Thứ bảy 14/03/2026 20:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích và chỉ ra những điểm bất hợp lý của cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về bồi thường trong hoạt động công chứng ở nước ta.


Có thể nói, văn bản công chứng chính là sản phẩm lao động của công chứng viên (CCV), sản phẩm đó có đáp ứng yêu cầu của người yêu cầu công chứng, đáp ứng quy chuẩn theo quy định của pháp luật hay không phần lớn phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và trình độ cũng như mức độ tuân thủ pháp luật của CCV. CCV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với văn bản công chứng do mình chứng nhận. Tùy thuộc tính chất, mức độ vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức trong quá trình hành nghề mà CCV phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chịu chế tài xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng của một số quốc gia trên thế giới, chúng tôi nhận thấy, có hai cơ chế cơ bản thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước người yêu cầu công chứng do CCV gây ra:

- Cơ chế thứ nhất: CCV chịu trách nhiệm cá nhân và trực tiếp bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Cơ chế này được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của đa số các quốc gia theo mô hình công chứng tự do. Minh chứng cho nhận định nêu trên, Điều 4 Luật Công chứng của nước Cộng hòa Ba Lan quy định: “Nhiều công chứng viên có thể tập hợp thành một công ty dân sự. Trong trường hợp này, mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm cá nhân về văn bản do chính mình đã thực hiện”[1] hoặc “công chứng viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ gây ra theo quy định của pháp luật dân sự”[2] là nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định ngày 20/6/1990 của Cộng hòa liên bang Đức về hoạt động của CCV có văn phòng tư. Quan điểm nêu trên được xây dựng dựa trên cơ sở cho rằng, CCV là chủ thể của hành vi công chứng; trong khi thực hiện chức nghiệp của mình, CCV phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc như: Độc lập, tuân thủ pháp luật, giữ bí mật thông tin của khách hàng... và vì vậy, CCV phải chịu trách nhiệm cá nhân trong việc bồi thường.

- Cơ chế thứ hai: Tổ chức hành nghề công chứng chịu trách nhiệm trực tiếp bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của CCV thuộc tổ chức mình gây ra. Cơ chế này tồn tại phổ biến trong hệ thống pháp luật các quốc gia theo mô hình công chứng nhà nước (mô hình công chứng bao cấp) mà ở đó, tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và hoạt động dưới sự bao cấp của Nhà nước, cơ quan công chứng là cơ quan nhà nước, CCV là viên chức nhà nước. Mô hình công chứng này hình thành trong khoảng thập kỷ 70 đến thập kỷ 90 của thế kỷ trước ở các nước xã hội chủ nghĩa như: Liên bang Xô Viết, Cu Ba, Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri..., trong đó có Việt Nam.

Luật Công chứng năm 2014 lựa chọn cơ chế thứ hai, theo đó, Điều 38 quy định cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng như sau:

“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.

2. Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “bồi thường” và “bồi hoàn” có nội dung hoàn toàn khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản năm 2017, “bồi thường” được hiểu là “đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất mà mình phải chịu trách nhiệm”, trong khi “trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả”; “bồi hoàn” được hiểu là “trả lại tiền của, tài sản đã lấy trái phép và hiện còn giữ”. Nghĩa vụ “bồi hoàn” của CCV, người phiên dịch trong hoạt động công chứng dường như tương đồng với nghĩa vụ “hoàn trả” của người thi hành công vụ được quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, cụ thể: “Người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại”; còn nghĩa vụ bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng trong hoạt động công chứng dường như được xây dựng theo quan điểm: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật” (Điều 597 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Như vậy, đặc điểm cơ bản của cơ chế bồi thường trong hoạt động công chứng nêu trên là không xác lập quan hệ bồi thường trực tiếp giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại, mà được bảo đảm thực hiện qua trung gian là tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng - VPCC). VPCC được xác định là chủ thể của nghĩa vụ bồi thường chứ không phải CCV hoặc người phiên dịch.

Chúng tôi cho rằng, không thể đồng nhất VPCC với cơ quan nhà nước dưới góc độ là chủ thể của trách nhiệm bồi thường hay chủ thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong cơ chế bồi thường thiệt hại, bởi Nhà nước là chủ thể đặc biệt, tồn tại ổn định, bền vững và thực hiện chức năng mang tính công ích, còn VPCC là chủ thể của hoạt động kinh doanh, tính ổn định thường không cao, không bền vững và luôn mang tính tư ích. Hơn nữa, người thi hành công vụ là người đại diện, nhân danh Nhà nước thực hiện nhiệm vụ công, do đó, khi người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường, trong khi CCV (hợp danh hoặc làm thuê), người phiên dịch đều không nhân danh VPCC, không thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VPCC, mà họ thực hiện chức nghiệp riêng được Nhà nước ủy thác đối với CCV hoặc được pháp luật cho phép cung ứng dịch vụ đối với người phiên dịch.

Có quan điểm cho rằng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng thuộc về VPCC bởi VPCC là cơ quan trực tiếp quản lý CCV, quản lý người phiên dịch. Chúng tôi không đồng tình với quan điểm nêu trên, bởi lẽ, công chứng là một nghề có tính đặc thù, khi thực hiện chức nghiệp của mình (tạo lập và xác nhận chứng cứ), CCV phải giữ bí mật thông tin của người yêu cầu công chứng, CCV phải độc lập, khách quan, vô tư và chỉ tuân theo pháp luật. Pháp luật quy định VPCC có trách nhiệm quản lý CCV nhưng lại không tạo lập và trao cho VPCC công cụ quản lý thì VPCC không thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật, tuân thủ các nguyên tắc trong quá trình hành nghề đối với CCV. Tương tự, đối với hoạt động công chứng bản dịch, chức năng chuyển thể từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác không phải chức năng của VPCC mà thuộc về người phiên dịch, người phiên dịch cũng không phải là nhân viên, người lao động thuộc sự quản lý của VPCC mà họ có địa vị pháp lý độc lập với tổ chức hành nghề công chứng với tư cách là đối tác, là cộng tác viên của VPCC. Hơn nữa, CCV không thể kiểm soát được nội dung văn bản bằng tiếng nước ngoài nhưng pháp luật lại quy định CCV phải chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội[3] là điều vô lý và phi thực tế. Chứng nhận bản dịch không phải là hành vi công chứng mà chỉ là hành vi chứng thực chữ ký của người dịch. Điều đó cho thấy CCV không thể chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung văn bản bằng tiếng nước ngoài, có chăng CCV chỉ chịu trách nhiệm đối với chữ ký của người dịch mà thôi. Chúng tôi cho rằng, VPCC không có khả năng kiểm tra, giám sát tác nhân gây ra thiệt hại thì pháp luật không nên quy định VPCC phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chủ thể khác có địa vị pháp lý độc lập gây ra.

Theo cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014, quan hệ bồi thường được xác lập giữa VPCC với người bị thiệt hại là tiền đề xác lập quan hệ bồi hoàn giữa VPCC với người gây thiệt hại. Quan hệ bồi hoàn chỉ phát sinh sau khi quan hệ bồi thường đã kết thúc. Điều đó có nghĩa, người gây thiệt hại chỉ có nghĩa vụ bồi hoàn sau khi VPCC đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại. Chúng tôi không tìm thấy bất kỳ sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý nào giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại trên phương diện bồi thường thiệt hại được quy định tại Luật Công chứng năm 2014. Như vậy, phải chăng trách nhiệm bồi thường trong hoạt động công chứng chỉ thuộc về VPCC mà không thuộc trách nhiệm của CCV, của người phiên dịch? CCV, người phiên dịch không thể trở thành bị đơn trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chỉ có thể là bị đơn trong vụ kiện yêu cầu bồi hoàn trong hoạt động công chứng? Nếu xác định VPCC là chủ thể của nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và không có bất cứ chủ thể nào khác thì khi VPCC chấm dứt tồn tại sẽ dẫn tới nghĩa vụ bồi thường cũng chấm dứt (khoản 8 Điều 372 Bộ luật Dân sự năm 2015). Khi đó, CCV, người phiên dịch sẽ được giải phóng khỏi trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn?

Khi nghiên cứu quy định xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng, chúng tôi nhận thấy, Điều 71 Luật Công chứng năm 2014 quy định xử lý vi phạm đối với CCV như sau: “Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Điều đó cho thấy, CCV không chỉ có nghĩa vụ bồi hoàn mà có cả nghĩa vụ bồi thường, phải chăng trong trường hợp VPCC chấm dứt hoạt động, cơ chế bồi thường, bồi hoàn quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 sẽ không được vận dụng và thay vào đó là cơ chế chịu trách nhiệm bồi thường trực tiếp từ phía CCV đối với người bị thiệt hại? Chúng tôi không tìm thấy bất kỳ nội dung nào trong Luật Công chứng năm 2014 quy định trách nhiệm bồi thường của người phiên dịch.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường của VPCC trong cơ chế bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 không được xây dựng dựa trên các nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung (có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật) mà mục đích của nhà làm luật là tạo ra một cơ chế bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với người bị thiệt hại, Luật Công chứng năm 2014 đóng vai trò của bên bảo đảm trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, cơ chế này còn gián tiếp “thu hút” một số chủ thể khác tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại nhằm bảo đảm khả năng tối đa người bị thiệt hại sẽ có cơ hội nhận được khoản tiền bồi thường. Cụ thể, khi phát sinh trách nhiệm bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay VPCC đứng ra trực tiếp thực hiện bồi thường cho người bị thiệt hại theo các điều kiện, mức bồi thường ấn định trong hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa công ty bảo hiểm với VPCC. Trường hợp không thuộc phạm vi được bảo hiểm hoặc vượt quá phạm vi bảo hiểm thì VPCC sẽ phải đem tài sản của mình ra để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại. Ngoài ra, dưới danh nghĩa là khoản nợ của VPCC (công ty hợp danh), các CCV hợp danh sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của VPCC nếu tài sản của VPCC không đủ.

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng thông qua việc chuyển đổi Phòng công chứng thành VPCC đã được luật hóa. Một trong những nguyên tắc chuyển đổi là VPCC được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng phải kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và tiếp nhận toàn bộ hồ sơ công chứng của Phòng công chứng đó[4]. Điều đó có nghĩa, VPCC được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng sẽ phải bồi thường mọi thiệt hại do CCV của Phòng công chứng đã gây ra trước thời điểm chuyển đổi thành VPCC. Trường hợp tài sản của VPCC sau khi chuyển đổi không đủ để bồi thường thì các CCV hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đây là điều mà không phải CCV nào cũng đủ dũng khí, can đảm để tiếp nhận chuyển đổi Phòng công chứng. Nguyên tắc kể trên dường như lại không được áp dụng trong trường hợp chuyển nhượng VPCC, bởi CCV nhận chuyển nhượng VPCC sẽ phải kế thừa quyền và nghĩa vụ của VPCC được chuyển nhượng là nội dung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 29 Luật Công chứng năm 2014. Phải chăng trong trường hợp này, CCV nhận chuyển nhượng với tư cách cá nhân sẽ phải bồi thường mọi thiệt hại đã xảy ra trước thời điểm nhận chuyển nhượng VPCC chứ không phải VPCC?

Sau khi nghiên cứu cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014, chúng tôi có một số nhận xét sau:

Thứ nhất, trường hợp VPCC chấm dứt hoạt động thì cơ chế bồi thường, bồi hoàn quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 sẽ không thể được thực thi. Khi đó cơ chế nào sẽ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại? Người bị thiệt hại có quyền trực tiếp khởi kiện CCV và người phiên dịch đã gây ra thiệt hại hay không thì chưa có câu trả lời thỏa đáng. Chúng tôi cho rằng, pháp luật cần quy định theo hướng, người bị thiệt hại có quyền truy cứu trách nhiệm bồi thường đối với CCV và người phiên dịch là tác nhân gây ra thiệt hại ngay cả khi VPCC đã chấm dứt hoạt động.

Thứ hai, Luật Công chứng năm 2014 quy định VPCC chỉ được phép tồn tại và hoạt động dưới loại hình công ty hợp danh. Do đó, CCV hợp danh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của VPCC, CCV hợp danh có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của VPCC trong trường hợp tài sản của VPCC không đủ[5]. Điều này có nghĩa, CCV hợp danh hoàn toàn có thể phải trực tiếp tham gia vào quan hệ bồi thường và người bị thiệt hại có thể khởi kiện yêu cầu CCV hợp danh thực hiện nghĩa vụ bồi thường thay thế VPCC. Tuy nhiên, cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng không hề nhắc tới vai trò, trách nhiệm của CCV hợp danh.

Thứ ba, cơ chế bồi thường trong hoạt động công chứng không đề cao trách nhiệm của CCV và người phiên dịch với tư cách là tác nhân gây thiệt hại. Trong khi VPCC và CCV hợp danh có thể phải “quay cuồng” trong quan hệ bồi thường thì CCV với tư cách là tác nhân gây thiệt hại lại “ung dung” ngồi chờ để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn. Cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng cũng chưa chú trọng tới các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường dưới góc độ ràng buộc trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của CCV và của người phiên dịch. Do vậy, khi phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn, CCV, người phiên dịch có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể đã chủ động “cao chạy xa bay” để lại khoản nợ cho VPCC, cho các CCV hợp danh.

Thứ tư, việc thực hiện nghĩa vụ của VPCC dường như mang tính tuyệt đối mà không có ngoại lệ, VPCC hay nói cụ thể hơn chính các CCV hợp danh sẽ phải bồi thường trong mọi trường hợp ngay cả khi nghĩa vụ bồi hoàn từ phía người gây thiệt hại không thể trở thành hiện thực, chẳng hạn người gây ra thiệt hại chết không thể truy cứu trách nhiệm bồi hoàn. Như vậy, pháp luật đã không tạo ra lẽ công bằng trong việc bồi thường thiệt hại mà chỉ làm công việc chuyển rủi ro từ người này sang người khác một cách bất hợp lý.

Thứ năm, nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho CCV là nghĩa vụ bắt buộc đối với VPCC. Tuy nhiên, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không hề đề cập tới vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm trong cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng.

Chúng tôi cho rằng, khi Luật Quy hoạch năm 2017 có hiệu lực thi hành (kể từ ngày 01/01/2019), việc thành lập VPCC sẽ không còn bị hạn chế số lượng theo quy hoạch như hiện nay, điều kiện thành lập VPCC vì thế cũng đơn giản hơn, số lượng VPCC được thành lập mới sẽ nhiều hơn, tình trạng cạnh tranh giữa các VPCC cũng gia tăng. Trong những năm tới, hiện tượng VPCC tự chấm dứt hoạt động, tự giải thể hoặc phá sản sẽ là tất yếu khách quan. Điều đó cho thấy, cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng không thể dựa vào VPCC, yếu tố có đặc tính “mong manh dễ vỡ” để làm cơ sở bảo đảm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà nên quy định cơ chế tự chịu trách nhiệm cá nhân của CCV, của người phiên dịch với tư cách là người có hành vi trái pháp luật, là tác nhân trực tiếp gây thiệt hại. Bên cạnh đó, pháp luật cần bổ sung một số biện pháp bảo đảm mang tính tài sản nhằm ràng buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với CCV; đồng thời, tăng cường vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của CCV cũng như phát huy cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong việc bồi thường thiệt hại do CCV gây ra. Việc chuyển đổi cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng từ VPCC sang cho CCV trên cơ sở đề cao trách nhiệm cá nhân của CCV, của người phiên dịch không chỉ giúp cho VPCC tồn tại và phát triển ổn định, bền vững mà còn xóa bỏ sự bất hợp lý trong việc gách chịu hậu quả bất lợi đối với CCV hợp danh tại VPCC.

PGS.TS. Doãn Hồng Nhung - Đại học Quốc gia Hà Nội

ThS. Nguyễn Văn Mích - Học viện Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp (2005), Luật Công chứng của nước Cộng hòa Ba Lan ngày 14/02/1991 (bản dịch), Hà Nội.

[2]. Bộ Tư pháp, Quỹ Hợp tác quốc tế Đức về pháp luật (2012), Tài liệu Hội thảo Định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

[3]. Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[4]. Điều 12 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/01/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

[5]. Điểm g khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 và điểm đ khoản 2 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: