Thứ hai 09/03/2026 06:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá tình hình thực hiện Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi

Cho đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi đã tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi con nuôi.

Sau hơn 07 năm thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 19/2011/NĐ-CP), công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đã đạt được những kết quả nhất định, về cơ bản đáp ứng nhu cầu và lợi ích của trẻ em; tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác này còn gặp phải một số khó khăn, vướng mắc. Cụ thể:

1. Những kết quả đạt được

1.1. Công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật

Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành các thông tư về biểu mẫu nuôi con nuôi, quản lý văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam; chủ trì và phối hợp ban hành các thông tư liên tịch về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi và chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài và theo dõi tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được cho làm con nuôi ở nước ngoài. Ngoài ra, Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã xây dựng và ban hành Quy chế số 721/QC-BTP-BLĐTBXH ngày 14/3/2016 về phối hợp công tác giải quyết việc nuôi con nuôi đối với trẻ em đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội (TGXH); Chương trình phối hợp thực hiện công tác pháp luật giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tư pháp giai đoạn 2018 - 2022, trong đó có nhiệm vụ phát triển nuôi con nuôi tại cộng đồng.

Cho đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi đã tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về nuôi con nuôi. Đồng thời, trên cơ sở các văn bản ký kết giữa Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, công tác phối hợp liên ngành ở địa phương trong lĩnh vực này đã được quan tâm thực hiện, góp phần quan trọng trong việc triển khai thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.

1.2. Công tác phổ biến, quán triệt thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

Ngay sau khi Nghị định số 19/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều hội nghị tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác nuôi con nuôi trên phạm vi toàn quốc; xây dựng và phát hành các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về nuôi con nuôi; phối hợp với các cơ quan báo đài trung ương[1] để tuyên truyền, vận động người dân đăng ký nuôi con nuôi thực tế, hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc, khó khăn phát sinh về nuôi con nuôi. Thông qua các hoạt động này, đội ngũ cán bộ làm công tác nuôi con nuôi ở địa phương từng bước được trang bị kỹ năng, nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.

1.3. Công tác giải quyết việc nuôi con nuôi

- Về kết quả đăng ký việc nuôi con nuôi

Theo thống kê của Cục Con nuôi, trong giai đoạn 2011 - 2017, toàn quốc đã giải quyết 21.233 trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi, trong đó có 18.372 trường hợp con nuôi trong nước (chiếm tỷ lệ lớn, đạt 86,5%) và 2.861 trường hợp con nuôi nước ngoài (đạt 13,5%). Việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi về cơ bản đáp ứng lợi ích và nhu cầu của trẻ em. Công tác giải quyết nuôi con nuôi trong nước được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP. Đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch được đánh giá chung là tận tụy phục vụ nhân dân, ý thức được ý nghĩa và mục đích của công tác nuôi con nuôi. Việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài luôn bảo đảm điều kiện pháp lý, bước đầu có sự gắn kết giữa nghiệp vụ nuôi con nuôi với công tác xã hội, bảo đảm tuân thủ Công ước La Hay. Công tác giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được nâng cao về chất lượng và thể hiện tính chuyên nghiệp. Nhiều trẻ em bị bệnh tật hiểm nghèo, trẻ em khuyết tật được nhận làm con nuôi ở nước ngoài, được chăm sóc và chữa trị bệnh tật trong điều kiện y tế hiện đại. Đây là điều trước đây theo quy định cũ không thể thực hiện được.

- Trong công tác quản lý hoạt động của các tổ chức con nuôi nước ngoài và hợp tác quốc tế

Việc tuân thủ nghiêm các quy định mới của Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã được các nước đánh giá cao và tạo sự tin tưởng với các nước nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Cho đến nay, hầu hết các nước nhận nhiều con nuôi đều đã thiết lập hoặc nối lại quan hệ hợp tác với Việt Nam. Trong giai đoạn 2011 - 2017, Bộ Tư pháp đã cấp giấy phép hoạt động cho 37 tổ chức con nuôi nước ngoài của 13 nước là thành viên Công ước La Hay có quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam: Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Canada, Ailen, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Na Uy, Bỉ, Luxembourg và Đức. Quan hệ hợp tác quốc tế với các nước này đã được tăng cường và đẩy mạnh. Kể từ khi thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cho đến nay, chưa có trường hợp trẻ em Việt Nam được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài bị từ chối cấp visa; các quyết định nuôi con nuôi do phía Việt Nam cấp đều được đương nhiên công nhận tại nước nhận con nuôi.

2. Những hạn chế, bất cập

2.1. Về việc triển khai thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

Công tác triển khai thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ở địa phương còn chậm trễ, chưa đồng đều, cách hiểu và áp dụng cùng một quy định không thống nhất ở một số địa phương. Các cơ quan có thẩm quyền chưa tích cực thực hiện những nhiệm vụ được giao tại Nghị định này, nhất là những nhiệm vụ như lập danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế ở các cơ sở trợ giúp xã hội (TGXH) và chỉ định các cơ sở TGXH tham gia giải quyết việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài. Nhiều cơ sở TGXH không lập hoặc lập không thường xuyên danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế theo Điều 15 Luật Nuôi con nuôi; còn có tình trạng sao nhãng, không quan tâm tới việc tìm gia đình thay thế cho trẻ em ở độ tuổi từ 01 đến dưới 05 tuổi thuộc diện Danh sách 1 (trẻ em có sức khỏe bình thường). Việc chỉ định các cơ sở TGXH tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài chỉ tập trung hướng tới các cơ sở TGXH công lập, chưa chú ý tới các cơ sở TGXH ngoài công lập và những cơ sở tôn giáo được thành lập hợp pháp, đặc biệt chưa tính tới nhu cầu cần tìm gia đình thay thế cho trẻ em.

2.2. Về giải quyết việc nuôi con nuôi

- Nhu cầu trẻ em cần tìm gia đình thay thế với mong muốn của các gia đình được nhận nuôi trẻ là rất lớn nhưng không gặp được nhau

Theo Chỉ tiêu trẻ em Việt Nam 2015 - 2016 do Cục Trẻ em phát hành năm 2017, thì trên phạm vi cả nước có hơn 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[2]; trong đó, khoảng 156.000 trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa. Theo Báo cáo của Cục Bảo trợ xã hội thì thường xuyên có khoảng 21.000 trẻ em sống ở các cơ sở TGXH. Trong khi đó, chỉ có 2.850 trẻ em ở cơ sở TGXH được giải quyết cho làm con nuôi (đạt 13,5% tổng số trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước và nước ngoài). Trong tổng số trẻ em sống ở cơ sở TGXH, trung bình hàng năm, chỉ có 407 trẻ em (chiếm 1,9%) được giải quyết cho làm con nuôi.

Theo thống kê chưa đầy đủ của các Sở Tư pháp thì có khoảng hơn 3.269 trẻ em hiện đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở tôn giáo (chủ yếu là nhà chùa, phần lớn chưa được thành lập cơ sở nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật)[3]. Đa số những trẻ em sống ở các cơ sở này đều là trẻ em bị bỏ rơi hoặc không có người nuôi dưỡng nhưng không được quan tâm thực hiện các biện pháp chăm sóc thay thế, trong đó có biện pháp nuôi con nuôi. Biện pháp nuôi con nuôi được đánh giá là biện pháp chăm sóc thay thế được ưu tiên trước khi thực hiện biện pháp chăm sóc thay thế tại các cơ sở TGXH[4].

Hệ quả là, còn một số lượng lớn trẻ em sống tại cơ sở TGXH chưa tìm được mái ấm gia đình thông qua các hình thức chăm sóc thay thế, trong đó có nuôi con nuôi. Do vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đặc biệt là quyền được chăm sóc thay thế, mà nuôi con nuôi là một biện pháp chăm sóc thay thế bền vững, chưa được bảo đảm.

- Còn có biểu hiện lạm dụng việc giải quyết cho trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo làm con nuôi nước ngoài

Trong thời gian qua, tỷ lệ trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi ở nước ngoài là khá cao (chiếm 64,7%), trong đó, nhiều trẻ em nhỏ tuổi bị khuyết tật thể nhẹ hoặc trẻ em mắc bệnh ở thể nhẹ, không ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất và tâm lý. Các nước có quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam có quan ngại vì những trẻ em này không được ưu tiên tìm gia đình thay thế trong nước trước khi được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài, điều này không phù hợp với nguyên tắc của Công ước La Hay.

- Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, một số cơ sở TGXH còn “gắn” với vấn đề hỗ trợ tài chính của cha mẹ nuôi nước ngoài

Trước khi Nghị định số 19/2011/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở nước ta thường gắn với việc hỗ trợ nhân đạo và các khoản trợ giúp kỹ thuật của các tổ chức con nuôi nước ngoài. “Nếp” giải quyết nuôi con nuôi đó đã kéo theo những hệ lụy nhất định trong công tác quản lý nhà nước về nuôi con nuôi. Một số nước có quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam không tiếp tục gia hạn Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi khi Hiệp định hết hiệu lực thi hành. Kể từ khi thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cho đến nay, vẫn còn hiện tượng gắn kết đó. Việc “gắn” hỗ trợ tài chính với giải quyết việc nuôi con nuôi khiến cho một số cơ sở TGXH có tâm lý chờ đợi nguồn hỗ trợ từ cha mẹ nuôi nước ngoài và tổ chức con nuôi nước ngoài. Qua nắm bắt tình hình, hầu hết các trường hợp cho nhận con nuôi đều phát sinh các khoản hỗ trợ trực tiếp cho các cơ sở TGXH với mức độ cao và có sự cạnh tranh giữa các tổ chức con nuôi nước ngoài.

Thực trạng trên chưa phù hợp với Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hay. Bên cạnh đó, việc thiếu minh bạch tài chính đối với khoản thu hỗ trợ là không phù hợp với Công ước La Hay và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Hệ quả của thực trạng này là rất đáng báo động vì có những dấu hiệu chưa tuân thủ cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam.

3. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập

- Về nhận thức: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa nhận thức, quan tâm và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ được giao tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, chưa theo kịp những thay đổi căn bản của Luật Nuôi con nuôi, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP và Công ước La Hay.

- Về tổ chức thi hành: Các cơ quan có thẩm quyền thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thường xuyên; chưa có cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin giữa hai ngành Tư pháp và Lao động - thương binh và xã hội ở cấp trung ương và địa phương; nguồn lực (kinh phí, con người) dành do công tác giải quyết nuôi con nuôi còn hạn chế, chưa tương xứng với công tác này.

- Về vướng mắc, bất cập trong quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP: (i) Một số quy định còn gây cản trở cho việc thi hành như chưa cụ thể, chưa rõ ràng, còn gây nhiều cách hiểu khác nhau và thiếu tính gắn kết với một số quy định pháp luật có liên quan; (ii) Một số quy định còn thiếu tính thống nhất với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và Công ước La Hay; (iii) Một số quy định chưa tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính về nuôi con nuôi.

Tóm lại, qua quá trình thực thi Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, công tác giải quyết nuôi con nuôi đã đạt được những kết quả nhất định. Nhiều trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác đã tìm được gia đình thay thế. Công tác giải quyết việc nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài phù hợp với các nguyên tắc của Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989, Công ước La Hay và quy định của pháp luật trong nước về nuôi con nuôi. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác này cũng gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định, là do những hạn chế trong công tác thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, bất cập trong quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP. Để loại bỏ những cản trở trong công tác nuôi con nuôi, cần tăng cường công tác thực thi pháp luật và chú trọng công tác hoàn thiện thể chế pháp luật. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP trong năm 2018.

Nguyễn Thị Hảo

Cục trưởng Cục Con nuôi

Tài liệu tham khảo:

[1]. Được sự hỗ trợ của Cơ quan UNICEF tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam thực hiện một phóng sự truyền hình về công tác tìm gia đình thay thế cho trẻ em có nhu cầu chăm sóc đặc biệt. Phóng sự đã góp phần tuyên truyền các quy định pháp luật liên quan đến công tác tìm gia đình thay thế cho trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, qua đó khuyến khích sự quan tâm của toàn xã hội đối với đối tượng trẻ em đặc biệt này. Bộ Tư pháp phối hợp với VTV 4, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Pháp luật Việt Nam, Báo điện tử VTV online để thực hiện nhiệm vụ phổ biến, tuyên truyền Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.

[2]. Theo 10 nhóm trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và chỉ tiêu trẻ em Việt Nam 2015 - 2016, Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), 2017.

[3]. Báo cáo tổng kết 05 thi hành Luật Nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của 63 tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.

[4]. Khoản 3 Điều 61 Luật Trẻ em năm 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: