Thứ ba 09/06/2026 03:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Điều 68 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo hộ và Nhà nước tạo điều kiện thực hiện.

Điều 68 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo hộ và Nhà nước tạo điều kiện thực hiện.

Căm-pu-chia là nước láng giềng, có quan hệ truyền thống với Việt Nam trên rất nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong bối cảnh đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, giao lưu, hợp tác của công dân hai nước với nhau được tăng cường đáng kể. Tuy nhiên, trong thời gian qua không ít công dân Việt Nam lợi dụng tình hình đó sang Căm-pu-chia đánh bạc. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền, các cơ quan hữu trách đã tăng cường triển khai nhiều kế hoạch công tác trên lĩnh vực phòng, chống tội phạm nói riêng, vi phạm pháp luật nói chung và phối hợp giải quyết vấn đề người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc, góp phần nâng cao nhận thức của người dân, kiểm soát chặt chẽ hơn tình hình an ninh, trật tự các tuyến biên giới, bước đầu tạo ra được những chuyển biến tích cực, kiềm chế được sự gia tăng số lượng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc.

1. Những thành tựu của công tác đấu tranh phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc

Trong thời gian qua lực lượng công an, quân đội đã nâng cao vai trò nòng cốt, tham mưu, chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các tổ chức và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần kiềm chế được sự gia tăng tội phạm, phòng ngừa, ngăn chặn các tệ nạn xã hội. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Bộ Công an và Kế hoạch số 1535/C41-C42 ngày 09/05/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, công an các đơn vị, địa phương đã chủ động phối hợp với lực lượng bộ đội biên phòng triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc và phát hiện, đấu tranh với các loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác có liên quan. Công tác đấu tranh của các lực lượng phòng, chống tội phạm đã đạt được những thành tựu đáng chú ý như sau:

Một là, đã tham mưu, hướng dẫn triển khai ý kiến chỉ đạo của cấp trên đến công an cấp cơ sở và đôn đốc các đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện. Tổ chức các đoàn khảo sát trên tuyến biên giới Tây Nam và phối hợp nắm tình hình hoạt động của các cơ sở dịch vụ tổ chức đánh bạc cho người nước ngoài tại khách sạn ở một số địa bàn biên giới trên lãnh thổ Việt Nam nhằm đề xuất các biện pháp quản lý về an ninh, trật tự và ngăn chặn các hoạt động đánh bạc qua biên giới. Báo cáo cấp trên về tình hình, kết quả và đề xuất, chỉ đạo lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm; Công an các địa phương phối hợp với các lực lượng liên quan thực hiện một số biện pháp trọng tâm, cấp bách phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết vấn đề người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc.

Hai là, công an các địa phương dọc tuyến biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia đã lập kế hoạch triển khai chuyên đề đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo giải quyết tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc. Đã tổ chức 310 cuộc tuyên truyền trực tiếp cho 34.964 lượt người dân và vận động tự giác cam kết không tham gia các hoạt động cờ bạc; tiến hành nắm tình hình các loại đối tượng sang Căm-pu-chia đánh bạc, lên danh sách và lập hồ sơ 3.152 đối tượng, gồm những người thường xuyên sang Căm-pu-chia đánh bạc, các đối tượng sang Căm-pu-chia đầu tư, tổ chức đánh bạc, cho vay, cầm đồ, môi giới phục vụ hoạt động đánh bạc tại các casino, trường gà, đối tượng có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc (1)…

Ba là, lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm các địa phương tăng cường phối hợp nắm tình hình, chủ động triển khai các kế hoạch nghiệp vụ đấu tranh, xử lý các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật khác liên quan đến hoạt động đánh bạc qua biên giới. Công an một số đơn vị, địa phương có chung đường biên giới với Căm-pu-chia, như Công an tỉnh Kiên Giang, Tây Ninh, An Giang đã chú trọng tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện các đường dây môi giới, dẫn dắt và tổ chức đưa người sang Căm-pu-chia đánh bạc. Trong 6 tháng từ khi triển khai Kế hoạch số 1535/C41-C42, công an các đơn vị, địa phương đã phát hiện, xử lý 41 vụ với 45 đối tượng có hành vi phạm tội liên quan đến hoạt động đánh bạc qua biên giới Căm-pu-chia, giải cứu 15 nạn nhân bị bắt giữ trái pháp luật; tiếp tục đấu tranh nhằm triệt phá các băng nhóm, tổ chức tội phạm cưỡng đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật liên quan đến đánh bạc ở Căm-pu-chia và triệt phá nhiều đường dây môi giới, đưa người sang Căm-pu-chia đánh bạc (bước đầu đã bắt giữ 05 đối tượng để đấu tranh, xử lý). Riêng Công an tỉnh Tây Ninh đã phát hiện, xử lý vi phạm hành chính 140 đối tượng xuất cảnh trái phép qua biên giới, phạt tiền tổng số 178.150.000 đồng, lập hồ sơ quản lý đối với 418 đối tượng; phối hợp với cảnh sát Căm-pu-chia bắt 02 đối tượng có hành vi bắt giữ người trái pháp luật (2)…

Bốn là, lực lượng chức năng các đơn vị, địa phương đã tiến hành rà soát, bổ sung và lập hồ sơ về 107 xã, phường, thị trấn giáp biên giới Căm-pu-chia; thống kê lên danh sách và áp dụng các biện pháp quản lý giáo dục trên 5.000 người thường xuyên qua lại biên giới có biểu hiện đánh bạc. Cục Cửa khẩu - Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng phát hiện bắt giữ 300 trường hợp xuất cảnh trái phép qua các đường mòn khu vực biên giới sang Căm-pu-chia đánh bạc, ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo 279 đối tượng, phạt tiền 31 đối tượng với tổng số tiền 37.650.000 đồng, tiêu hủy 08 con gà chọi sử dụng để phục vụ tổ chức đánh bạc, đồng thời thông báo cho chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng nơi các đối tượng cư trú để giáo dục, quản lý. Cục Điều tra tội phạm ma túy - Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng đã chỉ đạo, phối hợp với lực lượng biên phòng các tỉnh trên tuyến biên giới Tây Nam tổ chức 130 buổi tuyên truyền cho 3.796 người dân, vận động 1.786 hộ dân tại khu vực biên giới cam kết không đưa đón người qua biên giới trái phép, không sang Căm-pu-chia đánh bạc; mở hồ sơ theo dõi 40 casino, trường gà; lập hồ sơ quản lý, giáo dục 51 đối tượng chủ mưu, cầm đầu tổ chức lôi kéo người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc; xử lý hành chính 163 vụ với 344 đối tượng xuất cảnh trái phép sang Căm-pu-chia tham gia đánh bạc, khởi tố 04 vụ với 04 đối tượng vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới (3).

2. Những khó khăn, hạn chế trong công tác đấu tranh phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc

Mặc dù các lực lượng chức năng đã rất nỗ lực và đạt được nhiều thành tựu trong công tác đấu tranh, nhưng do nhiều nguyên dân, diễn biến tình hình vẫn còn rất phức tạp, trung bình hàng ngày có trên 3.000 lượt người Việt Nam sang Căm-pu-chia để tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Theo số liệu thống kê của các cơ quan chức năng, trung bình mỗi ngày số lượng tiền của người Việt Nam bị mất do thua bạc ở Căm-pu-chia lên tới khoảng 2 triệu USD (4). Tình trạng này làm cho nhiều người dân lâm vào cảnh nợ nần, mất nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, mất việc làm, sản xuất đình trệ; phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, đạo đức gia đình bị xuống cấp; các loại tội phạm, tệ nạn phát sinh phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của không chỉ khu vực biên giới mà còn lan rộng ở nhiều địa phương trong cả nước. Công tác phối hợp giải quyết tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc ở các đơn vị, địa phương trong thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Những khó khăn, hạn chế trong công tác đấu tranh với tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, giáo dục và quản lý các đối tượng có hành vi qua biên giới đánh bạc chưa thực sự có hiệu quả; số lượt người được tuyên truyền, cam kết không vi phạm tệ nạn xã hội khá lớn, nhưng chưa thể hiện được hiệu quả thực tế của công tác này, vẫn còn hàng nghìn người tái phạm nhiều lần nhưng không xử lý, ngăn chặn được.

Thứ hai, công tác nắm tình hình chưa sâu, chưa nắm được đầy đủ hoạt động và hậu quả của tình trạng người dân sang Căm-pu-chia đánh bạc và những tội phạm, vi phạm pháp luật khác có liên quan. Do đó, việc đề ra các chủ trương, giải pháp còn bất cập; chưa đầu tư đúng mức cho công tác phòng, chống tội phạm và giải quyết vấn đề người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc.

Thứ ba, các hoạt động tổ chức lôi kéo, đưa người sang Căm-pu-chia đánh bạc, đòi nợ thuê, xiết nợ, cưỡng đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật… có liên quan đến đánh bạc ở Căm-pu-chia diễn biến rất phức tạp, nhưng việc phát hiện, triệt phá, xử lý các đường dây, ổ nhóm này chưa nhiều và hiệu quả chưa cao.

Thứ tư, các đơn vị, địa phương nhìn chung vẫn còn bị động trước những khó khăn, vướng mắc trong vận dụng chính sách, pháp luật, chưa chủ động áp dụng các biện pháp để phối hợp ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm.

Tóm lại, mặc dù các cơ quan hữu trách đã có nhiều nỗ lực để kiềm chế tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc nhưng tình hình vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Chính vì vậy, cần phải xây dựng và tổ chức thực hiện một cách đồng bộ và có hiệu các giải pháp để kiềm chế và đẩy lùi tình trạng này.

3. Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc

Nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc, cần phải tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp với phương châm chỉ đạo là phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy, chính quyền, chủ công là lực lượng Công an, Bộ đội biên phòng; kiên trì và tăng cường chỉ đạo giải quyết; tập trung phòng ngừa, đấu tranh trong nội địa là chính, cụ thể như sau:

Một là, lực lượng công an phải đóng vai trò chủ trì, chủ động phối hợp với quân đội (chủ yếu là bộ đội biên phòng) và các ngành có liên quan tiếp tục tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, Kết luận số 86/KL/TW ngày 05/11/2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05/CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới” và các Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm; tăng cường quản lý, phát triển kinh tế - xã hội đối với khu vực biên giới; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tranh thủ người có uy tín, già làng, trưởng bản…, vận động nhân dân không tham gia đánh bạc và các tệ nạn xã hội khác; lồng ghép vấn đề này trong phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng các khu dân cư, gia đình văn hóa. Trong số người sang Căm-pu-chia đánh bặc, tỷ lệ phụ nữ và thanh niên chiếm đa số (trên 70%), vì vậy, cần quan tâm chỉ đạo, phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên trong công tác phòng ngừa, giáo dục, ngăn chặn tình trạng thanh niên, phụ nữ tham gia đánh bạc.

Hai là, lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm cần tăng cường toàn diện hơn công tác phòng, chống các loại tội phạm nói riêng, vi phạm pháp luật nói chung liên quan đến hoạt động đánh bạc qua biên giới, tập trung thực hiện các biện pháp cụ thể sau:

(i) Tiếp tục khảo sát nắm tình hình toàn diện hoạt động của các sòng bạc, trường gà; tình hình người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc và hậu quả của tình hình này gây ra. Mở hồ sơ theo dõi từng hệ loại đối tượng sang Căm-pu-chia đánh bạc, phân loại cụ thể để có biện pháp, đối sách với từng loại đối tượng:

- Đối với các đối tượng bảo kê, dẫn dắt, tổ chức đưa người đi đánh bạc, xiết nợ, đòi nợ thuê thì cần tập trung thu thập chứng cứ để đấu tranh xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Chú ý nắm chắc tình hình các đường dây đưa đón người đến sòng bạc để làm rõ tính chất, mức độ, phương thức, thủ đoạn, quy luật hoạt động của các đối tượng; xây dựng hồ sơ các tổ chức, băng ổ nhóm tội phạm đang có biểu hiện hoạt động để tiến hành đấu tranh, triệt phá kịp thời, không để hình thành các tổ chức tội phạm theo kiểu “xã hội đen”.

- Đối với số đối tượng thường xuyên sang Căm-pu-chia đánh bạc cần củng cố hồ sơ, chứng cứ và phối hợp với lực lượng quản lý xuất nhập cảnh, bộ đội biên phòng ở các cửa khẩu để hạn chế xuất, nhập cảnh. Áp dụng các biện pháp hành chính, quản lý theo quy định tại Nghị định số 163/CP; thường xuyên răn đe, giáo dục; nếu tái phạm và có biểu hiện phạm tội thì phải kiên quyết xử lý.

- Các đối tượng khác có biểu hiện vi phạm cần lập danh sách tiếp tục theo dõi, quản lý và thông báo về xã, phường, thị trấn, khu dân cư để có biện pháp giáo dục; thông báo kịp thời cho các cơ quan, tổ chức các thông tin về cán bộ, đảng viên, hội viên vi phạm hoặc có liên quan đến các hoạt động đánh bạc để giáo dục, xử lý nghiêm khắc.

(ii) Triển khai các biện pháp, phương tiện kỹ thuật đấu tranh với các hoạt động sử dụng công nghệ cao để đánh bạc. Thực hiện tốt công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa các lực lượng công an, bộ đội biên phòng, hải quan; tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng của Căm-pu-chia nhằm đấu tranh có hiệu quả với các tổ chức, đối tượng hoạt động lưu động mang tính xuyên quốc gia. Phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông đường thủy, đường bộ qua biên giới, ngăn chặn các hành vi vận chuyển hàng hóa, tiền tệ và xuất, nhập cảnh trái phép.

(iii) Khẩn trương điều tra các vụ án đã xảy ra tại khu vực biên giới có liên quan đến hoạt động đánh bạc, như giết người, cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, lừa đảo, cho vay nặng lãi… Lực lượng công an phối hợp với các ngành chức năng sớm đưa ra xét xử công khai để tuyên truyền, giáo dục, răn đe các đối tượng khác, đồng thời giúp nhân dân hiểu rõ tác hại của hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, từ đó có nhận thức đẩy đủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

Ba là, công an các tỉnh giáp biên giới Căm-pu-chia phối hợp chặt chẽ với Bộ đội biên phòng, lực lượng quản lý xuất, nhập cảnh, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tăng cường các mặt công tác cơ bản, cụ thể là:

(i) Phối hợp chặt chẽ trong việc cấp giấy thông hành sang Căm-pu-chia; tăng cường công tác quản lý, kiểm soát hộ chiếu, giấy thông hành, người, phương tiện xuất, nhập cảnh; tuần tra kiểm soát khu vực giáp ranh dọc biên giới hai nước; triển khai các kế hoạch, biện pháp nhằm kịp thời phát hiện và phối hợp đấu tranh xử lý các hành vi tham gia tổ chức đánh bạc và các loại tội phạm khác trên tuyến biên giới.

(ii) Thông qua các cuộc giao ban định kỳ, đột xuất của Công an, Bộ đội biên phòng các tỉnh, các huyện, các đồn Biên phòng giữa hai nước để trao đổi, phối hợp đấu tranh ngăn chặn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc chung cũng như phối hợp giải quyết các vụ việc cụ thể, bắt giữ, xử lý các đối tượng vi phạm.

(iii) Lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm phối hợp với lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tập trung rà soát tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh cầm đồ, cho vay nặng lãi, kịp thời phát hiện, xử lý các hoạt động mang tính “tín dụng đen”, cưỡng đoạt tài sản, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có; tăng cường công tác quản lý cư trú, nắm chặt chẽ tình hình công dân tạm vắng nhiều ngày sang Căm-pu-chia tham gia các hoạt động tổ chức đánh bạc, đánh bạc chuyên nghiệp.

(iv) Lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công an đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành “Chỉ thị về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật khác”. Các đơn vị, địa phương cần đưa nhiệm vụ đấu tranh với tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc vào chương trình công tác thường kỳ để tập trung chỉ đạo thực hiện, không chỉ ở địa bàn biên giới, mà cần triển khai trên toàn quốc nhằm tạo chuyển biến tốt hơn trong đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội.

(v) Tổ chức rà soát, nghiên cứu đề xuất sơ kết việc thực hiện Hiệp định về quy chế biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia và các văn bản có liên quan đến vấn để bảo vệ an ninh biên giới; đánh giá những việc đã thực hiện và tồn tại, khó khăn, vướng mắc, từ đó có kiến nghị, đề xuất những giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm tham mưu cho Đảng, Nhà nước chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung nhằm tăng cường quan hệ hợp tác đối ngoại, đồng thời đảm bảo các yêu cầu bảo vệ an ninh; trật tự khu vực biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia.

Trên đây là những giải pháp cơ bản, mang tính đột phá, cần được các đơn vị liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp triển khai một cách đồng bộ để kiềm chế, đẩy lùi tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc trong thời gian tới.

Hồ Thế Hòe

(1) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

(2) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

(3) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

(4) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: