp thực hiện.

Để tăng cường cơ sở pháp lý trong xây dựng, phát triển Thủ đô, ngày 21/11/2012, tại Kỳ họp thứ tư Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XIII đã ban hành “Luật Thủ đô” (số 25/2012/QH13, có hiệu lực từ ngày 01/7/2013) để thay thế Pháp lệnh số 29/2000/PL-UBTVQH ngày 28/12/2000 về “Thủ đô Hà Nội”. Đây là văn bản pháp lý quan trọng quy định vị trí, vai trò, trách nhiệm và chính sách xây dựng, phát triển Thủ đô. Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc Đổi mới và thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị, Luật Thủ đô, các nghị quyết của Quốc hội và quyết định của Thủ tướng Chính phủ, bộ mặt kinh tế - xã hội của Thủ đô đã có rất nhiều thay đổi, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, xứng đáng là “Trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước”[10]. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhiều vấn đề phức tạp, vướng mắc nảy sinh trong quá trình phát triển Thủ đô chưa được giải quyết căn cơ; năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan, ngành, lĩnh vực… chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; đồng thời, luôn phải đối mặt với các nguy cơ về thiên tai, sự cố, dịch bệnh và sự chống phá mạnh mẽ của các thế lực thù địch. Trong điều kiện tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là tác động của đại dịch Covid-19 đã đặt ra không ít thách thức cho quá trình xây dựng, phát triển Thủ đô. Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về “Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn”[11]. Chiến lược phát triển đô thị quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về “Quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”…, ngày 05/5/2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết nêu rõ 04 quan điểm: Một là, thống nhất cao trong nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng đặc biệt và yêu cầu, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; tạo bước chuyển có tính đột phá trong huy động sức mạnh tổng hợp, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của Thủ đô, kết hợp với nguồn lực của cả nước và nguồn lực quốc tế, xây dựng và phát triển Thủ đô. Hai là, phát triển Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” là nhiệm vụ chính trị quan trọng đặc biệt trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “Cả nước vì Hà Nội, Hà Nội vì cả nước”; là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị; là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội. Ba là, tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế phát triển Thủ đô toàn diện, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế; kết hợp hài hòa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa giữ gìn bản sắc văn hóa với phát triển kinh tế và giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, trong đó văn hóa, con người vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng, nguồn lực, động lực để phát triển Thủ đô. Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị của Thủ đô Hà Nội thực sự gương mẫu, đoàn kết, trong sạch, vững mạnh toàn diện, tiêu biểu; xây dựng đội ngũ cán bộ Hà Nội có trình độ cao, có phẩm chất đạo đức trong sáng, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ là nhân tố có ý nghĩa quyết định; xây dựng người Hà Nội hào hoa, thanh lịch, nghĩa tình, văn minh, tiêu biểu cho văn hóa, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam.

Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2030: Thủ đô Hà Nội là thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”; trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức cạnh tranh cao với khu vực và thế giới, phấn đấu phát triển ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 cao hơn mức tăng bình quân chung của cả nước; GRDP giai đoạn 2026 - 2030 tăng 8,0 - 8,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt 12.000 - 13.000 USD. Tầm nhìn đến năm 2045: Thủ đô Hà Nội là thành phố kết nối toàn cầu, có mức sống và chất lượng cuộc sống cao, với GRDP/người đạt trên 36.000 USD; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, đặc sắc và hài hòa; tiêu biểu cho cả nước; có trình độ phát triển ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới[12]. Để đạt được những mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đề ra 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Sau khi Nghị quyết được ban hành, ngày 07/02/2023, Chính phủ ra Nghị quyết số 12/NQ-CP ban hành “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, chỉ rõ mục đích việc xây dựng và thực hiện Chương trình phải bảo đảm đạt các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể mà Nghị quyết số 15-NQ/TW đã đề ra; đồng thời, yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần cụ thể hóa và thực hiện tốt 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cơ bản. Tiếp đó, ngày 16/6/2023, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 700/QĐ-TTg phê duyệt “Nhiệm vụ điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065”, xác định phạm vi ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội với 30 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 12 quận, 17 huyện, 01 thị xã); quy mô lập quy hoạch khoảng 3.359,84 km2; thời gian quy hoạch: Ngắn hạn đến năm 2030, dài hạn đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065. Để kịp thời thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển Thủ đô theo Nghị quyết số 15-NQ/TW; khắc phục những tồn tại, hạn chế cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quy định và thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, đột phá, huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của Thủ đô, đến nay dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã hoàn thiện, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV.

Phát triển Thủ đô Hà Nội “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” là nhiệm vụ chính trị quan trọng đặc biệt trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, phải có quyết tâm chính trị cao với lộ trình, bước đi và cách làm phù hợp; đồng thời, phải có sự chung tay góp sức của tất cả các lực lượng có liên quan, trước hết là sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội.

Trung tướng, PGS.TS. Nguyễn Văn Bạo

Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 55, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 595

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 57, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 108.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 59, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 240.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 59, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2015, tr. 241.

[5] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh số 29/2000/PL-UBTVQH10, ngày 28/12/2000 về Thủ đô Hà Nội, tr. 1.

[6] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1081/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/7/2011 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, tr. 1.

[7] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1259/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26/7/2011 phê duyệt “Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, tr. 1.

[8] Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 06/01/2012 về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020”, tr. 3.

[9] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 222/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/02/2012, phê duyệt “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, tr. 1.

[10] Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 5/5/2022 về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2045”, tr. 1.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 254.

[12] Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 05/5/2022 về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2045”, tr. 3 - 4.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Tăng cường công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đấu giá tài sản

Đây là 01 trong 05 chính sách được đề xuất tại phiên họp Hội đồng thẩm định chính sách Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (chính sách Luật) do Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Quốc Hoàn chủ trì ngày 16/4. Tham dự phiên họp có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường… cùng đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số

Hoàn thiện cơ chế tiếp cận thông tin, thích ứng với công cuộc chuyển đổi số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước ngày càng cao, việc sửa đổi Luật Tiếp cận thông tin đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đại biểu Quốc hội. Nhiều ý kiến tại nghị trường sáng ngày 12/4 đã tập trung làm rõ những vấn đề cốt lõi như bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số gắn với chất lượng dữ liệu, cũng như hoàn thiện quy trình cung cấp thông tin theo hướng minh bạch, thuận lợi và giảm thiểu thủ tục hành chính.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) thiết lập thể chế mới theo hướng "Hà Nội quyết, Hà Nội làm, Hà Nội chịu trách nhiệm"

Bộ trưởng Bộ Tư pháp: Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) thiết lập thể chế mới theo hướng "Hà Nội quyết, Hà Nội làm, Hà Nội chịu trách nhiệm"

Tại phiên thảo luận sáng 12/4, sau khi nghe ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội về Dự án Luật Thủ đô (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng giải trình, làm rõ thêm ý kiến đại biểu nêu. Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật Thủ đô là một bước tiến mang tính lịch sử nhằm thiết lập mô hình thể chế phát triển mới, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo và quản trị phát triển. Quan điểm xuyên suốt được quán triệt là trao quyền mạnh hơn, phân cấp phân quyền triệt để và trách nhiệm giải trình rõ ràng, gắn với phương châm "Hà Nội quyết, Hà Nội làm, Hà Nội chịu trách nhiệm".
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng: Tiếp thu nghiêm túc các góp ý để hoàn thiện tốt nhất 3 dự án luật về hộ tịch, công chứng, trợ giúp pháp lý

Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng: Tiếp thu nghiêm túc các góp ý để hoàn thiện tốt nhất 3 dự án luật về hộ tịch, công chứng, trợ giúp pháp lý

Cuối phiên thảo luận tại hội trường sáng ngày 11/4, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng giải trình trước Quốc hội một số nội dung các đại biểu quan tâm về 03 dự án luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, gồm: Luật Hộ tịch (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Bộ trưởng khẳng định, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu nghiêm túc các ý kiến đóng góp để hoàn thiện các dự án luật với chất lượng tốt nhất trước khi trình Quốc hội thông qua.

Theo dõi chúng tôi trên: