Thứ ba 28/07/2026 09:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Có công chứng thừa kế tài sản thế chấp được hay không?

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quan điểm về một số vấn đề liên quan đến công chứng thừa kế tài sản thế chấp và đưa ra quan điểm của tác giả.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quan điểm về một số vấn đề liên quan đến công chứng thừa kế tài sản thế chấp và đưa ra quan điểm của tác giả.

Abstract: The article analyzes the viewpoints on some issues relating to notarization of mortgaged inheritance and gives the author's viewpoint.

Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản” hay nói cách khác, “quyền định đoạt” là một trong những quyền năng giúp chủ sở hữu quyết định về số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào quyền định đoạt cũng là quyền tuyệt đối. Chẳng hạn như đối với tài sản đã được thế chấp thì quyền định đoạt của bên thế chấp đối với tài sản đó bị hạn chế theo quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015, dẫn chiếu tới quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 321 của Luật này. Như vậy, chỉ được “bán, thay thế, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn” tài sản thế chấp nếu đáp ứng đúng và đủ các điều kiện đã được quy định.

Câu hỏi được đặt ra ở đây là, vậy ngoài các quyền đã được liệt kê tại Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đối với tài sản thế chấp, bên thế chấp có thể thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật dân sự hay không, ví dụ như quyền thừa kế - vừa là một trong những quyền quan trọng của cá nhân, tổ chức, vừa là một chế định luật quan trọng được quy định hết sức chi tiết và cũng rất phức tạp trong Bộ luật Dân sự? Đặc biệt, trong lĩnh vực công chứng, thừa kế cũng là một trong những giao dịch dân sự thiết yếu. Mặc dù pháp luật về công chứng cũng như pháp luật về dân sự đều có quy định về vấn đề này nhưng trong thực tiễn thi hành vẫn xảy ra những bất cập liên quan đến những vấn đề như: Đối với tài sản thế chấp, công chứng viên có thể thực hiện việc công chứng thừa kế hay không, có bắt buộc phải thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì mới được thực hiện công chứng thừa kế, thủ tục công chứng trong trường hợp này phải làm như thế nào...?

1. Có thể thực hiện việc công chứng về thừa kế đối với tài sản thế chấp được hay không?

Về vấn đề này hiện đang có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng, Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã liệt kê cụ thể những giao dịch dân sự mà tài sản thế chấp được phép đưa vào giao dịch, trong đó không bao gồm thừa kế, cho nên thực hiện thừa kế đối với tài sản thế chấp là không thể, như vậy đương nhiên cũng không thể thực hiện công chứng thừa kế trong trường hợp này được. Tuy nhiên, quan điểm thứ hai lại cho rằng, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì cá nhân, tổ chức được phép thực hiện các giao dịch mà pháp luật không cấm, do đó, mặc dù tại Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định về quyền thừa kế đối với tài sản thế chấp nhưng cũng không có quy định nào cấm việc này, cho nên việc thực hiện thừa kế cũng như công chứng thừa kế đối với tài sản thế chấp là được phép.

2. Hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ có phải là điều kiện bắt buộc trước khi công chứng thừa kế?

Quan điểm thứ nhất cho rằng, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì không thể thực hiện quyền thừa kế. Quan điểm này được lý giải như sau:

Thứ nhất, Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do bên thế chấp để lại, do đó, những người theo quan điểm này cho rằng, những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bên thế chấp trước rồi mới có quyền thừa kế di sản. Với quan điểm này, việc thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ là bắt buộc, có nguyên lý tương tự như chủ sử dụng đất chỉ được phép thực hiện các quyền của mình sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ tài chính.

Thứ hai, sự kiện pháp lý về kế thừa quyền và nghĩa vụ do người chết để lại ở đây chính là chuyển giao quyền và nghĩa vụ, hay thế quyền và thế nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự. Bởi lẽ, khi những người thừa kế muốn thế nghĩa vụ tài sản do bên thế chấp để lại và thực hiện nghĩa vụ đó thì phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, nguyên tắc này hoàn toàn trùng khớp với nguyên tắc khi chuyển giao nghĩa vụ dân sự phải có sự đồng ý của bên có quyền. Căn cứ theo Điều 371 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, do đó, khi nghĩa vụ của người chết đã được chuyển giao thì việc thế chấp cũng chấm dứt, cho nên tài sản thế chấp phải được xóa đăng ký thế chấp hay người thừa kế phải trả xong nợ để được nhận lại giấy tờ tài sản thế chấp và xóa đăng ký thế chấp rồi mới có thể thực hiện việc thừa kế.

Theo quan điểm thứ hai thì căn cứ Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, như vậy, ngay tại thời điểm mở thừa kế những người thừa kế mặc nhiên có đồng thời cả các quyền tài sản cũng như nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, mà ở đây có thể hiểu quyền là quyền thừa kế, nghĩa vụ là nghĩa vụ trả nợ. Đồng thời, pháp luật hiện hành cũng không quy định nghĩa vụ có trước, quyền có sau nên theo quan điểm này thì việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ là không bắt buộc.

3. Thực hiện việc công chứng thừa kế đối với tài sản thế chấp như thế nào?

3.1. Về hồ sơ yêu cầu công chứng

Các loại giấy tờ cần có trong hồ sơ yêu cầu công chứng được thực hiện theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng năm 2014, tuy nhiên, trên thực tế vẫn phát sinh vướng mắc liên quan về việc xuất trình bản chính giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng (sau đây gọi tắt là giấy tờ tài sản) nhất là đối với tài sản thế chấp, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, không cần xuất trình bản chính giấy tờ tài sản nhưng phải có bản sao có xác nhận của bên nhận thế chấp về việc tài sản hiện đang thế chấp. Việc này có ưu điểm là giảm bớt thủ tục cho bên nhận thế chấp, bên nhận thế chấp cũng không bắt buộc phải tham gia vào quá trình giải quyết công chứng thừa kế. Tuy nhiên, nó lại có nhược điểm: Việc không xuất trình bản chính giấy tờ là vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 40 và khoản 3 Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 (công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ có trong hồ sơ yêu cầu công chứng để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch), đồng thời, tính xác thực, hợp pháp của đối tượng tài sản trong hợp đồng, giao dịch lúc này cũng không được đảm bảo, có thể gây rủi ro cho công chứng viên khi thực hiện việc công chứng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

Theo quan điểm thứ hai thì phải xuất trình bản chính giấy tờ tài sản. Nó có ưu điểm là thực hiện đúng trình tự, thủ tục cũng như quy định của pháp luật về công chứng; đảm bảo được tính xác thực, hợp pháp của đối tượng giao dịch, đồng thời đảm bảo tính an toàn pháp lý cũng như bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên khi hành nghề và quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan đến hợp đồng, giao dịch được công chứng. Nhưng nhược điểm là bên nhận thế chấp phải tham gia vào quá trình công chứng thừa kế.

3.2. Về văn bản công chứng

Quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ thực hiện công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đối với tài sản thế chấp mà không thực hiện công chứng thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối với tài sản này. Như vậy sẽ đảm bảo được phần nào quyền thừa kế của người thừa kế cũng như quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp, đồng thời bảo đảm không xảy ra tình trạng có người thừa kế trốn tránh nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Tuy nhiên, khi đó lại không thể thực hiện công chứng thừa kế bằng phương thức thỏa thuận phân chia di sản, đồng nghĩa với việc hạn chế quyền của người thừa kế. Về nội dung văn bản khai nhận di sản thì phải bao hàm cả việc khai nhận di sản là tài sản thế chấp và khai nhận luôn cả khoản nợ do người chết là bên thế chấp để lại.

Quan điểm thứ hai cho rằng, công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc văn bản khai nhận di sản thừa kế đều được, tùy thuộc theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng. Theo đó sẽ đảm bảo đầy đủ hơn quyền thừa kế hợp pháp của người thừa kế và phần nào quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp, nhưng lại có nhược điểm là không đảm bảo được việc người thừa kế có trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay không khi thực hiện việc thỏa thuận phân chia di sản, từ đó ảnh hưởng tới quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp. Đối với nội dung văn bản thỏa thuận phân chia di sản: Ngoài việc ghi nhận sự thỏa thuận phân chia di sản của những người thừa kế còn cần phải ghi rõ cả sự phân chia nghĩa vụ tài sản đi kèm đối với mỗi người thừa kế để hạn chế việc trốn tránh nghĩa vụ về sau.

4. Quan điểm của tác giả bài viết

Thứ nhất, việc công chứng thừa kế đối với tài sản thế chấp là hoàn toàn có thể thực hiện được. Bởi lẽ, quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức. Mặc dù bên thế chấp bị hạn chế quyền định đoạt đối với tài sản thế chấp nhưng không có nghĩa là quyền đó bị mất đi mà vẫn luôn được pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Do đó, không thể ngăn cấm bên thế chấp và những người thừa kế hợp pháp thực hiện quyền thừa kế của họ.

Thứ hai, không bắt buộc phải thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ mới có thể công chứng thừa kế. Đối với hai quan điểm về vấn đề này đã nêu ở trên, tác giả cho rằng: (i) Hai sự kiện pháp lý có nguyên lý tương tự không có nghĩa là được phép đồng nhất hai sự kiện pháp lý đó lại với nhau, do đó, không thể bắt người thừa kế phải thanh toán xong nợ thì mới có quyền nhận lại tài sản thế chấp để thực hiện thừa kế như trường hợp nợ nghĩa vụ tài chính trong đất đai; (ii) Ở đây đã có sự đánh tráo khái niệm khi cho rằng chuyển giao quyền và nghĩa vụ của người chết chính là chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự, vì mặc dù nguyên tắc thế nghĩa vụ có sự tương đồng nhưng khi thế quyền lại hoàn toàn khác nhau. Nếu trong chuyển giao quyền dân sự không cần đến sự đồng ý của bên có nghĩa vụ thì khi thực hiện quyền thừa kế đối với tài sản thế chấp, người thừa kế mặc dù cũng là thế quyền nhưng lại vẫn cần sự tham gia cũng như đồng ý của bên nhận thế chấp, do đó, kế thừa quyền và nghĩa vụ ở đây không là chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự (trừ trường hợp trước khi chết, bên thế chấp và bên nhận thế chấp có giao kết văn bản thỏa thuận nêu rõ về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thừa kế trong trường hợp bên thế chấp chết thì kế thừa quyền và nghĩa vụ có thể là chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự). Quan trọng hơn nữa là, việc không bắt buộc phải thực hiện xong nghĩa vụ là hoàn toàn không trái quy định của pháp luật, đồng thời bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế, nhất là trong trường hợp người thừa kế không còn tài sản nào khác ngoài di sản thừa kế là tài sản thế chấp hoặc trường hợp người thừa kế hiện không có khả năng trả nợ thay người chết nên không thể thực hiện nghĩa vụ để được nhận lại tài sản thế chấp.

Thứ ba, thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận hay văn bản khai nhận di sản thừa kế đều được. Nhưng cần lưu ý, người yêu cầu công chứng cần phải xuất trình được bản chính giấy tờ tài sản để chứng minh tính xác thực, hợp pháp của đối tượng tài sản trong giao dịch, hợp đồng. Hồ sơ yêu cầu công chứng ngoài đáp ứng đúng và đủ các giấy tờ theo quy định tại Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 thì còn cần có thêm văn bản xác nhận số dư nợ tại thời điểm thực hiện công chứng thừa kế cũng như văn bản thể hiện sự đồng ý của bên nhận thế chấp đối với việc bên thế chấp thực hiện thừa kế. Nội dung văn bản công chứng cần ghi nhận rõ việc di sản thừa kế là tài sản thế chấp, phân chia/khai nhận thì phải bao hàm cả phân chia/khai nhận nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Trần Hồng Minh Phượng

Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: