Chủ nhật 25/10/2026 16:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-Pu-Chia đánh bạc thực trạng và giải pháp

Điều 68 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo hộ và Nhà nước tạo điều kiện thực hiện.

Điều 68 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật”. Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo hộ và Nhà nước tạo điều kiện thực hiện.

Căm-pu-chia là nước láng giềng, có quan hệ truyền thống với Việt Nam trên rất nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong bối cảnh đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, giao lưu, hợp tác của công dân hai nước với nhau được tăng cường đáng kể. Tuy nhiên, trong thời gian qua không ít công dân Việt Nam lợi dụng tình hình đó sang Căm-pu-chia đánh bạc. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền, các cơ quan hữu trách đã tăng cường triển khai nhiều kế hoạch công tác trên lĩnh vực phòng, chống tội phạm nói riêng, vi phạm pháp luật nói chung và phối hợp giải quyết vấn đề người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc, góp phần nâng cao nhận thức của người dân, kiểm soát chặt chẽ hơn tình hình an ninh, trật tự các tuyến biên giới, bước đầu tạo ra được những chuyển biến tích cực, kiềm chế được sự gia tăng số lượng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc.

1. Những thành tựu của công tác đấu tranh phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc

Trong thời gian qua lực lượng công an, quân đội đã nâng cao vai trò nòng cốt, tham mưu, chỉ đạo, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các tổ chức và nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần kiềm chế được sự gia tăng tội phạm, phòng ngừa, ngăn chặn các tệ nạn xã hội. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo Bộ Công an và Kế hoạch số 1535/C41-C42 ngày 09/05/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, công an các đơn vị, địa phương đã chủ động phối hợp với lực lượng bộ đội biên phòng triển khai nhiều biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc và phát hiện, đấu tranh với các loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác có liên quan. Công tác đấu tranh của các lực lượng phòng, chống tội phạm đã đạt được những thành tựu đáng chú ý như sau:

Một là, đã tham mưu, hướng dẫn triển khai ý kiến chỉ đạo của cấp trên đến công an cấp cơ sở và đôn đốc các đơn vị, địa phương tổ chức thực hiện. Tổ chức các đoàn khảo sát trên tuyến biên giới Tây Nam và phối hợp nắm tình hình hoạt động của các cơ sở dịch vụ tổ chức đánh bạc cho người nước ngoài tại khách sạn ở một số địa bàn biên giới trên lãnh thổ Việt Nam nhằm đề xuất các biện pháp quản lý về an ninh, trật tự và ngăn chặn các hoạt động đánh bạc qua biên giới. Báo cáo cấp trên về tình hình, kết quả và đề xuất, chỉ đạo lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm; Công an các địa phương phối hợp với các lực lượng liên quan thực hiện một số biện pháp trọng tâm, cấp bách phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết vấn đề người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc.

Hai là, công an các địa phương dọc tuyến biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia đã lập kế hoạch triển khai chuyên đề đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo giải quyết tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc. Đã tổ chức 310 cuộc tuyên truyền trực tiếp cho 34.964 lượt người dân và vận động tự giác cam kết không tham gia các hoạt động cờ bạc; tiến hành nắm tình hình các loại đối tượng sang Căm-pu-chia đánh bạc, lên danh sách và lập hồ sơ 3.152 đối tượng, gồm những người thường xuyên sang Căm-pu-chia đánh bạc, các đối tượng sang Căm-pu-chia đầu tư, tổ chức đánh bạc, cho vay, cầm đồ, môi giới phục vụ hoạt động đánh bạc tại các casino, trường gà, đối tượng có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc (1)…

Ba là, lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm các địa phương tăng cường phối hợp nắm tình hình, chủ động triển khai các kế hoạch nghiệp vụ đấu tranh, xử lý các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật khác liên quan đến hoạt động đánh bạc qua biên giới. Công an một số đơn vị, địa phương có chung đường biên giới với Căm-pu-chia, như Công an tỉnh Kiên Giang, Tây Ninh, An Giang đã chú trọng tăng cường công tác nắm tình hình, phát hiện các đường dây môi giới, dẫn dắt và tổ chức đưa người sang Căm-pu-chia đánh bạc. Trong 6 tháng từ khi triển khai Kế hoạch số 1535/C41-C42, công an các đơn vị, địa phương đã phát hiện, xử lý 41 vụ với 45 đối tượng có hành vi phạm tội liên quan đến hoạt động đánh bạc qua biên giới Căm-pu-chia, giải cứu 15 nạn nhân bị bắt giữ trái pháp luật; tiếp tục đấu tranh nhằm triệt phá các băng nhóm, tổ chức tội phạm cưỡng đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật liên quan đến đánh bạc ở Căm-pu-chia và triệt phá nhiều đường dây môi giới, đưa người sang Căm-pu-chia đánh bạc (bước đầu đã bắt giữ 05 đối tượng để đấu tranh, xử lý). Riêng Công an tỉnh Tây Ninh đã phát hiện, xử lý vi phạm hành chính 140 đối tượng xuất cảnh trái phép qua biên giới, phạt tiền tổng số 178.150.000 đồng, lập hồ sơ quản lý đối với 418 đối tượng; phối hợp với cảnh sát Căm-pu-chia bắt 02 đối tượng có hành vi bắt giữ người trái pháp luật (2)…

Bốn là, lực lượng chức năng các đơn vị, địa phương đã tiến hành rà soát, bổ sung và lập hồ sơ về 107 xã, phường, thị trấn giáp biên giới Căm-pu-chia; thống kê lên danh sách và áp dụng các biện pháp quản lý giáo dục trên 5.000 người thường xuyên qua lại biên giới có biểu hiện đánh bạc. Cục Cửa khẩu - Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng phát hiện bắt giữ 300 trường hợp xuất cảnh trái phép qua các đường mòn khu vực biên giới sang Căm-pu-chia đánh bạc, ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo 279 đối tượng, phạt tiền 31 đối tượng với tổng số tiền 37.650.000 đồng, tiêu hủy 08 con gà chọi sử dụng để phục vụ tổ chức đánh bạc, đồng thời thông báo cho chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng nơi các đối tượng cư trú để giáo dục, quản lý. Cục Điều tra tội phạm ma túy - Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng đã chỉ đạo, phối hợp với lực lượng biên phòng các tỉnh trên tuyến biên giới Tây Nam tổ chức 130 buổi tuyên truyền cho 3.796 người dân, vận động 1.786 hộ dân tại khu vực biên giới cam kết không đưa đón người qua biên giới trái phép, không sang Căm-pu-chia đánh bạc; mở hồ sơ theo dõi 40 casino, trường gà; lập hồ sơ quản lý, giáo dục 51 đối tượng chủ mưu, cầm đầu tổ chức lôi kéo người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc; xử lý hành chính 163 vụ với 344 đối tượng xuất cảnh trái phép sang Căm-pu-chia tham gia đánh bạc, khởi tố 04 vụ với 04 đối tượng vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới (3).

2. Những khó khăn, hạn chế trong công tác đấu tranh phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc

Mặc dù các lực lượng chức năng đã rất nỗ lực và đạt được nhiều thành tựu trong công tác đấu tranh, nhưng do nhiều nguyên dân, diễn biến tình hình vẫn còn rất phức tạp, trung bình hàng ngày có trên 3.000 lượt người Việt Nam sang Căm-pu-chia để tổ chức đánh bạc và đánh bạc. Theo số liệu thống kê của các cơ quan chức năng, trung bình mỗi ngày số lượng tiền của người Việt Nam bị mất do thua bạc ở Căm-pu-chia lên tới khoảng 2 triệu USD (4). Tình trạng này làm cho nhiều người dân lâm vào cảnh nợ nần, mất nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, mất việc làm, sản xuất đình trệ; phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, đạo đức gia đình bị xuống cấp; các loại tội phạm, tệ nạn phát sinh phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự của không chỉ khu vực biên giới mà còn lan rộng ở nhiều địa phương trong cả nước. Công tác phối hợp giải quyết tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc ở các đơn vị, địa phương trong thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Những khó khăn, hạn chế trong công tác đấu tranh với tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, công tác tuyên truyền, giáo dục và quản lý các đối tượng có hành vi qua biên giới đánh bạc chưa thực sự có hiệu quả; số lượt người được tuyên truyền, cam kết không vi phạm tệ nạn xã hội khá lớn, nhưng chưa thể hiện được hiệu quả thực tế của công tác này, vẫn còn hàng nghìn người tái phạm nhiều lần nhưng không xử lý, ngăn chặn được.

Thứ hai, công tác nắm tình hình chưa sâu, chưa nắm được đầy đủ hoạt động và hậu quả của tình trạng người dân sang Căm-pu-chia đánh bạc và những tội phạm, vi phạm pháp luật khác có liên quan. Do đó, việc đề ra các chủ trương, giải pháp còn bất cập; chưa đầu tư đúng mức cho công tác phòng, chống tội phạm và giải quyết vấn đề người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc.

Thứ ba, các hoạt động tổ chức lôi kéo, đưa người sang Căm-pu-chia đánh bạc, đòi nợ thuê, xiết nợ, cưỡng đoạt tài sản, bắt giữ người trái pháp luật… có liên quan đến đánh bạc ở Căm-pu-chia diễn biến rất phức tạp, nhưng việc phát hiện, triệt phá, xử lý các đường dây, ổ nhóm này chưa nhiều và hiệu quả chưa cao.

Thứ tư, các đơn vị, địa phương nhìn chung vẫn còn bị động trước những khó khăn, vướng mắc trong vận dụng chính sách, pháp luật, chưa chủ động áp dụng các biện pháp để phối hợp ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm.

Tóm lại, mặc dù các cơ quan hữu trách đã có nhiều nỗ lực để kiềm chế tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc nhưng tình hình vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Chính vì vậy, cần phải xây dựng và tổ chức thực hiện một cách đồng bộ và có hiệu các giải pháp để kiềm chế và đẩy lùi tình trạng này.

3. Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc

Nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc, cần phải tiến hành đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp với phương châm chỉ đạo là phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy, chính quyền, chủ công là lực lượng Công an, Bộ đội biên phòng; kiên trì và tăng cường chỉ đạo giải quyết; tập trung phòng ngừa, đấu tranh trong nội địa là chính, cụ thể như sau:

Một là, lực lượng công an phải đóng vai trò chủ trì, chủ động phối hợp với quân đội (chủ yếu là bộ đội biên phòng) và các ngành có liên quan tiếp tục tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, Kết luận số 86/KL/TW ngày 05/11/2010 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05/CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới” và các Chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm; tăng cường quản lý, phát triển kinh tế - xã hội đối với khu vực biên giới; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tranh thủ người có uy tín, già làng, trưởng bản…, vận động nhân dân không tham gia đánh bạc và các tệ nạn xã hội khác; lồng ghép vấn đề này trong phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng các khu dân cư, gia đình văn hóa. Trong số người sang Căm-pu-chia đánh bặc, tỷ lệ phụ nữ và thanh niên chiếm đa số (trên 70%), vì vậy, cần quan tâm chỉ đạo, phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên trong công tác phòng ngừa, giáo dục, ngăn chặn tình trạng thanh niên, phụ nữ tham gia đánh bạc.

Hai là, lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm cần tăng cường toàn diện hơn công tác phòng, chống các loại tội phạm nói riêng, vi phạm pháp luật nói chung liên quan đến hoạt động đánh bạc qua biên giới, tập trung thực hiện các biện pháp cụ thể sau:

(i) Tiếp tục khảo sát nắm tình hình toàn diện hoạt động của các sòng bạc, trường gà; tình hình người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc và hậu quả của tình hình này gây ra. Mở hồ sơ theo dõi từng hệ loại đối tượng sang Căm-pu-chia đánh bạc, phân loại cụ thể để có biện pháp, đối sách với từng loại đối tượng:

- Đối với các đối tượng bảo kê, dẫn dắt, tổ chức đưa người đi đánh bạc, xiết nợ, đòi nợ thuê thì cần tập trung thu thập chứng cứ để đấu tranh xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Chú ý nắm chắc tình hình các đường dây đưa đón người đến sòng bạc để làm rõ tính chất, mức độ, phương thức, thủ đoạn, quy luật hoạt động của các đối tượng; xây dựng hồ sơ các tổ chức, băng ổ nhóm tội phạm đang có biểu hiện hoạt động để tiến hành đấu tranh, triệt phá kịp thời, không để hình thành các tổ chức tội phạm theo kiểu “xã hội đen”.

- Đối với số đối tượng thường xuyên sang Căm-pu-chia đánh bạc cần củng cố hồ sơ, chứng cứ và phối hợp với lực lượng quản lý xuất nhập cảnh, bộ đội biên phòng ở các cửa khẩu để hạn chế xuất, nhập cảnh. Áp dụng các biện pháp hành chính, quản lý theo quy định tại Nghị định số 163/CP; thường xuyên răn đe, giáo dục; nếu tái phạm và có biểu hiện phạm tội thì phải kiên quyết xử lý.

- Các đối tượng khác có biểu hiện vi phạm cần lập danh sách tiếp tục theo dõi, quản lý và thông báo về xã, phường, thị trấn, khu dân cư để có biện pháp giáo dục; thông báo kịp thời cho các cơ quan, tổ chức các thông tin về cán bộ, đảng viên, hội viên vi phạm hoặc có liên quan đến các hoạt động đánh bạc để giáo dục, xử lý nghiêm khắc.

(ii) Triển khai các biện pháp, phương tiện kỹ thuật đấu tranh với các hoạt động sử dụng công nghệ cao để đánh bạc. Thực hiện tốt công tác phối hợp, trao đổi thông tin giữa các lực lượng công an, bộ đội biên phòng, hải quan; tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng của Căm-pu-chia nhằm đấu tranh có hiệu quả với các tổ chức, đối tượng hoạt động lưu động mang tính xuyên quốc gia. Phối hợp với lực lượng cảnh sát giao thông tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên các tuyến giao thông đường thủy, đường bộ qua biên giới, ngăn chặn các hành vi vận chuyển hàng hóa, tiền tệ và xuất, nhập cảnh trái phép.

(iii) Khẩn trương điều tra các vụ án đã xảy ra tại khu vực biên giới có liên quan đến hoạt động đánh bạc, như giết người, cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, lừa đảo, cho vay nặng lãi… Lực lượng công an phối hợp với các ngành chức năng sớm đưa ra xét xử công khai để tuyên truyền, giáo dục, răn đe các đối tượng khác, đồng thời giúp nhân dân hiểu rõ tác hại của hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, từ đó có nhận thức đẩy đủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

Ba là, công an các tỉnh giáp biên giới Căm-pu-chia phối hợp chặt chẽ với Bộ đội biên phòng, lực lượng quản lý xuất, nhập cảnh, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tăng cường các mặt công tác cơ bản, cụ thể là:

(i) Phối hợp chặt chẽ trong việc cấp giấy thông hành sang Căm-pu-chia; tăng cường công tác quản lý, kiểm soát hộ chiếu, giấy thông hành, người, phương tiện xuất, nhập cảnh; tuần tra kiểm soát khu vực giáp ranh dọc biên giới hai nước; triển khai các kế hoạch, biện pháp nhằm kịp thời phát hiện và phối hợp đấu tranh xử lý các hành vi tham gia tổ chức đánh bạc và các loại tội phạm khác trên tuyến biên giới.

(ii) Thông qua các cuộc giao ban định kỳ, đột xuất của Công an, Bộ đội biên phòng các tỉnh, các huyện, các đồn Biên phòng giữa hai nước để trao đổi, phối hợp đấu tranh ngăn chặn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc chung cũng như phối hợp giải quyết các vụ việc cụ thể, bắt giữ, xử lý các đối tượng vi phạm.

(iii) Lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm phối hợp với lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tập trung rà soát tình hình hoạt động của các cơ sở kinh doanh cầm đồ, cho vay nặng lãi, kịp thời phát hiện, xử lý các hoạt động mang tính “tín dụng đen”, cưỡng đoạt tài sản, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có; tăng cường công tác quản lý cư trú, nắm chặt chẽ tình hình công dân tạm vắng nhiều ngày sang Căm-pu-chia tham gia các hoạt động tổ chức đánh bạc, đánh bạc chuyên nghiệp.

(iv) Lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Công an đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành “Chỉ thị về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật khác”. Các đơn vị, địa phương cần đưa nhiệm vụ đấu tranh với tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc vào chương trình công tác thường kỳ để tập trung chỉ đạo thực hiện, không chỉ ở địa bàn biên giới, mà cần triển khai trên toàn quốc nhằm tạo chuyển biến tốt hơn trong đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội.

(v) Tổ chức rà soát, nghiên cứu đề xuất sơ kết việc thực hiện Hiệp định về quy chế biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia và các văn bản có liên quan đến vấn để bảo vệ an ninh biên giới; đánh giá những việc đã thực hiện và tồn tại, khó khăn, vướng mắc, từ đó có kiến nghị, đề xuất những giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm tham mưu cho Đảng, Nhà nước chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung nhằm tăng cường quan hệ hợp tác đối ngoại, đồng thời đảm bảo các yêu cầu bảo vệ an ninh; trật tự khu vực biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia.

Trên đây là những giải pháp cơ bản, mang tính đột phá, cần được các đơn vị liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp triển khai một cách đồng bộ để kiềm chế, đẩy lùi tình trạng người Việt Nam sang Căm-pu-chia đánh bạc trong thời gian tới.

Hồ Thế Hòe

(1) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

(2) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

(3) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

(4) Báo cáo số 4829/C41 - C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm - Bộ Công an.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.

Theo dõi chúng tôi trên: