Thứ năm 12/03/2026 17:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề xuất xây dựng nguyên tắc thu hồi đất và thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án

Đất đai và con người từ lâu đã trở thành một cặp phạm trù có mối quan hệ gắn bó với nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Trong tiến trình phát triển của loài người, phân hóa xã hội gia tăng làm xuất hiện các xã hội có giai cấp trên thế giới. Đặc biệt, với sự ra đời của Nhà nước, đất đai cũng dần trở thành một trong các mối quan tâm của nhiều chủ thể xã hội.

1. Sự cần thiết phải xây dựng nguyên tắc thu hồi đất và thu hồi đất vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án

Thứ nhất, bảo đảm hoạt động thu hồi đất được tiến hành đúng theo yêu cầu của pháp luật.

“Nguyên tắc” chính là nền tảng pháp lý quan trọng để phân định ranh giới giữa hành vi nào là phù hợp với quy định pháp luật và hành vi nào là vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, nguyên tắc còn là kim chỉ nam hướng dẫn hành vi xử sự của con người một cách chung nhất, đảm bảo nhất quán hành động của công dân trong một xã hội pháp quyền. Trong lĩnh vực đất đai, một lĩnh vực được cho là “nóng” ở Việt Nam trong suốt nhiều năm qua[1], việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc trong quản lý và sử dụng đất lại càng vô cùng cấp thiết, đặc biệt là trong quá trình Nhà nước tổ chức thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc xây dựng nguyên tắc trong thu hồi đất sẽ góp phần đòi hỏi các chủ thể có liên quan thực hiện công tác này một cách nhanh chóng, đảm bảo chặt chẽ, phù hợp với quy trình, thủ tục mà pháp luật quy định.

Thứ hai, đảm bảo tính hợp lý về sự cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật thu hồi đất[2]. Trong quá trình phát triển, sự đối lập về nhiều phương diện giữa các chủ thể khác nhau trong tổng hòa các mối quan hệ kinh tế - xã hội thường xuyên xuất hiện, trong đó có phương diện về lợi ích kinh tế. Nếu như việc giải quyết các đối lập này được thực hiện tốt sẽ giúp cho mối quan hệ giữa các chủ thể trở nên hài hòa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngược lại, hệ lụy từ những mâu thuẫn, căng thẳng nếu như không giải quyết được bài toán về lợi ích kinh tế trong quá trình phát triển thật khó có thể lường trước được, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai[3]. Đứng trước nhu cầu sử dụng đất để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, chỉnh trang, xây dựng đô thị đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, công tác thu hồi đất nói chung và thu hồi đất trong vùng phụ cận nói riêng sẽ tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn từ lợi ích kinh tế mà các nhóm chủ thể luôn muốn tranh nhau giành phần hơn về mình. Chính vì lẽ đó, Nhà nước với tư cách là một chủ thể tham gia vào hoạt động thu hồi đất, đồng thời, cũng là chủ thể quản lý xã hội trên mọi mặt của đời sống nên cần phải có những định hướng đúng đắn trên cơ sở đảm bảo hài hòa về quyền và lợi ích chính đáng giữa các chủ thể trong quá trình thu hồi đất và giải quyết các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Thứ ba, phải đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội. Có thể nhận thấy, trong nhiều năm vừa qua, dư luận hết sức quan tâm đến những “điểm nóng” nổi cộm liên quan đến đất đai, gây ảnh hưởng nhất định đến trật tự, an toàn xã hội của địa phương như vụ Tiên Lãng (Hải Phòng), vụ Đồng Tâm (Hà Nội)... Chính vì thế, xây dựng nguyên tắc khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những phương pháp nhằm điều chỉnh nhận thức chung của các chủ thể tham gia vào quy trình này trên cả nước, hạn chế trường hợp mỗi địa phương “sáng tạo” thêm những cách làm mới, vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý, tạo nên những “điểm nóng” gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe và thậm chí là tính mạng con người.

Thứ tư, nhằm đảm bảo quá trình đô thị hóa diễn ra theo lộ trình, phát triển bền vững tại các đô thị và hạn chế tình trạng “quy hoạch treo”, “dự án treo”. Nhu cầu đô thị hóa và sử dụng đất để mở rộng không gian đô thị là một tất yếu trong xu thế phát triển tại nước ta. Điều này đồng nghĩa với việc chuyển đổi một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp thành khu đô thị, khu dân cư nông thôn; đồng thời, nông dân dần chuyển mình thành công dân đô thị với những thay đổi về tập quán, tâm lý, lối sống, việc làm, thu nhập… Đô thị hóa làm cho diện mạo của một quốc gia thay đổi, hiện đại và văn minh hơn. Tuy nhiên, nếu không có quy hoạch tổng thể, đồng bộ, nhất quán sẽ dễ dàng dẫn đến tình trạng ồ ạt, tự phát xây dựng khu đô thị, khu dân cư nông thôn gây lãng phí và kém hiệu quả. Chính vì vậy, công tác lập quy hoạch, thu hồi đất vùng phụ cận, giải phóng mặt bằng cần được các cấp chính quyền quan tâm, thực hiện dựa trên nguyên tắc đồng thuận của cả hệ thống chính trị và sự tham gia của người dân để đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Để làm được điều này, trước hết phải có được những quy định mang tính nguyên tắc soi rọi xuyên suốt quá trình thực hiện từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến khâu thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Thứ năm, nhằm góp phần hạn chế tình trạng lợi ích nhóm, tham nhũng trong quản lý đất đai. Những năm qua, số dự án đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất một cách công khai, minh bạch không nhiều[4]. Theo thống kê đăng tải trên Báo Người lao động, có hơn 1.300 dự án điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, đặc biệt có dự án được điều chỉnh hơn 05 lần và việc điều chỉnh theo đề xuất của nhà đầu tư đã làm thay đổi rất nhiều so với các bản quy hoạch ban đầu, điều này vô hình trung gây hệ lụy lớn về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại khu vực đó[5]. Do vậy, việc xây dựng bổ sung nguyên tắc thu hồi đất sẽ góp phần không nhỏ trong ngăn chặn tình trạng tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm trong việc thu hồi đất, quá đó hạn chế tình trạng khiếu kiện trong dân, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

2. Kiến nghị xây dựng nguyên tắc thu hồi đất và thu hồi đất vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án

2.1. Đảm bảo sự lãnh đạo, định hướng của Đảng trong quá trình thu hồi đất

Đất đai và con người từ lâu đã trở thành một cặp phạm trù có mối quan hệ gắn bó với nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Trong tiến trình phát triển của loài người, phân hóa xã hội gia tăng làm xuất hiện các xã hội có giai cấp trên thế giới. Đặc biệt, với sự ra đời của Nhà nước, đất đai cũng dần trở thành một trong các mối quan tâm của nhiều chủ thể xã hội. Chính vì lẽ đó, trong suốt nhiều thập niên qua, vấn đề đất đai và đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành một đề tài thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách… trong đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đất đai luôn đóng một vai trò nền tảng quan trọng trong quá trình thể chế hóa thành các chính sách, pháp luật cụ thể ngay từ những ngày đầu Đảng ta ra đời đến nay.

Có thể nhận thấy, qua các kỳ Đại hội của Đảng, nhiều văn kiện quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình thể chế hóa pháp luật đất đai ở nước ta đã ra đời. Cách đây hơn một thập niên, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tại văn kiện này, Đảng ta đã xác định chính sách đất đai phải chú ý đầy đủ tới các mặt kinh tế, chính trị, xã hội; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và người sử dụng đất, trong đó cần chú trọng đúng mức lợi ích của Nhà nước, của xã hội. Tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội đối với việc quản lý và sử dụng đất.

Ngày 31/10/2012, Đảng ta tiếp tục ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 19-NQ/TW) đã đưa ra những đánh giá mang tính toàn diện về quá trình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam, đồng thời, đề ra những định hướng quan trọng đối với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai. Đặc biệt, văn kiện này đã xây dựng cơ sở vững chắc cho việc sửa đổi, bổ sung và ra đời của Luật Đất đai năm 2013. Tại Nghị quyết này, Đảng ta đã chỉ rõ những khuyết điểm, hạn chế trong chính sách đất đai nhiều năm qua như công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai. Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp.

Trên cơ sở chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã có những định hướng cụ thể trong từng hoạt động quản lý, trong đó có vấn đề thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án. Cụ thể, Đảng ta đề ra định hướng đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, chỉnh trang đô thị, cần quy hoạch cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để thu hồi đất, tạo nguồn lực từ đất đai đầu tư cho các công trình này, hỗ trợ người có đất bị thu hồi và tăng thu ngân sách nhà nước; đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất ở được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật.

Như vậy, với những định hướng trên, Đảng ta tiếp tục xác định quản lý, sử dụng đất đai nói chung là một vấn đề mang ý nghĩa quan trọng trên nhiều mặt của đời sống xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết số 19-NQ/TW là nền tảng quan trọng trong quá trình xây dựng các quy định về thu hồi đất, thu hồi đất trong vùng phụ cận trong Luật Đất đai năm 2013, tạo điều kiện phát triển nguồn vốn để đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, hình thành chuỗi đô thị hiện đại, văn minh đáp ứng kịp thời quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.2. Phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Khi tiến hành thu hồi đất và thu hồi đất trong vùng phụ cận cần phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng để tạo nên sự thay đổi đồng bộ và nhất quán trong quá trình phân phối đất đai cũng như phát triển đô thị ở Việt Nam, tuân thủ đúng nguyên tắc sử dụng đất là “đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” (khoản 1 Điều 6 Luật Đất đai năm 2013).

Việc thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có một số ưu điểm sau đây: (i) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể lập quy hoạch mang tính toàn diện, bao quát, chủ động gắn với việc thay đổi, chỉnh trang bộ mặt hiện trạng của đô thị hoặc xây dựng những đô thị mới một cách đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội[6], hạn chế trường hợp nhà “siêu mỏng”, “siêu méo”; (ii) Việc tuân thủ nguyên tắc thu hồi đất vùng phụ cận phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn cho phép chính quyền địa phương chủ động tạo được nguồn vốn dự trữ cho các dự án giải phóng mặt bằng đã được lên kế hoạch từ trước; (iii) Nguyên tắc này còn đảm bảo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền không bị động trong khâu bồi thường, hỗ trợ và đặc biệt là trong quá trình tổ chức tái định cư. Cùng với quá trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chính quyền địa phương tiến hành khảo sát trên nhiều phương diện, đánh giá và lựa chọn phương án bồi thường, tái định cư trước khi tiến hành khâu thu hồi đất; (iv) Việc tuân thủ nguyên tắc trên còn giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định ranh giới thu hồi đất vùng phụ cận, hạn chế được tình trạng thu hồi đất một cách tràn lan, gây lãng phí đến nguồn lực đất đai.

Bắt nguồn từ những ưu điểm trên, Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định việc thu hồi đất nên thực hiện trực tiếp theo kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được xét duyệt để phát huy những ưu điểm nêu trên. Tuy nhiên, thực tiễn công tác giải phóng mặt bằng trong nhiều năm qua cho thấy, khi quy hoạch không khả thi thì cơ chế thu hồi đất theo quy hoạch có thể dẫn đến tình trạng bỏ hoang đất đã thu hồi, vừa lãng phí đất đai và vừa gây bức xúc cho người có đất bị thu hồi[7]. Thực trạng trạng “quy hoạch treo” không còn hiếm gặp ở các địa phương nước ta khi mà vô số các dự án, quy hoạch vẫn nằm “chờ thời”[8].

Qua đó cho thấy, tuân thủ nguyên tắc đảm bảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong thu hồi đất là việc làm vô cùng quan trọng. Điều này đòi hỏi chính quyền địa phương phải có tầm nhìn trong thiết kế quy hoạch, đánh giá tiềm năng thu hút đầu tư và có chế độ đãi ngộ hợp lý cho những người tham gia công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.

2.3. Đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Không chỉ ở Việt Nam mà đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm rằng đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước. Quản lý và sử dụng đất đai là vấn đề rộng lớn, phức tạp, hệ trọng liên quan đến giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Do đó, một trong số những định hướng mà Đảng và Nhà nước ta đề ra khi tiến hành đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai là sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Vì vậy, hoạt động thu hồi đất, thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án cũng không được xa rời nguyên tắc trên. Trong quá trình thực hiện, việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần tối ưu hóa giá trị và giá trị sử dụng của đất đai, mang lại lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia.

2.4. Phải đảm bảo công khai, minh bạch, nắm vững tập quán định cư và tâm lý người có đất bị thu hồi

Công khai, minh bạch là nguyên tắc căn bản cho các hoạt động thu hồi đất, từ giai đoạn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho đến khi hoàn thành các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án. Đây là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong khu vực quy hoạch cũng như nhà đầu tư. Nguyên tắc công khai, minh bạch đòi hỏi chính quyền địa phương tạo điều kiện để người dân được tiếp cận và nắm bắt các thông tin có liên quan đến việc thu hồi đất, thu hồi đất trong vùng phụ cận, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Thực hiện tốt quyền tiếp cận thông tin trong thu hồi đất không chỉ đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn đóng vai trò phục vụ cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai[9]. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 còn có quy định về quyền giám sát của công dân đối với việc quản lý, sử dụng đất đai (tại Điều 199). Theo đó, công dân có thể thực hiện quyền giám sát của mình trong các nội dung quan trọng như việc lập, điều chỉnh, công bố, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất; việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất… Có thể nói, đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng giúp cho người dân có được “tiếng nói” cần thiết, thể hiện được quyền của chủ sở hữu đối với loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng này.

Bên cạnh vấn đề công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng đất nói chung và trong thu hồi đất nói riêng, việc nắm vững các yếu tố về tập quán, truyền thống, tâm lý của người có đất bị thu hồi là một trong những nguyên tắc đảm bảo sự thành công, hiệu quả và tiến độ thực hiện dự án có thu hồi đất. Theo Đại từ điển tiếng Việt, tập quán là “thói quen hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo”[10]. Giá trị xã hội mà tập quán mang lại cho cộng đồng dân cư là không thể phủ nhận, trong đó, có yếu tố ổn định đối với đời sống, sản xuất của người dân trong khu vực[11]. Tuy nhiên, trong quá trình Nhà nước thực hiện thu hồi đất nói chung, sự xáo trộn đến cuộc sống ổn định mà tập quán, truyền thống mang lại từ lâu đối với người dân trong dự án là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, đảm bảo được nguyên tắc trên là một trong vấn đề cần được sự quan tâm của chính quyền địa phương.

Ở nước ta, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ; tuy nhiên, người dân vẫn còn mang nặng tư tưởng của cư dân nông nghiệp truyền từ bao đời nay, đó là quan niệm về “bờ xôi ruộng mật”, “an cư lạc nghiệp”. Cùng với đó, tâm lý lo ngại về tình trạng khan hiếm đất trong tương lai do sự bùng nổ dân số đô thị đã khiến cho hoạt động đầu cơ về nhà đất diễn ra mạnh mẽ tại các đô thị lớn. Điều này đã vô hình trung làm cho quá trình thu hồi đất tại các đô thị lớn diễn ra khá chậm, thậm chí là kéo dài nhiều năm liền. Từ thực tiễn trên cho thấy, yếu tố tập quán và tâm lý dân cư cần phải được quan tâm đúng mức khi tiến hành thu hồi đất. Bởi lẽ, mỗi thửa đất, mảnh vườn, ngôi nhà, ao cá, bờ đê… không chỉ có liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất của người dân mà nó còn mang yếu tố tinh thần, yếu tố truyền thống và tâm linh từ bao đời nay của dân tộc. Do đó, để đạt được mục tiêu thu hồi đất hiệu quả, đúng tiến độ, cần phải xem xét đúng mức, cân nhắc kỹ lưỡng đến yếu tố này trong quá trình quy định và thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất.

2.5. Phải đảm bảo phát huy các nguồn lực gắn với mục tiêu phát triển bền vững

Nguồn lực là một khái niệm bao hàm nhiều yếu tố vật chất hữu hình và vô hình cần thiết có thể tạo ra lợi ích nhất định dưới một hình thức nào đó. Trong quá trình thực hiện thu hồi đất và thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án, cần phải có sự tham gia của nhiều loại nguồn lực khác nhau. Trong đó, mỗi nguồn lực lại đóng một vai trò khác nhau, quyết định đến sự thành công hay thất bại của một dự án. Nếu như điều kiện tự nhiên là nguồn lực có sẵn của mỗi địa phương thì các nguồn lực về vốn lại có thể huy động linh hoạt khi chính quyền có chính sách phù hợp. Ngoài ra, con người nên được xem là nguồn lực nền tảng trong quá trình thu hồi đất. Bởi lẽ, sự tham gia của đội ngũ thực thi nhiệm vụ trong xuyên suốt các khâu để có được một diện tích đất “sạch” là vô cùng cần thiết, mỗi khâu trong chu trình đó cần có bộ phận chuyên môn phụ trách, đảm bảo được chất lượng và các yêu cầu khắt khe khác của công việc để tạo nên kết quả cuối cùng.

Bên cạnh đó, nguyên tắc đảm bảo phát huy các nguồn lực còn đòi hỏi sự tham gia tích cực từ cộng đồng, của các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội trong toàn bộ quá trình từ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến thực hiện di dời, giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư. Tuy nhiên, để có thể xây dựng được sự tương hợp giữa “ý Đảng lòng dân”, phát huy được mọi nguồn lực trong cộng đồng, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần phải làm tốt khâu vận động, tuyên truyền, công khai, minh bạch và tăng cường dân chủ trong xuyên suốt hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước.

Ngoài yêu cầu đảm bảo phát huy các nguồn lực, công tác thu hồi đất cũng cần hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Bởi lẽ, diện tích đất đai là có hạn, nhu cầu sử dụng lại ngày một tăng cao. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng đất, con người đã có những tác động tiêu cực làm biến đổi tính chất tự nhiên, độ phì của đất, kết hợp với sự ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm cho một phần diện tích đất kém màu mỡ, hiệu quả trồng trọt giảm sút. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng diễn ra ngày càng mạnh mẽ nhưng không theo quy hoạch, kế hoạch đã dẫn đến tình trạng đất đai bị manh mún, hoang hóa, gây lãng phí rất lớn đối với nguồn lực vô cùng có giá trị này. Chính vì vậy, trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 05 năm 2016 - 2020 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã xác định: Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, xanh, thân thiện với môi trường, nhất là các đô thị lớn. Nâng cao chất lượng và quản lý tốt quy hoạch đô thị, bảo đảm phát triển bền vững, có chính sách xây dựng khu đô thị mới ven các đô thị lớn, khai thác hiệu quả hạ tầng và tiết kiệm đất.

Để góp phần thực hiện mục tiêu trên mà Đảng ta đã đề ra, trong quá trình thu hồi đất, nguyên tắc phát triển bền vững cần được chú trọng quan tâm dưới một số góc độ sau đây: (i) Việc xác định, lựa chọn vị trí, diện tích đất để thu hồi cần được xem xét cẩn trọng, quan tâm đến lợi ích từ nhiều khía cạnh như kinh tế, xã hội, văn hóa… (ii) Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo tính khả thi, có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các dự án đầu tư khai thác quỹ đất. (iii) Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, thu hồi đất cần tính đến các yếu tố về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế những tác động tiêu cực đến cảnh quan thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên khác của hệ sinh thái.

Mỗi nguyên tắc đề ra trong quá trình thu hồi đất nói chung và thu hồi đất trong vùng phụ cận giữ một vị trí nhất định góp phần tạo ra hiệu quả và chất lượng dự án. Thiếu đi một nguyên tắc có thể ảnh hưởng đến sự vận hành của các nguyên tắc còn lại, cũng như tác động tiêu cực đến tiến độ và kết quả thực hiện dự án. Do vậy, chính quyền địa phương, dựa trên tình hình thực tế cũng như nguồn lực sẵn có, để có thể vận dụng các nguyên tắc thực thi trên một cách mềm dẻo, linh hoạt và phát huy được nội lực vốn có của mình./.

ThS. Nguyễn Quang Thành

Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp


[1] Xem thêm: Hoài Thu, Quản lý đất đai và nhiều vấn đề ‘nóng’ đặt lên bàn nghị sự Quốc hội, Chuyên trang Đầu Tư Tài Chính Việt Nam - VietnamFinance, https://vietnamfinance.vn/quan-ly-dat-dai-va-nhieu-van-de-nong-dat-len-ban-nghi-su-quoc-hoi-20180504224224031.htm, truy cập ngày 27/6/2019; Phương Anh, Bịt lỗ hổng trong quản lý đất đai, Báo Nhân dân điện tử, https://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/39048002-bit-lo-hong-trong-quan-ly-dat-dai.html, truy cập ngày 27/6/2019.

[2] Xem thêm: Phan Trung Hiền (2016), Vấn đề xác định lợi ích, điều tiết và cân bằng lợi ích khi Nhà nước thu hồi đất, trong: “Pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam”, Phan Trung Hiền (Chủ biên), Nxb. Đại học Cần Thơ, tr. 152-185.

[3] Xem thêm: Nguyễn Đăng Dung, Từ vụ việc ở Tiên Lãng, nghĩ về sửa đổi Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5(213), tháng 3/2012; Nguyễn Quang Đồng (2016), Từ các vụ xung đột đất đai nhìn lại chuyện thu hồi đất, http://www.baomoi.com/tu-cac-vu-xung-dot-dat-dai-nhin-lai-chuyen-thu-hoi-dat/c/20889061.epi, truy cập ngày 08/6/2017; Trọng Điển (2017), Thu hồi đất đai: Giải quyết lợi ích kinh tế không phải là tất cả, http://vcci.com.vn/thu-hoi-dat-dai-giai-quyet-loi-ich-kinh-te-khong-phai-la-tat-ca, truy cập ngày 08/6/2017.

[4] Trung Kiên, Chặn lợi ích nhóm tại các dự án đất đai, Báo điện tử Nhân dân, https://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/39475202-chan-loi-ich-nhom-tai-cac-du-an-dat-dai.html, truy cập ngày 27/6/2019.

[5] Văn Duẩn, Làm rõ lợi ích nhóm trong quy hoạch đất đai, Báo điện tử Người lao động, https://nld.com.vn/thoi-su/lam-ro-loi-ich-nhom-trong-quy-hoach-dat-dai-20190527224843728.htm, truy cập ngày 27/6/2019.

[6] Xem thêm: Đặng Hùng Võ (2011), Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam - Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân, Hà Nội, tr. 23.

[7] Đặng Hùng Võ (2013), Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và giải quyết bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất dưới góc nhìn của kinh nghiệm quốc tế, trong: Kỷ yếu Hội thảo "Xác định khó khăn và đề xuất giải pháp khi thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn TP. Cần Thơ", Cần Thơ, tr. 4.

[8] Xem thêm: Võ Hương, C.V. Kình, Mạnh Khang, Tài Phong (2015), Tiêu 8.000 tỉ đồng và dân chờ quy hoạch “treo”, http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/tieu-diem/20150726/tieu-8000-ty-dong-va-dan-cho-quy-hoach-treo/783033.html, truy cập ngày 20/4/2017.

[9] Nguyễn Quang Thành và Bùi Kim Trọng, Quyền tiếp cận thông tin của công dân khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=171, truy cập ngày 12/7/2017.

[10] Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 1508.

[11] Xem thêm: Phan Trung Hiền và Dương Văn Học, Ảnh hưởng của yếu tố tập quán truyền thống đến tâm lý người dân trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tạp chí Khoa học Cần Thơ, số 04(46), 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: