Chủ nhật 15/03/2026 08:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuyển đổi số hoạt động công chứng - Những vấn đề pháp lý đặt ra cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công chứng

“Công chứng số” được sử dụng phổ biến hiện nay giống như sự kết hợp giữa số hóa dữ liệu và số hóa quy trình trong hoạt động công chứng, bao gồm việc chuyển đổi các dữ liệu bằng văn bản sang dạng số và sử dụng một số thiết bị, công nghệ kỹ thuật số để thực hiện hoạt động công chứng, nó cũng bao gồm cả hoạt động công chứng trực tuyến, chứng nhận các văn bản điện tử bằng cách sử dụng con dấu, chữ ký, chứng chỉ xác thực điện tử.

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số khái niệm, nêu lên tính tất yếu của chuyển đổi số hoạt động công chứng tại Việt Nam; những mục tiêu cơ bản khi chuyển đổi số hoạt động công chứng và đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng để thực hiện chuyển đổi số hoạt động công chứng trong thời gian tới.

Abstract: The article analyzes a number of concepts, stating the inevitability of digital transformation of notarization activities in Vietnam; basic objectives when digitalizing notarization activities and making some recommendations to amend and supplement the Law on Notarization to carry out digital transformation of notarization activities in the near future.

1. Tổng quan về chuyển đổi số hoạt động công chứng

1.1. Một số khái niệm

a) Chuyển đổi số và số hóa

Hiện nay, định nghĩa về chuyển đổi số chưa có chuẩn hóa, nhiều tổ chức, doanh nghiệp có các định nghĩa riêng của mình. Tuy nhiên, các định nghĩa đều có điểm chung về ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, thay đổi và chuyển đổi phương thức, mô hình, quy trình, nhằm tạo ra cơ hội, doanh thu, giá trị mới. Ở giai đoạn đầu khi mới xuất hiện, trong một số ngữ cảnh, “chuyển đổi số” bị nhầm lẫn với “số hóa”. Số hóa bao gồm số hóa dữ liệu và số hóa quy trình. Số hóa giúp việc tìm kiếm, lưu trữ, quản lý và chia sẻ thông tin trở nên dễ dàng hơn, nhưng cách thức mà các tổ chức, doanh nghiệp sử dụng các bản ghi kỹ thuật số được tạo ra phần lớn phục vụ cho phương pháp và quy trình làm việc cũ.

Có thể khái quát sự khác nhau dễ nhận biết nhất giữa “số hóa” và “chuyển đổi số” quy trình thực hiện. Số hóa là việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số vào quy trình làm việc truyền thống để tăng năng suất, còn chuyển đổi số là xây dựng một quy trình làm việc hoàn toàn mới dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số.

b) Công chứng điện tử, công chứng số và chuyển đổi số hoạt động công chứng

- “Công chứng điện tử” và “công chứng số”: Trong nhiều tài liệu phổ biến hiện nay thì thuật ngữ “công chứng điện tử” (E-Notary) và “công chứng số” (Digital Notary) được sử dụng như là một. Theo đó, nó được hiểu với ý nghĩa là việc công chứng viên chứng nhận tài liệu bằng phương thức điện tử. Một trong những phương thức thực hiện công chứng điện tử là sử dụng chữ ký số và con dấu số để chứng nhận và xác nhận tính hợp lệ bằng chứng thư số.

“Công chứng số” được sử dụng phổ biến hiện nay giống như sự kết hợp giữa số hóa dữ liệu và số hóa quy trình trong hoạt động công chứng, bao gồm việc chuyển đổi các dữ liệu bằng văn bản sang dạng số và sử dụng một số thiết bị, công nghệ kỹ thuật số để thực hiện hoạt động công chứng, nó cũng bao gồm cả hoạt động công chứng trực tuyến, chứng nhận các văn bản điện tử bằng cách sử dụng con dấu, chữ ký, chứng chỉ xác thực điện tử. Tùy vào điều kiện và đặc điểm của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà “công chứng số” được áp dụng ở những phạm vi, mức độ khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản, khi áp dụng “công chứng số”, hoạt động công chứng vẫn được thực hiện theo các quy trình truyền thống, việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số mang tính chất hỗ trợ cho các công đoạn hoặc công việc cụ thể trong quy trình đó để công việc trở nên đơn giản và dễ dàng thực hiện hơn.

- Chuyển đổi số hoạt động công chứng: Là sự thay đổi căn bản cách thức tổ chức, xây dựng, thực thi, quản lý các quy trình và hoạt động cung cấp dịch vụ công chứng dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số nhằm tạo ra giá trị và hiệu quả cao hơn.

Ví dụ: Việc gửi và nhận tài liệu dạng ảnh chụp qua zalo, facebook, messenger, email hoặc scan hồ sơ lưu trữ chính là hoạt động số hóa đang được áp dụng. Còn chuyển đổi số hoạt động công chứng là thực hiện hoạt động công chứng trên nền tảng công nghệ và dữ liệu số như: Công chứng trực tuyến, đối soát và xác thực bằng cơ sở dữ liệu; lữu trữ và trích xuất dữ liệu dạng số; chứng nhận văn bản định dạng số, sử dụng chữ ký số, con dấu số, quản lý toàn bộ quy trình tác nghiệp trên môi trường số, báo cáo, thống kê, thanh tra, kiểm tra và đề xuất xây dựng chính sách dựa trên hoạt động phân tích dữ liệu số.

1.2. Tính tất yếu của chuyển đổi số hoạt động công chứng tại Việt Nam

Một là, chuyển đổi số hoạt động công chứng để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong điều kiện vận hành nền kinh tế số. Chuyển đổi số đang được thực hiện toàn diện đối với mọi đối tượng, từ Chính phủ, doanh nghiệp đến mỗi cá nhân, từ đó đặt ra yêu cầu về sử dụng đồng bộ các loại hình dịch vụ trên nền tảng số. Cung cấp dịch vụ trên nền tảng số là việc tất yếu, đặc biệt là dịch vụ công. Khi xã hội vận hành dựa càng nhiều vào nền tảng số thì lĩnh vực công chứng cũng không thể đứng ngoài cuộc. Những sản phẩm của nền kinh tế số chính là nguyên liệu mà lĩnh vực công chứng bắt buộc phải sử dụng trong quá trình vận hành và tồn tại. Những đòi hỏi về tốc độ xử lý công việc, về sản phẩm đầu ra của hoạt động công chứng, về chi phí thực hiện dịch vụ cũng đặt ra những tiêu chuẩn mới, bắt buộc ngành công chứng phải vận động và thích nghi để đáp ứng, ví dụ, đòi hỏi về văn bản công chứng số, về xác minh, xác thực dữ liệu số, lưu trữ, đồng bộ dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu trên nền tảng số, công chứng từ xa… Chỉ có chuyển đổi số mới tạo ra những thay đổi mang tính chất đột phá về phương pháp, về quy trình làm việc để đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của xã hội khi vận hành nền kinh tế số.

Hai là, chuyển đổi số hoạt động công chứng để đáp ứng yêu cầu và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số dịch vụ công. Chuyển đổi số đối với dịch vụ công là nhiệm vụ trọng tâm được nhắc tới trong hầu như tất cả các văn kiện, văn bản của Đảng và Chính phủ liên quan đến xây dựng Chính phủ điện tử và chuyển đổi số quốc gia.

Đề án Cổng Dịch vụ công Quốc gia chính thức được phê duyệt theo Quyết định số 274/QĐ-TTg ngày 12/3/2019 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 01/7/2020, Cổng Dịch vụ công Quốc gia chính thức tích hợp dịch vụ chứng thực bản sao điện tử từ bản chính, tuân thủ các quy định tại Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP). Tính đến thời điểm hiện tại, đã có khoảng 3.000 dịch vụ công được tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Đặc biệt, các dịch vụ công liên quan đến hoạt động chứng thực theo quy định của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP áp dụng cho cơ quan tư pháp cấp quận, huyện và xã, phường, trị trấn đã được tích hợp đầy đủ.

Theo Luật Công chứng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Luật Công chứng), thì công chứng là một dịch vụ công thiết yếu trong lĩnh vực tư pháp. Sản phẩm, kết quả của hoạt động công chứng có liên quan chặt chẽ đến nhiều dịch vụ hành chính công và dịch vụ công khác. Công chứng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các dịch vụ công mà Nhà nước bảo đảm cung cấp cho công dân, do vậy, cần có sự đồng bộ về hành lang pháp lý, nền tảng kỹ thuật và cách thức cung cấp dịch vụ. Khi hầu hết các dịch vụ công được chuyển đổi số thì việc chuyển đổi số đối với dịch vụ công chứng là điều tất yếu cần thực hiện.

Ba là, chuyển đổi số hoạt động công chứng đáp ứng đòi hỏi về hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng. Ưu điểm rất lớn khi làm việc trên nền tảng số là khả năng xử lý thông tin, tổng hợp, báo cáo và rà soát thông tin được thực hiện với độ chính xác và tốc độ cực nhanh. Chỉ có chuyển đổi số hoạt động công chứng mới giúp cho cơ quan quản lý có được số liệu đầy đủ nhất, theo dõi sát nhất mọi hoạt động của các đối tượng cần quản lý vào bất kỳ thời điểm nào mà không mất quá nhiều công sức cho việc yêu cầu lập báo cáo, thống kê và rà soát dữ liệu. Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần phải được thực hiện từ xa đối với bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng, công chứng viên, hay bất cứ giao dịch công chứng nào vào bất kỳ thời điểm nào. Hiệu quả của việc áp dụng chính sách và biện pháp quản lý cần được đánh giá theo định kỳ hoặc vào thời điểm bất kỳ thông qua các công cụ phân tích dữ liệu số.

Bốn là, chuyển đổi số hoạt động công chứng để đáp ứng các yêu cầu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tư pháp. Trong điều kiện các nước trong khu vực và thế giới đều đồng loạt thực hiện chuyển đổi số thì các văn bản, dữ liệu pháp lý dưới dạng số được sử dụng ngày càng rộng rãi thay cho các văn bản giấy thủ công. Cách thức sử dụng, xác thực các văn bản điện tử khác rất nhiều so với văn bản giấy. Công nhận giá trị pháp lý và chấp nhận cách thức sử dụng các loại văn bản điện tử là đòi hỏi tất yếu và mở ra cơ hội rất lớn để Việt Nam hội nhập với quốc tế trong lĩnh vực tư pháp, loại bỏ rất nhiều thủ tục rườm rà mà các tổ chức, cá nhân phải thực hiện trong quá trình thực hiện các thủ tục pháp lý có yếu tố nước ngoài. Ngược lại, chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp nói chung và công chứng nói riêng cũng giúp cho việc xác thực, công nhận và sử dụng các văn bản pháp lý của Việt Nam tại nước ngoài được dễ dàng, thuận tiện hơn.

1.3. Những mục tiêu cơ bản khi chuyển đổi số hoạt động công chứng

Một là, bảo đảm thực thi có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ cơ bản của công chứng: Ở mỗi quốc gia, công chứng được quy định thực hiện các chức năng, nhiệm vụ không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, những nhiệm vụ cơ bản, mang tính chất đặc trưng chung của hoạt động công chứng là: (i) Làm chứng; (ii) Tạo lập chứng cứ; (iii) Lưu giữ, cung cấp chứng cứ. Thông qua ba nhiệm vụ này, công chứng được coi là thực hiện chức năng ngăn ngừa rủi ro pháp lý cho các tổ chức, cá nhân, Nhà nước và các chủ thể có liên quan khác, góp phần duy trì trật tự và bảo đảm những lợi ích chung của xã hội.

Mục đích quan trọng nhất khi chuyển đổi số hoạt động công chứng là phải bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ cơ bản của công chứng, tận dụng sức mạnh của công nghệ kỹ thuật số để phát huy rõ nét hơn vai trò của công chứng, đáp ứng các yêu cầu của xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập về khoa học công nghệ.

Hai là, hiệu quả trong quá trình hành nghề của công chứng viên: Công nghệ số sinh ra là để tối ưu hóa quá trình tiếp nhận, trao đổi, xử lý và lưu trữ thông tin trong hoạt động công chứng, tạo ra những hiệu quả đột phá như: Giúp cho mọi quá trình xử lý thông tin được diễn ra gần như ngay tức thì, rút ngắn thời gian giải quyết công việc; loại bỏ những rào cản về khoảng cách địa lý; nâng cao độ chính xác, giảm thiểu nhầm lẫn đối với những công việc mang tính chất lặp đi lặp lại; đa dạng hóa hình thức cung cấp dịch vụ (cả trực tiếp và trực tuyến).

Nghiên cứu quy trình tác nghiệp của công chứng viên hiện nay theo quy định của Luật Công chứng (Điều 40, Điều 41), có thể nhận thấy rằng, nếu công chứng viên làm đúng và đủ theo quy trình thì sẽ tốn khá nhiều thời gian. Để có thể giải quyết được khối lượng công việc lớn hơn, các công chứng viên phải ưu tiên những công đoạn quan trọng (ví dụ: Chứng kiến các bên ký hồ sơ, giải thích hậu quả pháp lý cho các bên, ký phát hành hồ sơ), còn lại một số công đoạn buộc phải giao lại cho các thư ký thực hiện (ví dụ: Tiếp nhận yêu cầu công chứng, giải thích, tư vấn hoàn thiện hồ sơ, thậm chí là phân tích nội dung hồ sơ, tra cứu, đối chiếu thông tin…). Nếu làm theo cách này, thực chất là quy trình công chứng chưa được tuân thủ đầy đủ và chặt chẽ, chất lượng hoạt động công chứng có thể bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, nếu công chứng viên không giải quyết được một khối lượng hồ sơ nhiều hơn thì rất khó bảo đảm về mặt doanh thu để Văn phòng Công chứng tồn tại.

Để có thể tối ưu hóa quy trình xử lý hồ sơ công chứng, nhiều biện pháp về công nghệ đã được các văn phòng áp dụng như tư vấn, tiếp nhận hồ sơ qua điện thoại, zalo, email…, sử dụng một số phần mềm tra cứu văn bản pháp luật, sử dụng cơ sở dữ liệu, phầm mềm soạn thảo hợp đồng… Tuy nhiên, ngay cả các biện pháp này nếu đối chiếu với quy định của Luật Công chứng vẫn còn những điểm chưa phù hợp. Mặt khác, năng lực ứng dụng công nghệ của các tổ chức hành nghề công chứng cũng như điều kiện của cơ quan quản lý tại mỗi địa phương là không giống nhau, nhìn chung còn hạn chế (ví dụ: Hiện nay, có địa phương, việc cập nhật và tra cứu dữ liệu công chứng hoàn toàn là thủ công bằng sổ sách, giấy tờ với một kho dữ liệu “khổng lồ” được lưu từ năm 1998; có những giao dịch công chứng mà việc tra cứu dữ liệu phải mất vài ngày). Như vậy, việc thay đổi quy trình, tăng hiệu suất xử lý công việc, bảo đảm chất lượng xử lý công việc là điều cần hướng tới và cần phải đạt được khi chuyển đổi số.

Ba là, giá trị mang lại cho công dân và cộng đồng: Đối với người dân, cơ quan, tổ chức, nhu cầu sử dụng dịch vụ công chứng tập trung chủ yếu vào việc tạo lập chứng cứ: Yêu cầu chứng nhận các giao dịch dân sự, bản dịch, bản sao văn bản, giấy tờ. Thay vì phải trực tiếp đến tổ chức hành nghề công chứng và thực hiện nhiều thủ tục mang tính chất thủ công, công chứng số giúp cho người yêu cầu công chứng có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật số để yêu cầu cung cấp dịch vụ. Công chứng viên có thể xử lý từ xa hầu hết các công đoạn trong quy trình công chứng, hạn chế đến mức tối thiểu việc người yêu cầu công chứng phải đi lại, chờ đợi tiến hành các thủ tục công chứng. Công chứng viên cũng có thể tiến hành hoạt động công chứng trực tuyến đối với một số loại giao dịch. Ngoài ra, việc công nhận giá trị của văn bản điện tử, chứng nhận các văn bản điện tử sẽ là một bước đột phá trong hoạt động công chứng để đáp ứng tối đa nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức.

Công chứng số sẽ thay đổi hoàn toàn phương thức lưu trữ và xác thực chứng cứ. Người yêu cầu công chứng thậm chí không cần phải lưu giữ văn bản giấy đối với những giao dịch mà mình đã ký kết. Họ có thể xác thực sự tồn tại của giao dịch đó từ bất cứ đâu thông qua công nghệ số. Kết quả mà công chứng số đem lại là sự tiện lợi cho người dân, rút ngắn thời gian thực hiện dịch vụ và giảm đáng kể chi phí so với công chứng truyền thống.

Bốn là, ngăn chặn hiệu quả các hành vi gian lận và giả mạo trong hoạt động công chứng: Công chứng số hoạt động trên nền tảng dữ liệu lớn. Cơ sở dữ liệu chính là công cụ quan trọng để tra soát, đối soát, xác thực thông tin, giúp ngăn chặn hiệu quả các hành vi gian lận và giả mạo trong hoạt động công chứng. Các hành vi sau đây sẽ bị đẩy lùi hoặc chặn đứng hoàn toàn: Ký khống văn bản công chứng; làm giả văn bản công chứng; giả mạo nhân thân người tham gia giao dịch; công chứng khi không có hồ sơ, thiếu hồ sơ, hồ sơ bị sai lệch tại thời điểm công chứng; tài sản bị giao dịch nhiều lần; phát hành văn bản công chứng mà không lưu hồ sơ; đánh tráo, giả mạo hồ sơ lưu trữ; đính chính văn bản công chứng sai quy định; mất, thất lạc, hư hại hồ sơ lưu trữ. Ngoài ra, tùy vào mức độ kết nối và tích hợp dữ liệu với các cơ quan quản lý ngành, công chứng viên có thể giảm thiểu hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng giả mạo giấy tờ nhân thân, giấy tờ hộ tịch và giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản.

Cơ sở dữ liệu tập trung cho phép đánh giá rủi ro dựa trên việc theo dõi lịch sử giao dịch của người yêu cầu công chứng, đặc biệt là theo dõi các đối tượng từng lừa đảo, gian lận về công chứng tại Việt Nam trên phạm vi toàn cầu.

Năm là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng: Mục tiêu lớn của chiến lược chuyển đổi số quốc gia và xây dựng Chính phủ điện tử chính là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Xây dựng công chứng số tiến tới chuyển đổi số toàn diện thì mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về công chứng cho phép cơ quan quản lý có được nguồn thông tin đầy đủ, chi tiết và cập nhật nhất (đến từng phút, từng giây) về diễn biến hoạt động công chứng trên toàn hệ thống. Thay vì phải yêu cầu lập báo cáo, phải trực tiếp thu thập dữ liệu bằng phương pháp thủ công thì công tác thanh tra, kiểm tra có thể được thực hiện tức thời vào bất kỳ thời điểm nào. Hoạt động quản lý nhà nước có thể được tự động hóa ở nhiều khâu nhờ vào công nghệ phân tích dữ liệu hiện đại và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng tập trung là một trong những công đoạn đầu tiên của quá trình chuyển đổi số. Hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng có thể được tăng cường và phát huy hiệu quả sớm, ngay sau khi hoàn thành và vận hành cơ sở dữ liệu chứ không cần phải chờ đến thời điểm hoàn thành quá trình chuyển đổi số.

Sáu là, tạo ra các tiền đề và cơ sở để hội nhập quốc tế về công chứng: Chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Quá trình chuyển đổi quy trình tác nghiệp dựa trên những đặc điểm nhất định của công nghệ số và tạo ra sự tương đồng về phương pháp cũng như những tiêu chuẩn nhất định cho mỗi ngành nghề, lĩnh vực. Đối với hoạt động tư pháp nói chung và ngành công chứng nói riêng, hoạt động xác thực dữ liệu số ở các quốc gia đều cho phép thực hiện thông qua mạng internet, mang tính toàn cầu. Vì vậy, nếu có hành lang pháp lý phù hợp, các quốc gia hoàn toàn có thể xác minh và công nhận giá trị pháp lý đối với văn bản được ban hành bởi quốc gia khác mà không cần phải thông qua thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự. Xa hơn, hoạt động công chứng có thể thực hiện xuyên biên giới bởi sự hợp tác, phối hợp của công chứng viên ở các quốc gia khác nhau. Mặc dù mục tiêu này cần có nhiều thời gian hơn để có thể thực hiện, nhưng ngay từ bây giờ, Việt Nam cần đặt ra và hướng tới để tạo tiền đề cho quá trình hội nhập quốc tế.

2. Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng để thực hiện chuyển đổi số hoạt động công chứng

Chuyển đổi số hoạt động công chứng đặt ra những yêu cầu thay đổi cơ bản trong hệ thống công chứng và cần được quy định rõ trong Luật Công chứng để tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ và phù hợp. Cụ thể, tác giả xin kiến nghị một số nội dung sau:

Thứ nhất, xác định rõ ràng và chính xác quy trình nghiệp vụ “công chứng” bao gồm các hoạt động cơ bản như: Làm chứng (chứng kiến và chứng nhận), tạo lập chứng cứ bằng văn bản, lưu giữ và cung cấp chứng cứ. Từ đó, việc chuyển đổi số nhằm hướng tới việc tối ưu hóa, hỗ trợ tốt nhất cho các hoạt động này.

Thứ hai, quy định về việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng tập trung có quy mô toàn quốc để lưu giữ toàn bộ hồ sơ công chứng có giá trị chứng cứ, lưu giữ hồ sơ, tài liệu khác liên quan đến hoạt động công chứng.

Thứ ba, quy định công nhận giá trị chứng cứ của văn bản công chứng số do công chứng viên chứng nhận, ký bằng chữ ký số và được lưu giữ tại cơ sở dữ liệu công chứng tập trung. Văn bản công chứng điện tử được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu công chứng tập trung có giá trị chứng cứ như văn bản giấy đã được các bên và công chứng viên ký, đóng dấu trực tiếp. Trong trường hợp có sự sai lệch giữa văn bản công chứng (bản giấy) do các bên lưu giữ và văn bản công chứng điện tử lưu trữ tại cơ sở dữ liệu công chứng tập trung thì ưu tiên áp dụng thi hành theo nội dung văn bản công chứng điện tử.

Thứ tư, quy định lại quy trình công chứng trực tiếp theo hướng cho phép tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng từ xa thông qua email, tin nhắn, website hoặc các phần mềm chuyên dụng; văn bản công chứng chỉ có hiệu lực sau khi đã được công chứng viên ký bằng chữ ký số, nộp đầy đủ về cơ sở dữ liệu công chứng tập trung (đăng ký giao dịch) và các bên tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch nhận được thông báo từ cơ sở dữ liệu công chứng tập trung khẳng định thời điểm có hiệu lực của giao dịch; cho phép nhiều hơn một công chứng viên chứng nhận một giao dịch trên nền tảng số để giảm thiểu việc đi lại cho người dân trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng không thể có mặt ở cùng một địa điểm.

Thứ năm, quy định cho phép áp dụng quy trình công chứng trực tuyến và các quy trình nghiệp vụ công chứng khác trên nền tảng cơ sở dữ liệu công chứng tập trung khi có đủ điều kiện (Chính phủ ban hành quy định chi tiết theo đề xuất của Bộ Tư pháp).

ThS. Đào Duy An

Văn phòng Công chứng Đào Duy An, Thành phố Hà Nội

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: