Thứ sáu 10/04/2026 19:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác hòa giải ở cơ sở tại tỉnh Kon Tum ngày càng được củng cố và tăng cường

Tính đến nay, toàn tỉnh có 831/833 khu dân cư (thôn, làng, tổ dân phố) được hình thành và kiện toàn các tổ hòa giải, với tổng số hòa giải viên là 5.537 thành viên. Bình quân mỗi tổ hòa giải có từ 5 đến 7 hòa giải viên.

Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, công tác hòa giải ở cơ sở tại tỉnh Kon Tum có nhiều chuyển biến tích cực, từ việc hình thành, củng cố tổ chức tổ hòa giải ở các thôn, làng, tổ dân phố, cụm dân cư đã ngày càng đi vào nền nếp và hoạt động có chất lượng, hiệu quả. Công tác hòa giải đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nhất là từ khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Chỉ thị số 03/CT-BTP ngày 26/7/2011 về tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở. Để triển khai thực hiện Chỉ thị số 03 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 1592/UBND-NC ngày 16/9/2011, trên cơ sở đó, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 421/STP-TTPL ngày 27/9/2011 về việc củng cố tăng cường tổ chức và hoạt động công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.

Tính đến nay, toàn tỉnh có 831/833 khu dân cư (thôn, làng, tổ dân phố) được hình thành và kiện toàn các tổ hòa giải, với tổng số hòa giải viên là 5.537 thành viên. Bình quân mỗi tổ hòa giải có từ 5 đến 7 hòa giải viên. Thành phần chủ yếu tổ hòa giải là bao gồm những người có uy tín, trách nhiệm ở khu dân cư như: Già làng, Thôn trưởng, Bí thư chi bộ thôn, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, Đoàn thanh niên... Tùy từng địa phương có sự bầu chọn và được Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận.

Trong năm 2011, nhìn chung các tổ hòa giải ở cơ sở đã đi vào hoạt động có nền nếp và nâng cao chất lượng, nhiều vụ việc đã được hòa giải thành góp phần rất tích cực trong việc ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương không để xảy ra những vụ việc mâu thuẫn, xích mích kéo dài dẫn đến những vụ việc trọng án có thể xảy ra. Năm 2011, theo số liệu báo cáo của 9/9 huyện, thành phố đã thụ lý tổng số 886 vụ việc, trong đó, lĩnh vực dân sự 192 vụ việc; lĩnh vực hôn nhân gia đình 179 vụ việc; lĩnh vực đất đai 308 vụ việc; lĩnh vực môi trường 18 vụ việc và các lĩnh vực khác 108 vụ việc. Kết quả hòa giải thành 645 vụ việc, đạt tỷ lệ 72,8% so với số vụ việc thụ lý. Số vụ việc hướng dẫn chuyển cơ quan chức năng giải quyết theo thẩm quyền là 62 vụ việc; số vụ việc còn lại là giải quyết không thành và đang tiếp tục hòa giải.

Như vậy, qua con số tổng hợp nêu trên cho thấy, hoạt động của tổ viên tổ hòa giải ở cơ sở mà nhiều người hay nói đùa “là những chiến sĩ trên mặt trận thầm lặng, những người ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng...” mà xã hội chúng ta cần phải tuyên dương, trân trọng. Bởi lẽ, trong thực tế có những việc tranh chấp, mâu thuẫn ngay từ đầu tưởng đơn giản nhưng do không được giải quyết kịp thời dẫn đến ngày càng phức tạp và căng thẳng như “cái sảy nảy cái ung”, có những vụ trọng án xảy ra xuất phát từ những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ như: Tranh chấp lối đi, xích mích trong gia đình, chuyện của trẻ con... là nhưng bài học kinh nghiệm quý giá.

Trong thực tiễn cuộc sống của xã hội, việc phát sinh những mâu thuẫn, xích mích trong nội bộ gia đình cũng như hàng xóm láng giềng là khá đa dạng và phong phú như “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Xin nêu một vài ví dụ đã xảy ra ở các địa phương như trường hợp của vợ chồng anh A Vu và chị Y Lan ở huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau to tiếng, nhiều lần anh A Vu đã đánh chị Y Lan gây thương tích nhẹ, sự việc cứ lặp đi, lặp lại nhiều lần. Cứ mỗi khi anh A Vu uống rượu say dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, chị Y Lan có ý định làm đơn xin ly hôn. Được biết sự việc trên được tổ trưởng tổ hòa giải của làng nắm tình hình một cách cụ thể, sau đó trao đổi và phân công già làng là thành viên của tổ hòa giải cùng tham gia hòa giải vụ việc trên. Tổ hòa giải đã mời anh A Vu và chị Y Lan đến làm việc, phân tích quy định của pháp luật về các hành vi bạo lực gia đình, gây ảnh hưởng đến hàng xóm, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc gia đình, chỉ ra những hành vi sai trái của anh A Vu trong thời gian qua là vi phạm pháp luật, là trái với hương ước, quy ước của làng, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương và hạnh phúc gia đình, yêu cầu anh A Vu phải sửa chữa khắc phục. Qua vụ việc hòa giải trên cho thấy với uy tín của già làng là tổ viên tổ hòa giải phân tích có lý, có tình, khá thuyết phục, nên anh A Vu nhận thấy sai trái của mình và hứa sẽ sửa chữa, không tái diễn nữa. Từ đó cuộc sống gia đình anh A Vu và chị Y Lan được êm ấm và hạnh phúc, tập trung chăm lo dạy dỗ các con ăn học và xây dựng cuộc sống ấm no. Nhiều vụ việc xích mích, mâu thuẫn giữa các hàng xóm láng giềng được các tổ hòa giải nắm bắt và thụ lý giải quyết thành công. Đảm bảo sự đoàn kết thống nhất, giữ vững tình làng, nghĩa xóm được tốt đẹp; vai trò của già làng được phát huy hiệu quả.

Có thể khẳng định rằng, công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum ngày càng được quan tâm, củng cố và tăng cường góp phần quan trọng vào việc bảo đảm ổn định tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, phòng chống tội phạm, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư ngày càng đi vào hiệu quả thiết thực.

Tin tưởng rằng, trong thời gian tới các tổ hòa giải cơ sở, mỗi tổ viên là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận thầm lặng sẽ có nhiều đóng góp hơn nữa góp phần xây dựng các khu dân cư ổn định, bình yên và phát triển là cơ sở để thực hiện tốt định hướng của Đảng và nhà nước, đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”

Nguyễn Văn Bảy

Phó Giám đốc Sở Tư pháp Kon Tum

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: