Thứ ba 17/03/2026 03:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dân chủ trực tiếp và yêu cầu hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp theo Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Tóm tắt: Dân chủ trực tiếp là hình thức người dân tự mình quyết định (không thông qua những người do mình bầu ra như dân chủ đại diện) các luật lệ và chính sách quan trọng của cộng đồng và quốc gia. Bài viết phân tích vấn đề dân chủ, dân chủ trực tiếp trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Từ đó, bài viết rút ra một số yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta trong thời gian tới.

Tóm tắt: Dân chủ trực tiếp là hình thức người dân tự mình quyết định (không thông qua những người do mình bầu ra như dân chủ đại diện) các luật lệ và chính sách quan trọng của cộng đồng và quốc gia. Bài viết phân tích vấn đề dân chủ, dân chủ trực tiếp trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Từ đó, bài viết rút ra một số yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta trong thời gian tới.

Abstract: Direct democracy is a form in which the people decide for themselves (not through their elected representatives like representative democracy) the important laws and policies of the community and the nation. The article analyzes democracy and direct democracy in Documents of the 13th Party Congress. From that, the article gives some requirements for the law improvement on direct democracy in the coming time.

1. Khái quát chung về dân chủ trực tiếp

Dân chủ trực tiếp (direct democracy) là một trong hai hình thức chính của dân chủ (hình thức thứ hai là dân chủ đại diện - representative democracy). Đây là hình thức người dân tự mình quyết định (không thông qua những người do mình bầu ra như dân chủ đại diện) các luật lệ và chính sách quan trọng của cộng đồng và đất nước[1]. Dân chủ trực tiếp gắn liền với nguồn gốc bản chất của khái niệm dân chủ. Theo tiếng Hy Lạp, khái niệm dân chủ (demokratia) có nghĩa là “quyền lực hay sự cai trị của nhân dân” (power/rule of the people)[2]. Chính vì vậy, dân chủ trực tiếp còn được gọi là dân chủ đích thực hay nguyên nghĩa (pure/true democracy) và cách thức, hiệu quả thực thi hình thức này được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá liệu chính quyền có thực sự “của dân, do dân và vì dân” hay không[3].

Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức (hay công cụ) dân chủ trực tiếp sau đây[4]: (i) Trưng cầu ý dân; (ii) Sáng kiến của công dân; (iii) Sáng kiến chương trình nghị sự; (iv) Bãi miễn đại biểu dân cử; (v) Dân chủ trực tiếp điện tử. Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội... của mỗi quốc gia mà hệ thống các hình thức dân chủ trực tiếp có thể sẽ được bổ sung, phát triển. Ngoài những hình thức dân chủ trực tiếp cơ bản này, còn có một số hình thức khác như: Bầu cử, ứng cử; lấy ý kiến nhân dân; phản biện xã hội; khiếu nại, tố cáo... Theo một nghiên cứu của Viện Quốc tế về dân chủ và hỗ trợ bầu cử của Thụy Điển (The International Institute for Democracy and Electoral Assistance - IDEA) công bố vào năm 2008, việc áp dụng các hình thức dân chủ trực tiếp trên thế giới đã tăng lên đáng kể trong vài thập kỷ gần đây, xét cả về số quốc gia áp dụng và số vấn đề được đề xuất và đưa ra bỏ phiếu[5].

Có thể thấy, đặc tính chủ yếu của các hình thức dân chủ trực tiếp là nhanh chóng. Vì vậy, chúng luôn bảo đảm tính nguyên vẹn ý chí chính trị của nhân dân; đồng thời, có tác dụng chuyển tải ý chí chính trị của nhân dân một cách trực tiếp các vấn đề quốc gia. Bên cạnh đó, nhân dân cũng có đủ cơ sở để kiểm soát con đường chính trị của các cơ quan quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, dân chủ trực tiếp không phải chỉ có ưu điểm, mà còn có những nhược điểm. Do đó, trong khi nó cần được thúc đẩy, việc lựa chọn hình thức và thời điểm thực hiện dân chủ trực tiếp cần phải được cân nhắc thận trọng. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, không có khuôn mẫu chung cho việc vận dụng các hình thức dân chủ trực tiếp ở mọi quốc gia, cũng như cho các giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia[6].

2. Các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về dân chủ trực tiếp theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Ở Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa động lực của sự phát triển đất nước. Trải qua các thời kỳ phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm chiến lược này[7]. Điều này cũng được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (trong đó có vấn đề dân chủ trực tiếp):

Thứ nhất, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh, cần thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở[8]. Theo đó, thực hiện dân chủ trực tiếp, nhất là dân chủ ở cơ sở tiếp tục là một trong những giải pháp trọng tâm để đưa đất nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới[9]. Như vậy, Đại hội lần thứ XIII tiếp tục nhấn mạnh vị trí, vai trò của các hình thức dân chủ đối với sự phát triển của đất nước.

Thứ hai, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; tăng cường tạo đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”[10]. Xuất phát từ định hướng này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung, phát triển những quan điểm mới về thực hành và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa (trong đó có dân chủ trực tiếp) như sau[11]:

- Đề cao quyền làm chủ trực tiếp và vai trò tự quản của nhân dân. Đây không phải là yêu cầu mới đặt ra lần đầu nhưng việc thực thi còn vướng mắc, hiệu quả thực tế chưa cao. Do vậy, nhấn mạnh yêu cầu “quyền làm chủ trực tiếp và vai trò tự quản của nhân dân” chính là cách để phát huy hiệu quả tích cực, thực tế vai trò là chủ và làm chủ của người dân trong đời sống xã hội, thể hiện đúng và đầy đủ hơn bản chất tốt đẹp của chế độ ta là chế độ của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Bên cạnh đó, từ quan niệm về dân xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng chủ trương phải thân dân, tin dân, trọng dân, gần dân, sát dân, hiểu dân, yêu dân, kính dân, vì dân; gắn với phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm[12].

- Bổ sung thêm nội dung, phương châm thực hiện dân chủ như, “dân kiểm tra, dân giám sát” trong phương châm mới lần này là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[13]. Theo đó, có thể hiểu, dân giám sát quá trình thực hiện dân chủ, giám sát mọi vấn đề, mọi công việc của đất nước, của các địa phương và dân thụ hưởng là cái đích cuối cùng, mục tiêu cuối cùng của một chế độ vì dân, dân thụ hưởng những thành tựu về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội do dân là chủ, làm chủ và tạo nên những thành tựu đó. Sáu yếu tố trong phương châm nêu trên là các yếu tố cơ bản, quan hệ thống nhất hữu cơ, biện chứng với nhau trong thực hiện dân chủ[14].

- Xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”[15]. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đều hướng đến thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

- Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và “đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nền tảng chính trị, pháp lý để nhân dân thực hiện quyền làm chủ”. Có thể nhận thấy, sự thay đổi và phát triển nhanh về kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện hình thành xã hội thông tin, dẫn đến những thách thức đối với việc bảo đảm tốt hơn các quyền công dân, đặc biệt là các quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân. Việc mở rộng sự tham gia của người dân vào công việc quản lý nhà nước, nhất là trong xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật ở nước ta tiếp tục được đề cao trong những năm vừa qua. Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân.

Với những quan điểm nêu trên, để tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện pháp luật về dân chủ nói chung, dân chủ trực tiếp nói riêng cần bám sát nhiệm vụ trọng tâm (đã được xác định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng): “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là việc thực thi tinh thần “thượng tôn pháp luật”, gương mẫu tuân theo pháp luật, kỷ cương và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc”[16]. Từ đó, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện phải gắn liền với phát huy dân chủ trong Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đảng ta là Đảng cầm quyền và nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”[17] là nguyên tắc cốt lõi trong đời sống chính trị - xã hội ở nước ta. Để có thể phát huy dân chủ cũng như hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện trong bối cảnh hiện nay, cần có sự đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng, trong tổ chức và hoạt động của Đảng, trong mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, giữa Đảng với nhân dân và xã hội. Đồng thời, cần có cơ chế cụ thể, cởi mở để nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với Đảng như cơ chế phản biện xã hội, cùng với việc phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, của các thiết chế dân sự, các cộng đồng tự quản trong xây dựng và phát triển xã hội[18].

Hai là, tiếp tục đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Cần vận động nhân dân tham gia xây dựng hệ thống chính trị, các thiết chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, các điều kiện và cách thức vận hành để thực thi dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt nhất quyền làm chủ của nhân dân dưới mọi hình thức, phát huy vai trò tích cực của nhân dân trong việc tự quyết định, tự quản lý trong cộng đồng. Đa dạng hóa các hình thức tham gia của nhân dân trong quản lý nhà nước bao gồm cả các hình thức tham gia trực tuyến phù hợp với tiến trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số trước tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện hóa thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Ba là, thể chế hóa và thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[19]. Ví dụ, muốn để “dân kiểm tra, giám sát”, Nhà nước phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; “dân thụ hưởng” khi dân có đầy đủ những quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện dân chủ[20]. Trong đó, cần bổ sung quy định chi tiết về sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp xã, trong đó có kế hoạch đầu tư, thu và chi ngân sách xã để phát huy sức mạnh trong nhân dân, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Bốn là, trong quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp phải bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quản lý nhà nước và xã hội. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua tất cả các cơ quan nhà nước chứ không chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Ngoài hình thức sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước thì nhân dân còn có thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước thông qua bầu cử, trưng cầu ý dân, bãi miễn đại biểu dân cử... Tất cả các cơ quan nhà nước đều đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân và đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và vì lợi ích của nhân dân.

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, việc lấy ý kiến một cách thực chất của các đối tượng bị tác động, người dân và doanh nghiệp phải là yêu cầu bắt buộc trong quá trình hình thành nên đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước[21]. Hệ thống pháp luật cần định hình đầy đủ hơn, rõ nét hơn cơ chế và cách thức để người dân tham gia quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật tạo cơ sở, bảo đảm để người dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Ví dụ, trách nhiệm giải trình phải được kết hợp giữa hai yếu tố, đó là sự giải trình và sự chịu trách nhiệm. Việc chịu trách nhiệm sẽ không có đầy đủ ý nghĩa của nó nếu như việc chịu trách nhiệm đó không dựa trên căn cứ nào - chịu trách nhiệm phải dựa trên sự giải trình, thông qua giải trình mà xác định rõ được trách nhiệm của chủ thể. Ngược lại, chỉ giải trình mà không chịu trách nhiệm gì hoặc không kèm theo chế tài - thì sự giải trình đó không hơn nhiều là sự biện hộ, không có căn cứ ràng buộc trách nhiệm đối với các chủ thể thực hiện[22].

Có thể thấy, trong tiến trình đổi mới, Đảng ta đã nhận thức ngày càng rõ vai trò của dân chủ và đã tập trung xây dựng thiết chế, hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế và chính sách để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Quá trình dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội đã tạo ra động lực to lớn cho sự nghiệp đổi mới. Tuy vậy, nó vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; nhận thức về vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ (trong đó có dân chủ trực tiếp) trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải đáp một cách thấu đáo...[23]. Hệ thống pháp luật hiện hành chưa đầy đủ, chắc chắn để bảo đảm thực hiện hiệu quả hoạt động dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện... Trong bối cảnh triển khai Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng như xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần tiếp tục thực hiện các giải pháp toàn diện, mạnh mẽ để thúc đẩy, đổi mới hơn nữa hoạt động thực hiện dân chủ trực tiếp nói riêng và quá trình dân chủ hóa nói chung ở nước ta.

TS. Trương Hồng Quang
ThS. Hòa Thị Thủy
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp



[1]. Vũ Công Giao (2014), Thực hiện dân chủ trực tiếp theo Hiến pháp năm 2013 - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Luật học, Đặc san, (9), tr. 12.

[2]. Henry George Liddell, Robert Scott, A GreekEnglish Lexicon, nguồn: http://www.perseus.Tufts.edu/hopper/, truy cập ngày 10/7/2022.

[3]. http://www.paparty.co.u k/dir ect_democ racy_definition.htm, truy cập ngày 10/7/2022.

[4]. IDEA (2008), Direct Democracy: The International IDEA Handbook, tr. 12, nguồn: http://www.idea.int/publications/direct_democracy/, truy cập ngày 10/7/2022.

[5]. IDEA, tlđd, tr. 20.

[6]. “Dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam”, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/2018/26227/%E2%80%9Cdan-chu-truc-tiep%2C-dan-chu-co-so-tren-the-gioi-va-o-viet-nam%E2%80%9D.aspx, ngày 10/3/2014, truy cập ngày 10/7/2022.

[7]. Tô Thị Oanh (2022), Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, số 6/2021, nguồn: https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/phat-huy-dan-chu-xa-hoi-chu-nghia-theo-tinh-than-van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-p25666.html, truy cập ngày 10/7/2022.

[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, Tập I, tr. 51.

[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 40.

[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 118.

[11]. Xem thêm: Tô Thị Oanh (2022), tlđd.

[12]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 6, tr. 232 - 234.

[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 27, 96.

[14]. Xem thêm: Tô Thị Oanh (2022), tlđd.

[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 173.

[16]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 202.

[17]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 173.

[18]. Nguyễn Thế Trung, Bùi Nguyên Khánh (2019), Về thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng lãnh đạo, https://tcnn.vn/news/detail/43059/Ve-thuc-hanh-dan-chu-trong-dieu-kien-mot-dang-lanh-dao.html, truy cập ngày 10/7/2022.

[19]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tlđd, tr. 173.

[20]. Tô Thị Oanh (2022), tlđd.

[21]. Phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị toàn quốc về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, thành phố Hà Nội, ngày 16/9/2021, https://vneconomy.vn/thu-tuong-moi-chinh-sach-phap-luat-phai-huong-toi-nguoi-dan-va-doanh-nghiep.htm, truy cập ngày 10/6/2022.

[22]. Trương Hồng Quang (2020), Trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính nhà nước trong xây dựng luật, pháp lệnh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7, tr. 30 - 36, 51.

[23]. Trần Thị Minh Tuyết (2019), Nhận thức về dân chủ và quá trình dân chủ hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11, nguồn: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/3030-nhan-thuc-ve-dan-chu-va-qua-trinh-dan-chu-hoa-o-viet-nam-trong-thoi-ky-doi-moi-thuc-trang-va-giai-phap.html, truy cập ngày 10/7/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: