Chủ nhật 14/06/2026 17:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự

Tóm tắt: Xét dưới góc độ nhân quyền, thì quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự phải được ghi nhận và bảo vệ đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác

Tóm tắt: Xét dưới góc độ nhân quyền, thì quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự phải được ghi nhận và bảo vệ đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp. Bài viết này khái quát chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền của phụ nữ trong tư pháp hình sự.

Abstract: From the aspect of human rights, human rights of women in the criminal justice area should be fully acknowledged and protected by law and the correct executive implementation and the justice maximum guaranty. This paper generalizes international standard on guaranty of women rights in the criminal justice.

1. Bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự

Bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự là một nội dung quan trọng trong luật nhân quyền quốc tế và được thể hiện trong nhiều văn kiện pháp lý như: Hiến chương Liên Hợp quốc (1945); Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948); Công ước về các quyền chính trị của phụ nữ (1952); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) (ICCPR); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (1979) (CEDAW); Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT, 1984); Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng tại châu Phi...

Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người[1]. Luật Nhân quyền quốc tế khẳng định, các quyền cơ bản của con người là các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Phụ nữ với tư cách là con người có tất cả những quyền được thừa nhận cho mọi cá nhân trên toàn thế giới, đặc thù giới không làm mất đi bất kỳ một quyền con người cơ bản nào của phụ nữ[2]… Trong cuốn Bách khoa toàn thư thế giới về phụ nữ: Những vấn đề và tri thức toàn cầu về phụ nữ[3] được xuất bản năm 2000, tập thể nhóm tác giả Charlotte Bunch và Samantha Frost trong phần viết “Giới thiệu về các quyền con người của phụ nữ” đã chỉ ra: Quyền con người của phụ nữ là một thuật ngữ để chỉ các quyền của phụ nữ với tư cách là một con người và được xem xét thông qua lăng kính giới. Theo đó, quyền con người của phụ nữ được xem là tất cả các quyền con người mà nhân loại tiến bộ thừa nhận và có thêm những quyền mang đặc thù giới nữ[4]. Rõ ràng, khái niệm quyền con người của phụ nữ là một khái niệm vừa tổng hợp lại vừa đặc thù, là một tập hợp quyền thống nhất, không thể chia cắt, không thể chuyển nhượng và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau: “Quyền con người của phụ nữ là những đặc quyền vốn có của một con người như nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực được thừa nhận bao gồm cả đặc thù giới và được bảo hộ bằng pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế”.

Tư pháp hình sự được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu ở các góc độ và cách tiếp cận khác nhau, mỗi quốc gia cũng có quan niệm không giống nhau về các nội dung của tư pháp hình sự như quyền, chủ thể thực thi quyền và hoạt động tư pháp hình sự. Sự khác nhau này được lý giải từ sự khác nhau về bản chất, mục đích, đặc điểm quyền lực nhà nước và khác nhau từ yếu tố lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước… Tiếp cận dưới góc độ quyền theo khoản 1 Điều III của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì: “Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa Tối cao và những Tòa án cấp dưới mà Nghị viện có thể thiết lập trong một số trường hợp”. Trong khi đó, thể chế hiện hành của Trung Quốc quy định quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử và quyền kiểm sát, cơ quan tư pháp gồm Tòa án và Viện kiểm sát[5]. Cuốn Các hệ thống tư pháp hình sự so sánh (Comparative Criminal Justice Systems- 2nd Edition), tiếp cận dưới góc độ chủ thể, tác giả Erika Fairchild và Harry R. Dammer đã đưa ra khái niệm: “Hệ thống tư pháp hình sự là bao gồm các cá nhân và cơ quan thực hiện các chức năng tư pháp hình sự, có 03 bộ phận chính của hệ thống tư pháp hình sự là cảnh sát, toà án và các hình phạt”[6]. Luật hình sự Pháp quy định: “Hệ thống tư pháp hình sự Pháp được điều chỉnh bởi 02 văn bản quy phạm pháp luật chính là Bộ luật Hình sự (1994) và Luật Tố tụng hình sự (1959). Bộ luật Hình sự xác định các loại tội phạm và hình thức xử phạt thích hợp, Luật Tố tụng hình sự quy định, hướng dẫn điều tra, xét xử 1 người vi phạm pháp luật hình sự”[7]. Từ những minh chứng trên cho thấy, nói đến tư pháp hình sự là đề cập đến hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm[8] hay nói cách khác là các công việc của cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến giải quyết các vụ án hình sự nhằm đảm bảo tính khách quan, đúng đắn theo pháp luật. Như vậy, có thể rút ra kết luận về khái niệm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là những đặc quyền vốn có của người phụ nữ cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt khi người phụ nữ phải đối mặt với các thủ tục tố tụng hình sự của bộ máy quyền lực nhà nước.

Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự bằng nhiều phương thức và biện pháp khác nhau, trong đó bảo vệ bằng các quy định pháp luật cũng như đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế là quan trọng nhất: “Đảm bảo quyền con người trong tư pháp hình sự là sự vận hành của các yếu tố khách quan nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bảo vệ và thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”[9]. Vì lẽ đó, trong thực tiễn pháp lý, “bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự” được hiểu là các hoạt động giữ gìn, bảo vệ cho phụ nữ khỏi những xâm hại tiêu cực gây tổn thương các quyền con người của phụ nữ, giúp họ tránh các nguy cơ, rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tham gia tố tụng; chủ thể được bảo vệ ở đây được hiểu ở cả hai góc độ nạn nhân và không phải là nạn nhân.

Cùng với khái niệm quyền con người của phụ nữ và quyền con người trong tư pháp hình sự đã được xác định ở trên, có thể tổng hợp một cách đầy đủ về nội hàm khái niệm bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là việc sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp nhằm bảo vệ và chống lại sự xâm hại đối với những đặc quyền vốn có của một người phụ nữ như nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực được thừa nhận cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt, được bảo hộ bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự (pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự và pháp luật về tổ chức các cơ quan tư pháp hình sự) khi cá nhân đó phải đối mặt với các thủ tục tố tụng hình sự của bộ máy quyền lực nhà nước.

Tóm lại, đảm bảo quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là việc đảm bảo các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho việc thực hiện các quyền con người của phụ nữ khi mà họ phải đối mặt với những thủ tục tố tụng hình sự của bộ máy quyền lực nhà nước do có liên quan đến một hành vi có dấu hiệu phạm tội được quy định trong pháp luật hình sự quốc gia hay quốc tế.

2. Quan điểm và cơ chế đảm bảo quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự theo quy định của pháp luật quốc tế

Về mặt quan điểm, cộng đồng quốc tế luôn coi quyền con người, trong đó có phụ nữ là giá trị chung của toàn nhân loại. Quan điểm này cũng được gián tiếp phản ánh trong hệ thống văn kiện pháp lý về quyền con người do Liên Hợp quốc và các tổ chức liên chính phủ khác thông qua, thể hiện ở việc xác định tính phổ biến của quyền con người, là bẩm sinh, vốn có và được áp dụng bình đẳng không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì như chủng tộc, tôn giáo, giới tính, độ tuổi[10]... Cộng đồng quốc tế kêu gọi hủy bỏ những điều luật phân biệt đối xử và đảm bảo phụ nữ được bình đẳng khi thực hiện các thủ tục tư pháp, chú ý bảo vệ các quyền con người mang đặc thù giới. Điều 1 Hiến chương của Liên Hợp quốc quy định rằng, một trong những mục đích của Liên Hợp quốc là để thúc đẩy tôn trọng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của tất cả mọi người “không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Quy định cấm phân biệt đối xử dựa trên giới tính được nhắc lại ở Điều 13 Hiến chương và Điều 55 (thúc đẩy các quyền con người nói chung). Tuyên bố của Liên Hợp quốc về “Xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ” được các chính phủ thông qua trong phiên họp Đại hội đồng năm 1993 đã khẳng định: “Bất kỳ hành vi bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến tổn hại về mặt thể chất, tình dục hoặc tâm lý cho phụ nữ, bao gồm cả những mối đe doạ của các hành vi như vậy, cưỡng chế hoặc tùy tiện tước đoạt tự do, cho dù xảy ra trong đời sống công cộng hay trong đời sống cá nhân”. Pháp luật quốc tế còn đòi hỏi chế độ bảo hộ đặc biệt với thiên chức làm mẹ của phụ nữ thông qua việc yêu cầu loại bỏ thi hành hình phạt tử hình đối với phụ nữ mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ trong pháp luật hình sự quốc gia: “Không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ đang mang thai” (khoản 5 Điều 6 ICCPR). Luật Nhân quyền quốc tế đề nghị các quốc gia tôn trọng, bảo vệ, thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn đảm bảo nhân quyền cho công dân của mình và cam kết thực hiện các nguyên tắc được thiết lập ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong lịch sử, các quy định cũng đã đề ra những nguyên tắc và sự giám sát hành động của các cơ quan của nhà nước có thẩm quyền phán quyết dựa trên mệnh lệnh và phục tùng như giết, tra tấn và giam giữ. Nghĩa vụ của Nhà nước là tôn trọng các quyền con người, bao gồm cả quyền của phụ nữ, kêu gọi trách nhiệm của các quốc gia kiềm chế không thực hiện bất kỳ hành động nào xâm phạm các quyền đó[11]. Hiện nay, trách nhiệm của các quốc gia đã được nhận thức rõ ràng trong việc bảo vệ và thực hiện đầy đủ các quyền con người, bảo vệ phụ nữ khỏi những đe dọa xâm hại.

Về cơ chế bảo đảm, Điều 3 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ quy định: “Các quốc gia thành viên Công ước phải thi hành mọi biện pháp thích hợp, kể cả biện pháp pháp lý… để đảm bảo sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ, nhằm mục đích bảo đảm cho họ có thể thực hiện và được hưởng các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng nam nữ”. Bên cạnh đó, Điều 4 Công ước này khẳng định rằng, ngay cả khi phụ nữ đã được ghi nhận sự bình đẳng về mặt pháp lý, điều đó cũng không đủ để đảm bảo họ sẽ được đối xử một cách bình đẳng trong thực tế. Để đảm bảo quyền của phụ nữ, các quốc gia thành viên được cho phép sử dụng những biện pháp xử lý đặc biệt để đảm bảo quyền đặc thù của phụ nữ. Như vậy, cộng đồng quốc tế đã vượt qua quan điểm hẹp về bình đẳng theo nghĩa thông thường và thiết lập những mục tiêu của riêng nó là bình đẳng về cơ hội và bình đẳng về kết quả. Các biện pháp đặc biệt tạm thời để chống lại sự phân biệt đối xử với phụ nữ được coi là cần thiết và hợp pháp để đạt được các mục tiêu này. Trong Khuyến nghị chung số 5 được thông qua tại Phiên họp lần thứ 7 (1988) của Ủy ban về xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ nêu rõ rằng: “Các quốc gia thành viên cần ban hành nhiều hơn các biện pháp đặc biệt tạm thời như là những hành động tích cực, sự đối xử ưu đãi hoặc hệ thống các chỉ tiêu để tăng cường việc bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ trong các lĩnh vực...”. Đối với việc bảo đảm quyền con người cho phụ nữ thì sử dụng biện pháp đối xử đặc biệt để bảo vệ chức năng làm mẹ là cách thức duy nhất để bảo đảm bình đẳng thực sự cho phụ nữ, luôn luôn là cần thiết và không bị xóa bỏ[12].

Mặc dù, Nhà nước có trách nhiệm trước tiên đối với việc bảo vệ quyền phụ nữ khi họ bị đe dọa hoặc tấn công, nhưng sự hiện diện của cộng đồng quốc tế cũng như Liên Hợp quốc cũng có trách nhiệm để hỗ trợ và bảo vệ họ theo nguyên tắc cơ bản về sự bảo mật, không gây hại và sự đồng ý của con người. Cộng đồng quốc tế đảm bảo thực thi quyền con người của phụ nữ thông qua bộ máy và cơ chế giám sát gồm có Hội đồng quyền con người, các ủy ban và các nhóm công tác chuyên biệt. Các cơ quan theo dõi việc thực thi là Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và Ủy ban về quyền con người xem xét giải quyết theo thẩm quyền đối với các khiếu nại cá nhân về những vi phạm bị cáo buộc, đồng thời giải quyết những vấn đề phân biệt[13]. Ủy ban phòng chống tra tấn là cơ quan giám sát Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác cũng thường xuyên xử lý những vấn đề của bạo lực chống lại phụ nữ và trẻ em gái. Các quốc gia tham gia phê chuẩn Công ước phải định kỳ báo cáo gửi tới các cơ quan này trong đó đưa ra những khuyến nghị về những giải pháp cần thiết để thực hiện nghĩa vụ theo quy định.

Hội đồng quyền con người là một cơ quan liên chính phủ của Liên Hợp quốc để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Với 47 nước thành viên được bầu bởi Đại hội đồng, Hội đồng quyền con người đã thường xuyên thực hiện những chỉ đạo đặc biệt về quyền của phụ nữ và quan tâm đến khía cạnh giới từ khi được thành lập năm 2006. Cũng có nhiều giải pháp được ban hành bởi Hội đồng và cơ quan tiền nhiệm trước nó là Ủy ban về quyền con người kêu gọi các quốc gia thực hiện trách nhiệm của mình đối với quyền của phụ nữ. Những thảo luận và giải pháp là quan trọng để giữ vấn đề quyền của phụ nữ trong chương trình nghị sự quốc tế. Nhóm công tác về những vấn đề phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trong luật và thực tiễn. Những thủ tục khác cũng được đưa ra trong hoạt động của Hội đồng nhằm thực hiện các quyền của phụ nữ và giới, cụ thể là triển khai những nghiên cứu liên quan đến phụ nữ và các quyền con người đặc thù, đảm bảo sự quan tâm đến các quyền của phụ nữ ở các quốc gia thành viên và thảo luận với các Chính phủ về những trường hợp đặc biệt vi phạm quyền con người của phụ nữ bị cáo buộc.

Như vậy, đảm bảo quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là việc đảm bảo các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho việc thực hiện các đặc quyền vốn có của một con người như nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực được thừa nhận và được bảo hộ khi mà người phụ nữ phải đối mặt với những thủ tục tố tụng hình sự của bộ máy quyền lực nhà nước do đã thực hiện một hành vi có dấu hiệu phạm tội được quy định trong pháp luật hình sự quốc gia hay quốc tế. Bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng. Vì vậy, quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự phải được ghi nhận và bảo vệ đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp. Điều đó thể hiện ở các quy định của pháp luật hình sự phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc tế, được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như những người có chức vụ của các cơ quan này trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, tạo lòng tin của công dân vào sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng của pháp luật.

ThS. Hoàng Hương Thủy

Học viện Phụ nữ Việt Nam







[1]. United Nations, Human Rights: Question and Answers, New York and Geneva, 2006, p.4.

[2]. Xem Trần Thị Hồng Lê, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, 2016.

[3]. Charlotte Bunch and Samantha Frost (2000), Inter International Encyclopedia of Women: Global Women’s Issues and Knowledge, “Women’s human rights: An introduction”, Routledge, 2000, p.15.

[4]. Xem Trần Thị Hồng Lê, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, 2016.

[5]. Xem ThS. Nguyễn Thị Thủy, Tư pháp hình sự và yêu cầu tăng cường kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 150 tháng 7/2009, tr.26.

[6]. Erika Fairchild, Harry R. Dammer, 2001, Comparative Criminal Justice Systems- 2nd ed, Wadsworth Thomson Learning, United States Printed, p.5.

[7]. Richard J. Terill, 2016, World Criminal Justice Systems: A comparative Survey-9th-ed, Routledge, ÕX14 4RN, p.177.

[8]. Xem Lê Văn Cảm, 2009, Hệ thống Tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.106.

[9]. Xem PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên), 2015, Sách chuyên khảo: Quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp hình sự, Nxb. Hồng Đức.

[10]. Xem Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, 2009, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.540-541.

[11]. Sheila Dauer, “Hữu hình và vô hình: Các quyền con người của phụ nữ trong khu vực cộng cộng và tư nhân”, xem trong Các quyền con người, giới và phụ nữ: Quan điểm toàn cầu, Marjorie Agosin.

[12]. Xem Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) (2010), Quyền con người (Tập tài liệu chuyên đề của Liên Hợp quốc), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[13]. Để thêm thông tin về hệ thống điều ước về quyền con người, xem OHCHR, Fact Sheet số 30: Hệ thống điều ước của Liên Hợp quốc về quyền con người and OHCHR, Fact Sheet số 7: Thủ tục khiếu nại cá nhân theo các điều ước về nhân quyền của Liên Hợp quốc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: