Thứ sáu 11/09/2026 14:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014

Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích và chỉ ra những điểm bất hợp lý của cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về bồi thường trong hoạt động công chứng ở nước ta.


Có thể nói, văn bản công chứng chính là sản phẩm lao động của công chứng viên (CCV), sản phẩm đó có đáp ứng yêu cầu của người yêu cầu công chứng, đáp ứng quy chuẩn theo quy định của pháp luật hay không phần lớn phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm và trình độ cũng như mức độ tuân thủ pháp luật của CCV. CCV phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với văn bản công chứng do mình chứng nhận. Tùy thuộc tính chất, mức độ vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc đạo đức trong quá trình hành nghề mà CCV phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chịu chế tài xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khi nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng của một số quốc gia trên thế giới, chúng tôi nhận thấy, có hai cơ chế cơ bản thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước người yêu cầu công chứng do CCV gây ra:

- Cơ chế thứ nhất: CCV chịu trách nhiệm cá nhân và trực tiếp bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng những thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Cơ chế này được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của đa số các quốc gia theo mô hình công chứng tự do. Minh chứng cho nhận định nêu trên, Điều 4 Luật Công chứng của nước Cộng hòa Ba Lan quy định: “Nhiều công chứng viên có thể tập hợp thành một công ty dân sự. Trong trường hợp này, mỗi thành viên chỉ chịu trách nhiệm cá nhân về văn bản do chính mình đã thực hiện”[1] hoặc “công chứng viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ công vụ gây ra theo quy định của pháp luật dân sự”[2] là nội dung được quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định ngày 20/6/1990 của Cộng hòa liên bang Đức về hoạt động của CCV có văn phòng tư. Quan điểm nêu trên được xây dựng dựa trên cơ sở cho rằng, CCV là chủ thể của hành vi công chứng; trong khi thực hiện chức nghiệp của mình, CCV phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc như: Độc lập, tuân thủ pháp luật, giữ bí mật thông tin của khách hàng... và vì vậy, CCV phải chịu trách nhiệm cá nhân trong việc bồi thường.

- Cơ chế thứ hai: Tổ chức hành nghề công chứng chịu trách nhiệm trực tiếp bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của CCV thuộc tổ chức mình gây ra. Cơ chế này tồn tại phổ biến trong hệ thống pháp luật các quốc gia theo mô hình công chứng nhà nước (mô hình công chứng bao cấp) mà ở đó, tổ chức hành nghề công chứng được thành lập và hoạt động dưới sự bao cấp của Nhà nước, cơ quan công chứng là cơ quan nhà nước, CCV là viên chức nhà nước. Mô hình công chứng này hình thành trong khoảng thập kỷ 70 đến thập kỷ 90 của thế kỷ trước ở các nước xã hội chủ nghĩa như: Liên bang Xô Viết, Cu Ba, Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri..., trong đó có Việt Nam.

Luật Công chứng năm 2014 lựa chọn cơ chế thứ hai, theo đó, Điều 38 quy định cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng như sau:

“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.

2. Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”.

Xét về mặt ngữ nghĩa, khái niệm “bồi thường” và “bồi hoàn” có nội dung hoàn toàn khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản năm 2017, “bồi thường” được hiểu là “đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất mà mình phải chịu trách nhiệm”, trong khi “trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả”; “bồi hoàn” được hiểu là “trả lại tiền của, tài sản đã lấy trái phép và hiện còn giữ”. Nghĩa vụ “bồi hoàn” của CCV, người phiên dịch trong hoạt động công chứng dường như tương đồng với nghĩa vụ “hoàn trả” của người thi hành công vụ được quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, cụ thể: “Người thi hành công vụ có lỗi gây thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một phần hoặc toàn bộ số tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại”; còn nghĩa vụ bồi thường của tổ chức hành nghề công chứng trong hoạt động công chứng dường như được xây dựng theo quan điểm: “Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật” (Điều 597 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Như vậy, đặc điểm cơ bản của cơ chế bồi thường trong hoạt động công chứng nêu trên là không xác lập quan hệ bồi thường trực tiếp giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại, mà được bảo đảm thực hiện qua trung gian là tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng - VPCC). VPCC được xác định là chủ thể của nghĩa vụ bồi thường chứ không phải CCV hoặc người phiên dịch.

Chúng tôi cho rằng, không thể đồng nhất VPCC với cơ quan nhà nước dưới góc độ là chủ thể của trách nhiệm bồi thường hay chủ thể bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong cơ chế bồi thường thiệt hại, bởi Nhà nước là chủ thể đặc biệt, tồn tại ổn định, bền vững và thực hiện chức năng mang tính công ích, còn VPCC là chủ thể của hoạt động kinh doanh, tính ổn định thường không cao, không bền vững và luôn mang tính tư ích. Hơn nữa, người thi hành công vụ là người đại diện, nhân danh Nhà nước thực hiện nhiệm vụ công, do đó, khi người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường, trong khi CCV (hợp danh hoặc làm thuê), người phiên dịch đều không nhân danh VPCC, không thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VPCC, mà họ thực hiện chức nghiệp riêng được Nhà nước ủy thác đối với CCV hoặc được pháp luật cho phép cung ứng dịch vụ đối với người phiên dịch.

Có quan điểm cho rằng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng thuộc về VPCC bởi VPCC là cơ quan trực tiếp quản lý CCV, quản lý người phiên dịch. Chúng tôi không đồng tình với quan điểm nêu trên, bởi lẽ, công chứng là một nghề có tính đặc thù, khi thực hiện chức nghiệp của mình (tạo lập và xác nhận chứng cứ), CCV phải giữ bí mật thông tin của người yêu cầu công chứng, CCV phải độc lập, khách quan, vô tư và chỉ tuân theo pháp luật. Pháp luật quy định VPCC có trách nhiệm quản lý CCV nhưng lại không tạo lập và trao cho VPCC công cụ quản lý thì VPCC không thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật, tuân thủ các nguyên tắc trong quá trình hành nghề đối với CCV. Tương tự, đối với hoạt động công chứng bản dịch, chức năng chuyển thể từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác không phải chức năng của VPCC mà thuộc về người phiên dịch, người phiên dịch cũng không phải là nhân viên, người lao động thuộc sự quản lý của VPCC mà họ có địa vị pháp lý độc lập với tổ chức hành nghề công chứng với tư cách là đối tác, là cộng tác viên của VPCC. Hơn nữa, CCV không thể kiểm soát được nội dung văn bản bằng tiếng nước ngoài nhưng pháp luật lại quy định CCV phải chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội[3] là điều vô lý và phi thực tế. Chứng nhận bản dịch không phải là hành vi công chứng mà chỉ là hành vi chứng thực chữ ký của người dịch. Điều đó cho thấy CCV không thể chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung văn bản bằng tiếng nước ngoài, có chăng CCV chỉ chịu trách nhiệm đối với chữ ký của người dịch mà thôi. Chúng tôi cho rằng, VPCC không có khả năng kiểm tra, giám sát tác nhân gây ra thiệt hại thì pháp luật không nên quy định VPCC phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chủ thể khác có địa vị pháp lý độc lập gây ra.

Theo cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014, quan hệ bồi thường được xác lập giữa VPCC với người bị thiệt hại là tiền đề xác lập quan hệ bồi hoàn giữa VPCC với người gây thiệt hại. Quan hệ bồi hoàn chỉ phát sinh sau khi quan hệ bồi thường đã kết thúc. Điều đó có nghĩa, người gây thiệt hại chỉ có nghĩa vụ bồi hoàn sau khi VPCC đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại. Chúng tôi không tìm thấy bất kỳ sự ràng buộc trách nhiệm pháp lý nào giữa người gây thiệt hại với người bị thiệt hại trên phương diện bồi thường thiệt hại được quy định tại Luật Công chứng năm 2014. Như vậy, phải chăng trách nhiệm bồi thường trong hoạt động công chứng chỉ thuộc về VPCC mà không thuộc trách nhiệm của CCV, của người phiên dịch? CCV, người phiên dịch không thể trở thành bị đơn trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chỉ có thể là bị đơn trong vụ kiện yêu cầu bồi hoàn trong hoạt động công chứng? Nếu xác định VPCC là chủ thể của nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và không có bất cứ chủ thể nào khác thì khi VPCC chấm dứt tồn tại sẽ dẫn tới nghĩa vụ bồi thường cũng chấm dứt (khoản 8 Điều 372 Bộ luật Dân sự năm 2015). Khi đó, CCV, người phiên dịch sẽ được giải phóng khỏi trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn?

Khi nghiên cứu quy định xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng, chúng tôi nhận thấy, Điều 71 Luật Công chứng năm 2014 quy định xử lý vi phạm đối với CCV như sau: “Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Điều đó cho thấy, CCV không chỉ có nghĩa vụ bồi hoàn mà có cả nghĩa vụ bồi thường, phải chăng trong trường hợp VPCC chấm dứt hoạt động, cơ chế bồi thường, bồi hoàn quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 sẽ không được vận dụng và thay vào đó là cơ chế chịu trách nhiệm bồi thường trực tiếp từ phía CCV đối với người bị thiệt hại? Chúng tôi không tìm thấy bất kỳ nội dung nào trong Luật Công chứng năm 2014 quy định trách nhiệm bồi thường của người phiên dịch.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường của VPCC trong cơ chế bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 không được xây dựng dựa trên các nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung (có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại và có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật) mà mục đích của nhà làm luật là tạo ra một cơ chế bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với người bị thiệt hại, Luật Công chứng năm 2014 đóng vai trò của bên bảo đảm trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, cơ chế này còn gián tiếp “thu hút” một số chủ thể khác tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại nhằm bảo đảm khả năng tối đa người bị thiệt hại sẽ có cơ hội nhận được khoản tiền bồi thường. Cụ thể, khi phát sinh trách nhiệm bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thay VPCC đứng ra trực tiếp thực hiện bồi thường cho người bị thiệt hại theo các điều kiện, mức bồi thường ấn định trong hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa công ty bảo hiểm với VPCC. Trường hợp không thuộc phạm vi được bảo hiểm hoặc vượt quá phạm vi bảo hiểm thì VPCC sẽ phải đem tài sản của mình ra để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại. Ngoài ra, dưới danh nghĩa là khoản nợ của VPCC (công ty hợp danh), các CCV hợp danh sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của VPCC nếu tài sản của VPCC không đủ.

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng thông qua việc chuyển đổi Phòng công chứng thành VPCC đã được luật hóa. Một trong những nguyên tắc chuyển đổi là VPCC được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng phải kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ và tiếp nhận toàn bộ hồ sơ công chứng của Phòng công chứng đó[4]. Điều đó có nghĩa, VPCC được thành lập từ việc chuyển đổi Phòng công chứng sẽ phải bồi thường mọi thiệt hại do CCV của Phòng công chứng đã gây ra trước thời điểm chuyển đổi thành VPCC. Trường hợp tài sản của VPCC sau khi chuyển đổi không đủ để bồi thường thì các CCV hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đây là điều mà không phải CCV nào cũng đủ dũng khí, can đảm để tiếp nhận chuyển đổi Phòng công chứng. Nguyên tắc kể trên dường như lại không được áp dụng trong trường hợp chuyển nhượng VPCC, bởi CCV nhận chuyển nhượng VPCC sẽ phải kế thừa quyền và nghĩa vụ của VPCC được chuyển nhượng là nội dung được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 29 Luật Công chứng năm 2014. Phải chăng trong trường hợp này, CCV nhận chuyển nhượng với tư cách cá nhân sẽ phải bồi thường mọi thiệt hại đã xảy ra trước thời điểm nhận chuyển nhượng VPCC chứ không phải VPCC?

Sau khi nghiên cứu cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng năm 2014, chúng tôi có một số nhận xét sau:

Thứ nhất, trường hợp VPCC chấm dứt hoạt động thì cơ chế bồi thường, bồi hoàn quy định tại Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 sẽ không thể được thực thi. Khi đó cơ chế nào sẽ bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại? Người bị thiệt hại có quyền trực tiếp khởi kiện CCV và người phiên dịch đã gây ra thiệt hại hay không thì chưa có câu trả lời thỏa đáng. Chúng tôi cho rằng, pháp luật cần quy định theo hướng, người bị thiệt hại có quyền truy cứu trách nhiệm bồi thường đối với CCV và người phiên dịch là tác nhân gây ra thiệt hại ngay cả khi VPCC đã chấm dứt hoạt động.

Thứ hai, Luật Công chứng năm 2014 quy định VPCC chỉ được phép tồn tại và hoạt động dưới loại hình công ty hợp danh. Do đó, CCV hợp danh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của VPCC, CCV hợp danh có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của VPCC trong trường hợp tài sản của VPCC không đủ[5]. Điều này có nghĩa, CCV hợp danh hoàn toàn có thể phải trực tiếp tham gia vào quan hệ bồi thường và người bị thiệt hại có thể khởi kiện yêu cầu CCV hợp danh thực hiện nghĩa vụ bồi thường thay thế VPCC. Tuy nhiên, cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng không hề nhắc tới vai trò, trách nhiệm của CCV hợp danh.

Thứ ba, cơ chế bồi thường trong hoạt động công chứng không đề cao trách nhiệm của CCV và người phiên dịch với tư cách là tác nhân gây thiệt hại. Trong khi VPCC và CCV hợp danh có thể phải “quay cuồng” trong quan hệ bồi thường thì CCV với tư cách là tác nhân gây thiệt hại lại “ung dung” ngồi chờ để thực hiện nghĩa vụ bồi hoàn. Cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng cũng chưa chú trọng tới các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường dưới góc độ ràng buộc trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của CCV và của người phiên dịch. Do vậy, khi phát sinh trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn, CCV, người phiên dịch có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có thể đã chủ động “cao chạy xa bay” để lại khoản nợ cho VPCC, cho các CCV hợp danh.

Thứ tư, việc thực hiện nghĩa vụ của VPCC dường như mang tính tuyệt đối mà không có ngoại lệ, VPCC hay nói cụ thể hơn chính các CCV hợp danh sẽ phải bồi thường trong mọi trường hợp ngay cả khi nghĩa vụ bồi hoàn từ phía người gây thiệt hại không thể trở thành hiện thực, chẳng hạn người gây ra thiệt hại chết không thể truy cứu trách nhiệm bồi hoàn. Như vậy, pháp luật đã không tạo ra lẽ công bằng trong việc bồi thường thiệt hại mà chỉ làm công việc chuyển rủi ro từ người này sang người khác một cách bất hợp lý.

Thứ năm, nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho CCV là nghĩa vụ bắt buộc đối với VPCC. Tuy nhiên, Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không hề đề cập tới vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm trong cơ chế bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng.

Chúng tôi cho rằng, khi Luật Quy hoạch năm 2017 có hiệu lực thi hành (kể từ ngày 01/01/2019), việc thành lập VPCC sẽ không còn bị hạn chế số lượng theo quy hoạch như hiện nay, điều kiện thành lập VPCC vì thế cũng đơn giản hơn, số lượng VPCC được thành lập mới sẽ nhiều hơn, tình trạng cạnh tranh giữa các VPCC cũng gia tăng. Trong những năm tới, hiện tượng VPCC tự chấm dứt hoạt động, tự giải thể hoặc phá sản sẽ là tất yếu khách quan. Điều đó cho thấy, cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng không thể dựa vào VPCC, yếu tố có đặc tính “mong manh dễ vỡ” để làm cơ sở bảo đảm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà nên quy định cơ chế tự chịu trách nhiệm cá nhân của CCV, của người phiên dịch với tư cách là người có hành vi trái pháp luật, là tác nhân trực tiếp gây thiệt hại. Bên cạnh đó, pháp luật cần bổ sung một số biện pháp bảo đảm mang tính tài sản nhằm ràng buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với CCV; đồng thời, tăng cường vai trò của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của CCV cũng như phát huy cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong việc bồi thường thiệt hại do CCV gây ra. Việc chuyển đổi cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng từ VPCC sang cho CCV trên cơ sở đề cao trách nhiệm cá nhân của CCV, của người phiên dịch không chỉ giúp cho VPCC tồn tại và phát triển ổn định, bền vững mà còn xóa bỏ sự bất hợp lý trong việc gách chịu hậu quả bất lợi đối với CCV hợp danh tại VPCC.

PGS.TS. Doãn Hồng Nhung - Đại học Quốc gia Hà Nội

ThS. Nguyễn Văn Mích - Học viện Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp (2005), Luật Công chứng của nước Cộng hòa Ba Lan ngày 14/02/1991 (bản dịch), Hà Nội.

[2]. Bộ Tư pháp, Quỹ Hợp tác quốc tế Đức về pháp luật (2012), Tài liệu Hội thảo Định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.

[3]. Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014.

[4]. Điều 12 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/01/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng.

[5]. Điểm g khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014 và điểm đ khoản 2 Điều 176 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: