Chủ nhật 14/12/2025 00:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Có công chứng thừa kế tài sản thế chấp được hay không?

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quan điểm về một số vấn đề liên quan đến công chứng thừa kế tài sản thế chấp và đưa ra quan điểm của tác giả.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quan điểm về một số vấn đề liên quan đến công chứng thừa kế tài sản thế chấp và đưa ra quan điểm của tác giả.

Abstract: The article analyzes the viewpoints on some issues relating to notarization of mortgaged inheritance and gives the author's viewpoint.

Điều 192 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản” hay nói cách khác, “quyền định đoạt” là một trong những quyền năng giúp chủ sở hữu quyết định về số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào quyền định đoạt cũng là quyền tuyệt đối. Chẳng hạn như đối với tài sản đã được thế chấp thì quyền định đoạt của bên thế chấp đối với tài sản đó bị hạn chế theo quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015, dẫn chiếu tới quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 321 của Luật này. Như vậy, chỉ được “bán, thay thế, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn” tài sản thế chấp nếu đáp ứng đúng và đủ các điều kiện đã được quy định.

Câu hỏi được đặt ra ở đây là, vậy ngoài các quyền đã được liệt kê tại Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đối với tài sản thế chấp, bên thế chấp có thể thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật dân sự hay không, ví dụ như quyền thừa kế - vừa là một trong những quyền quan trọng của cá nhân, tổ chức, vừa là một chế định luật quan trọng được quy định hết sức chi tiết và cũng rất phức tạp trong Bộ luật Dân sự? Đặc biệt, trong lĩnh vực công chứng, thừa kế cũng là một trong những giao dịch dân sự thiết yếu. Mặc dù pháp luật về công chứng cũng như pháp luật về dân sự đều có quy định về vấn đề này nhưng trong thực tiễn thi hành vẫn xảy ra những bất cập liên quan đến những vấn đề như: Đối với tài sản thế chấp, công chứng viên có thể thực hiện việc công chứng thừa kế hay không, có bắt buộc phải thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì mới được thực hiện công chứng thừa kế, thủ tục công chứng trong trường hợp này phải làm như thế nào...?

1. Có thể thực hiện việc công chứng về thừa kế đối với tài sản thế chấp được hay không?

Về vấn đề này hiện đang có hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng, Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã liệt kê cụ thể những giao dịch dân sự mà tài sản thế chấp được phép đưa vào giao dịch, trong đó không bao gồm thừa kế, cho nên thực hiện thừa kế đối với tài sản thế chấp là không thể, như vậy đương nhiên cũng không thể thực hiện công chứng thừa kế trong trường hợp này được. Tuy nhiên, quan điểm thứ hai lại cho rằng, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì cá nhân, tổ chức được phép thực hiện các giao dịch mà pháp luật không cấm, do đó, mặc dù tại Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định về quyền thừa kế đối với tài sản thế chấp nhưng cũng không có quy định nào cấm việc này, cho nên việc thực hiện thừa kế cũng như công chứng thừa kế đối với tài sản thế chấp là được phép.

2. Hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ có phải là điều kiện bắt buộc trước khi công chứng thừa kế?

Quan điểm thứ nhất cho rằng, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì không thể thực hiện quyền thừa kế. Quan điểm này được lý giải như sau:

Thứ nhất, Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do bên thế chấp để lại, do đó, những người theo quan điểm này cho rằng, những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay bên thế chấp trước rồi mới có quyền thừa kế di sản. Với quan điểm này, việc thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ là bắt buộc, có nguyên lý tương tự như chủ sử dụng đất chỉ được phép thực hiện các quyền của mình sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ tài chính.

Thứ hai, sự kiện pháp lý về kế thừa quyền và nghĩa vụ do người chết để lại ở đây chính là chuyển giao quyền và nghĩa vụ, hay thế quyền và thế nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự. Bởi lẽ, khi những người thừa kế muốn thế nghĩa vụ tài sản do bên thế chấp để lại và thực hiện nghĩa vụ đó thì phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp, nguyên tắc này hoàn toàn trùng khớp với nguyên tắc khi chuyển giao nghĩa vụ dân sự phải có sự đồng ý của bên có quyền. Căn cứ theo Điều 371 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”, do đó, khi nghĩa vụ của người chết đã được chuyển giao thì việc thế chấp cũng chấm dứt, cho nên tài sản thế chấp phải được xóa đăng ký thế chấp hay người thừa kế phải trả xong nợ để được nhận lại giấy tờ tài sản thế chấp và xóa đăng ký thế chấp rồi mới có thể thực hiện việc thừa kế.

Theo quan điểm thứ hai thì căn cứ Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, như vậy, ngay tại thời điểm mở thừa kế những người thừa kế mặc nhiên có đồng thời cả các quyền tài sản cũng như nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, mà ở đây có thể hiểu quyền là quyền thừa kế, nghĩa vụ là nghĩa vụ trả nợ. Đồng thời, pháp luật hiện hành cũng không quy định nghĩa vụ có trước, quyền có sau nên theo quan điểm này thì việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ là không bắt buộc.

3. Thực hiện việc công chứng thừa kế đối với tài sản thế chấp như thế nào?

3.1. Về hồ sơ yêu cầu công chứng

Các loại giấy tờ cần có trong hồ sơ yêu cầu công chứng được thực hiện theo quy định tại Điều 40 và Điều 41 Luật Công chứng năm 2014, tuy nhiên, trên thực tế vẫn phát sinh vướng mắc liên quan về việc xuất trình bản chính giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng (sau đây gọi tắt là giấy tờ tài sản) nhất là đối với tài sản thế chấp, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, không cần xuất trình bản chính giấy tờ tài sản nhưng phải có bản sao có xác nhận của bên nhận thế chấp về việc tài sản hiện đang thế chấp. Việc này có ưu điểm là giảm bớt thủ tục cho bên nhận thế chấp, bên nhận thế chấp cũng không bắt buộc phải tham gia vào quá trình giải quyết công chứng thừa kế. Tuy nhiên, nó lại có nhược điểm: Việc không xuất trình bản chính giấy tờ là vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 40 và khoản 3 Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 (công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản chính của các giấy tờ có trong hồ sơ yêu cầu công chứng để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch), đồng thời, tính xác thực, hợp pháp của đối tượng tài sản trong hợp đồng, giao dịch lúc này cũng không được đảm bảo, có thể gây rủi ro cho công chứng viên khi thực hiện việc công chứng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

Theo quan điểm thứ hai thì phải xuất trình bản chính giấy tờ tài sản. Nó có ưu điểm là thực hiện đúng trình tự, thủ tục cũng như quy định của pháp luật về công chứng; đảm bảo được tính xác thực, hợp pháp của đối tượng giao dịch, đồng thời đảm bảo tính an toàn pháp lý cũng như bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của công chứng viên khi hành nghề và quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan đến hợp đồng, giao dịch được công chứng. Nhưng nhược điểm là bên nhận thế chấp phải tham gia vào quá trình công chứng thừa kế.

3.2. Về văn bản công chứng

Quan điểm thứ nhất cho rằng, chỉ thực hiện công chứng văn bản khai nhận di sản thừa kế đối với tài sản thế chấp mà không thực hiện công chứng thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối với tài sản này. Như vậy sẽ đảm bảo được phần nào quyền thừa kế của người thừa kế cũng như quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp, đồng thời bảo đảm không xảy ra tình trạng có người thừa kế trốn tránh nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Tuy nhiên, khi đó lại không thể thực hiện công chứng thừa kế bằng phương thức thỏa thuận phân chia di sản, đồng nghĩa với việc hạn chế quyền của người thừa kế. Về nội dung văn bản khai nhận di sản thì phải bao hàm cả việc khai nhận di sản là tài sản thế chấp và khai nhận luôn cả khoản nợ do người chết là bên thế chấp để lại.

Quan điểm thứ hai cho rằng, công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoặc văn bản khai nhận di sản thừa kế đều được, tùy thuộc theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng. Theo đó sẽ đảm bảo đầy đủ hơn quyền thừa kế hợp pháp của người thừa kế và phần nào quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp, nhưng lại có nhược điểm là không đảm bảo được việc người thừa kế có trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay không khi thực hiện việc thỏa thuận phân chia di sản, từ đó ảnh hưởng tới quyền đòi nợ của bên nhận thế chấp. Đối với nội dung văn bản thỏa thuận phân chia di sản: Ngoài việc ghi nhận sự thỏa thuận phân chia di sản của những người thừa kế còn cần phải ghi rõ cả sự phân chia nghĩa vụ tài sản đi kèm đối với mỗi người thừa kế để hạn chế việc trốn tránh nghĩa vụ về sau.

4. Quan điểm của tác giả bài viết

Thứ nhất, việc công chứng thừa kế đối với tài sản thế chấp là hoàn toàn có thể thực hiện được. Bởi lẽ, quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của cá nhân, tổ chức. Mặc dù bên thế chấp bị hạn chế quyền định đoạt đối với tài sản thế chấp nhưng không có nghĩa là quyền đó bị mất đi mà vẫn luôn được pháp luật công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Do đó, không thể ngăn cấm bên thế chấp và những người thừa kế hợp pháp thực hiện quyền thừa kế của họ.

Thứ hai, không bắt buộc phải thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ mới có thể công chứng thừa kế. Đối với hai quan điểm về vấn đề này đã nêu ở trên, tác giả cho rằng: (i) Hai sự kiện pháp lý có nguyên lý tương tự không có nghĩa là được phép đồng nhất hai sự kiện pháp lý đó lại với nhau, do đó, không thể bắt người thừa kế phải thanh toán xong nợ thì mới có quyền nhận lại tài sản thế chấp để thực hiện thừa kế như trường hợp nợ nghĩa vụ tài chính trong đất đai; (ii) Ở đây đã có sự đánh tráo khái niệm khi cho rằng chuyển giao quyền và nghĩa vụ của người chết chính là chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự, vì mặc dù nguyên tắc thế nghĩa vụ có sự tương đồng nhưng khi thế quyền lại hoàn toàn khác nhau. Nếu trong chuyển giao quyền dân sự không cần đến sự đồng ý của bên có nghĩa vụ thì khi thực hiện quyền thừa kế đối với tài sản thế chấp, người thừa kế mặc dù cũng là thế quyền nhưng lại vẫn cần sự tham gia cũng như đồng ý của bên nhận thế chấp, do đó, kế thừa quyền và nghĩa vụ ở đây không là chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự (trừ trường hợp trước khi chết, bên thế chấp và bên nhận thế chấp có giao kết văn bản thỏa thuận nêu rõ về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho người thừa kế trong trường hợp bên thế chấp chết thì kế thừa quyền và nghĩa vụ có thể là chuyển giao quyền và nghĩa vụ dân sự). Quan trọng hơn nữa là, việc không bắt buộc phải thực hiện xong nghĩa vụ là hoàn toàn không trái quy định của pháp luật, đồng thời bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của người thừa kế, nhất là trong trường hợp người thừa kế không còn tài sản nào khác ngoài di sản thừa kế là tài sản thế chấp hoặc trường hợp người thừa kế hiện không có khả năng trả nợ thay người chết nên không thể thực hiện nghĩa vụ để được nhận lại tài sản thế chấp.

Thứ ba, thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận hay văn bản khai nhận di sản thừa kế đều được. Nhưng cần lưu ý, người yêu cầu công chứng cần phải xuất trình được bản chính giấy tờ tài sản để chứng minh tính xác thực, hợp pháp của đối tượng tài sản trong giao dịch, hợp đồng. Hồ sơ yêu cầu công chứng ngoài đáp ứng đúng và đủ các giấy tờ theo quy định tại Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng năm 2014 thì còn cần có thêm văn bản xác nhận số dư nợ tại thời điểm thực hiện công chứng thừa kế cũng như văn bản thể hiện sự đồng ý của bên nhận thế chấp đối với việc bên thế chấp thực hiện thừa kế. Nội dung văn bản công chứng cần ghi nhận rõ việc di sản thừa kế là tài sản thế chấp, phân chia/khai nhận thì phải bao hàm cả phân chia/khai nhận nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.

Trần Hồng Minh Phượng

Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: