Thứ ba 17/03/2026 03:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề phòng rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp nhập khẩu trong thủ tục kiểm tra sau thông quan

Xuất nhập khẩu hàng hóa là một trong những hoạt động quan trọng diễn ra với tần suất lớn trong các giao dịch của một số doanh nghiệp hiện nay. Xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu trong những năm qua đã khiến việc mua bán hàng hóa quốc tế trở thành một hoạt động ngày càng thường xuyên của doanh nghiệp. Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan nhập khẩu vào Việt Nam là được thực hiện công khai, nhanh chóng, thuận tiện, đảm bảo kịp thời đáp ứng nhu cầu của việc nhập khẩu. Theo khoản 3 Điều 77 Luật Hải quan thời hạn kiểm tra sau thông quan là 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Do đó, kết thúc thủ tục hải quan không có nghĩa là doanh nghiệp đã hết trách nhiệm pháp lý nói chung, nghĩa vụ thuế nói riêng liên quan đến hàng hóa nhập khẩu.

Chỉ một chút thiếu cẩn trọng trong quá trình thu thập, chuẩn bị hồ sơ nhập khẩu từ phía đối tác cũng có thể ảnh hưởng đến việc tự kê khai và tự chịu trách nhiệm đối với hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam. Độ xác thực của quá trình này không hoàn toàn phụ thuộc vào doanh nghiệp Việt Nam với tư cách là bên nhập khẩu mà còn phụ thuộc khá nhiều vào đối tác nước ngoài với tư cách là bên xuất khẩu. Những sản phẩm hàng hóa đã được thông quan, nhập kho, thậm chí được tiêu thụ trên thị trường nhưng trong vòng 05 năm rất có thể sẽ bị xem xét kiểm tra lại theo thủ tục sau thông quan. Gần đây như báo chí đưa tin, một số doanh nghiệp đã bị truy thu thuế hàng chục tỷ đồng cũng thông qua chính quá trình kiểm tra sau thông quan này. Năm 2011, Cục Hải quan thành phố Hà Nội đã kiểm tra sau thông quan 235 doanh nghiệp, truy thu thuế 38 doanh nghiệp với tổng số tiền gần 42 tỷ đồng; trong 06 tháng đầu năm 2012, đã kiểm tra gần 90 doanh nghiệp, truy thu thuế hơn 10 tỷ đồng.[1] Tính tới ngày 15/11/2016, Tổng cục Hải quan đã thực hiện kiểm tra sau thông quan 8.311 cuộc của năm 2016, trong đó có 1.157 cuộc kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan và đã ra quyết định truy thu 3.090 tỉ đồng (tăng 94% so với cùng kỳ năm 2015)[2]. Quy trình kiểm tra sau thông quan có thể loại bỏ nhiều bất cập trong khai báo trị giá tính thuế, áp dụng chính sách ưu đãi miễn thuế và có đề xuất xử lý, tránh thất thu thuế. Tuy nhiên, các doanh nghiệp là đối tượng của thủ tục kiểm tra này sẽ phải gánh chịu nhiều hệ lụy nếu có sơ suất dù là vô ý không nhận ra hoặc do quá tin tưởng đối tác nước ngoài trong quá trình chuẩn bị hồ sơ nhập khẩu.


Nguy cơ tổn thất lợi nhuận của doanh nghiệp

Khi một doanh nghiệp tự kê khai hàng hóa vào diện miễn, giảm thuế trên cơ sở hồ sơ mà doanh nghiệp cho là đầy đủ căn cứ theo quy định pháp luật, sau đó được cơ quan hải quan chấp nhận và được phép miễn thuế vào thời điểm thông quan thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ tận dụng ưu đãi này để giảm giá bán ra của sản phẩm nhằm có thể cạnh tranh với sản phẩm cùng loại trên thị trường. Tuy nhiên, một hoặc hai thậm chí năm năm sau, thủ tục kiểm tra hàng hóa sau thông quan có thể đi đến kết luận của Hải quan là lô hàng không đủ điều kiện để miễn thuế và doanh nghiệp có thể bị truy thu một khoản thuế liên quan đến lô hàng đã bán ra thị trường cách đó 05 năm. Đương nhiên vào thời điểm đó khoản thuế không thể được hạch toán vào giá thành và vô hình chung trở thành một khoản lỗ của doanh nghiệp. Đó là chưa kể đến việc kiểm tra sau thông quan còn có thể đặt ra vấn đề trách nhiệm pháp lý khác mà doanh nghiệp phải đối mặt nếu thông qua việc kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện dấu hiệu tội phạm làm giả giấy tờ hoặc làm giả con dấu, mặc dù đó chưa hẳn là hành vi do chính doanh nghiệp hoặc đối tác tại nước ngoài thực hiện.

Để giải quyết những rủi ro có thể lường trước như trên, một vài giải pháp cần thiết nên được thực hiện:

Thứ nhất, cần thẩm định kỹ năng lực của đối tác

Công việc thẩm định năng lực đối tác không chỉ đơn giản là cập nhật đầy đủ các thông tin tài chính của đối tác mà còn là kiểm tra một cách toàn diện về địa vị pháp lý, tình trạng sản gốc xuất xứ, chất lượng và các giấy tờ chứng minh các yếu tố đó như: giấy chứng nhận xuất xứ (CO), giấy chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng (CQ), giấy chứng nhận hợp quy (CE)… sản phẩm của đối tác, bao gồm:

- Quyền sở hữu trí tuệ: Các giấy tờ chứng mình quyền sở hữu nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền tác giả đối với phần mềm và các đối tượng sở hữu công nghiệp khác.

- Tư cách pháp nhân của đối tác: Việc kết luận đối tác có phải pháp nhân hợp pháp hay không trước hết cần căn cứ vào pháp luật mà công ty đối tác mang quốc tịch và pháp luật Việt Nam. Nếu cần thiết, các giấy tờ có dấu của cơ quan quốc gia sở tại cấp nên được hợp pháp hóa lãnh sự để đảm bảo tính an toàn và hợp pháp tại Việt Nam mặc dù điều này không bắt buộc trong đa số các trường hợp làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa.

Thứ hai, cần bổ sung thêm căn cứ trong điều khoản phạt hợp đồng (Penalty Clause) có hiệu lực 05 năm

Theo thông lệ thương mại quốc tế, các bên có thể thỏa thuận về một mức phạt tối đa trong các hợp đồng mua bán hàng hóa không trái với hệ thống pháp luật điều chỉnh nội dung Hợp đồng. Trường hợp bên bán/bên xuất khẩu cung cấp CO hoặc các giấy tờ khác không hợp pháp dẫn đến các trách nhiệm pháp lý cho bên mua/bên nhập khẩu thì điều khoản phạt sẽ có tác dụng khắc phục tổn thất cho bên mua hoặc bên nhập khẩu. Mặt khác, điều khoản phạt cũng có thể là công cụ ràng buộc bên bán/bên xuất khẩu trung thực trong việc cung cấp giấy tờ và tạo ra cơ chế giúp bên mua/bên nhập khẩu được đền bù cho những rủi ro phát sinh sau khi hàng hóa đã thông quan trong một thời hạn nhất định. Khi hàng hóa nhập khẩu đã hết thời hiệu kiểm tra thì bên bán/bên xuất khẩu sẽ mặc nhiên được giải phóng khỏi điều khoản phạt hợp đồng. Ngược lại, nếu điều khoản phạt hợp đồng được quy định áp dụng trong các trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và chấm dứt khi việc giao nhận hàng hóa đã hoàn tất thì những rủi ro sau thông quan sẽ không được đảm bảo khắc phục bởi bên bán/bên xuất khẩu.

Thứ ba, cần bổ sung trách nhiệm bồi thường trong thời hạn hơn 05 năm đối với việc kiểm tra sau thông quan

Giả sử hàng hóa nhập khẩu bị kiểm tra và xử lý vi phạm sau thông quan thì bên mua/bên nhập khẩu sẽ phải gánh chịu khá nhiều chi phí như: giám định hàng hóa để thu thập bằng hợp chứng, tài liệu; khoản truy nộp thuế, phạt chậm nộp thuế… Đôi khi khoản phạt hợp đồng cho dù áp dụng đến mức tối đa cũng không đủ để đảm bảo bù đắp tổn thất cho bên mua/bên nhập khẩu. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi tối đa cho doanh nghiệp Việt Nam, cần có thêm quy định về bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh. Khoản bồi thường này được tính trên cở sở những khoản bên mua phải trả trên thực tế do có sự vi phạm hoặc không trung thực liên quan đến hàng hóa và các tài liệu pháp lý gửi kèm hàng hóa. Tương tự như trên, thời hiệu để áp dụng chế tài bồi thường này cũng phải kéo dài tương ứng với thời hạn cơ quan hải quan bên nhập khẩu có quyền kiểm tra sau thông quan theo quy định pháp luật.

Thứ tư, bổ sung điều khoản bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Bond)

Performance Bond - khoản bảo lãnh thực hiện hợp đồng sẽ là giải pháp đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bán sau khi quá trình nhập khẩu hoàn tất, đối ứng với khoản đặt cọc (deposit) của bên mua. Nghĩa vụ bồi thường và nộp phạt của bên bán/bên xuất khẩu sẽ được bảo lãnh bởi một ngân hàng thương mại có uy tín, cam kết thanh toán thay cho bên bán/bên xuất khẩu mọi nghĩa vụ phát sinh trong trường hợp có sự kiện vi phạm ngay cả khi quá trình nhập khẩu đã hoàn tất. Trên cơ sở đó, mọi khoản bồi thường và khoản phạt hợp đồng trở nên khả thi và chắc chắn. Đây là một sự lựa chọn khá hữu hiệu cho doanh nghiệp Việt Nam bởi không chỉ đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường, phạt mà còn cả các trách nhiệm khác của bên bán/bên xuất khẩu với bên mua/bên nhập khẩu như: Tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng, hoàn trả khoản đặt cọc, giao hàng đúng thời hạn…

Điểm thuận lợi của điều khoản bảo lãnh thực hiện hợp đồng là tính minh bạch, khách quan và an toàn vì có sự tham gia của bên thứ ba - một ngân hàng có uy tín và năng lực tài chính. Tuy nhiên, để đạt được thỏa thuận về điều khoản bảo lãnh này là không hề dễ dàng. Bởi lẽ, bên bán sẽ phải cân nhắc giữa lợi nhuận so sánh với khoản phí ngân hàng và khoản lãi phát sinh mà họ phải chịu từ số tiền mà ngân hàng đã đứng ra thanh toán thay. Vì vậy, biện pháp tối ưu nhất cho doanh nghiệp Việt Nam vẫn là thẩm định kỹ năng lực, hồ sơ pháp lý của đối tác và hàng hóa nhập khẩu để giảm khả năng bị phát hiện vi phạm bởi thủ tục kiểm tra sau thông quan của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

TS.LS. Đỗ Minh Ánh

Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội


[1] NPhong, “Hà Nội kiểm tra sau thông quan: Ngăn chặn và đẩy lùi gian lận thuế”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, http://mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1539781?pers_id=2177092&item_id=64313637&p_details=1, truy cập ngày 06/06/2012.

[2] Khánh Hòa, “Soi doanh nghiệp sau thông quan, truy thu 3090 tỷ tiền thuế”, Báo lao động online, http://laodong.com.vn/kinh-te/soi-dn-sau-thong-quan-truy-thu-3090-ti-tien-thue-614409.bld, truy cập ngày 25/11/2016

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: