Thứ bảy 27/06/2026 08:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đề xuất xây dựng nguyên tắc thu hồi đất và thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án

Đất đai và con người từ lâu đã trở thành một cặp phạm trù có mối quan hệ gắn bó với nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Trong tiến trình phát triển của loài người, phân hóa xã hội gia tăng làm xuất hiện các xã hội có giai cấp trên thế giới. Đặc biệt, với sự ra đời của Nhà nước, đất đai cũng dần trở thành một trong các mối quan tâm của nhiều chủ thể xã hội.

1. Sự cần thiết phải xây dựng nguyên tắc thu hồi đất và thu hồi đất vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án

Thứ nhất, bảo đảm hoạt động thu hồi đất được tiến hành đúng theo yêu cầu của pháp luật.

“Nguyên tắc” chính là nền tảng pháp lý quan trọng để phân định ranh giới giữa hành vi nào là phù hợp với quy định pháp luật và hành vi nào là vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, nguyên tắc còn là kim chỉ nam hướng dẫn hành vi xử sự của con người một cách chung nhất, đảm bảo nhất quán hành động của công dân trong một xã hội pháp quyền. Trong lĩnh vực đất đai, một lĩnh vực được cho là “nóng” ở Việt Nam trong suốt nhiều năm qua[1], việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc trong quản lý và sử dụng đất lại càng vô cùng cấp thiết, đặc biệt là trong quá trình Nhà nước tổ chức thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc xây dựng nguyên tắc trong thu hồi đất sẽ góp phần đòi hỏi các chủ thể có liên quan thực hiện công tác này một cách nhanh chóng, đảm bảo chặt chẽ, phù hợp với quy trình, thủ tục mà pháp luật quy định.

Thứ hai, đảm bảo tính hợp lý về sự cân bằng lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật thu hồi đất[2]. Trong quá trình phát triển, sự đối lập về nhiều phương diện giữa các chủ thể khác nhau trong tổng hòa các mối quan hệ kinh tế - xã hội thường xuyên xuất hiện, trong đó có phương diện về lợi ích kinh tế. Nếu như việc giải quyết các đối lập này được thực hiện tốt sẽ giúp cho mối quan hệ giữa các chủ thể trở nên hài hòa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngược lại, hệ lụy từ những mâu thuẫn, căng thẳng nếu như không giải quyết được bài toán về lợi ích kinh tế trong quá trình phát triển thật khó có thể lường trước được, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai[3]. Đứng trước nhu cầu sử dụng đất để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, chỉnh trang, xây dựng đô thị đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, công tác thu hồi đất nói chung và thu hồi đất trong vùng phụ cận nói riêng sẽ tiếp tục đối mặt với những thách thức lớn từ lợi ích kinh tế mà các nhóm chủ thể luôn muốn tranh nhau giành phần hơn về mình. Chính vì lẽ đó, Nhà nước với tư cách là một chủ thể tham gia vào hoạt động thu hồi đất, đồng thời, cũng là chủ thể quản lý xã hội trên mọi mặt của đời sống nên cần phải có những định hướng đúng đắn trên cơ sở đảm bảo hài hòa về quyền và lợi ích chính đáng giữa các chủ thể trong quá trình thu hồi đất và giải quyết các chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Thứ ba, phải đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội. Có thể nhận thấy, trong nhiều năm vừa qua, dư luận hết sức quan tâm đến những “điểm nóng” nổi cộm liên quan đến đất đai, gây ảnh hưởng nhất định đến trật tự, an toàn xã hội của địa phương như vụ Tiên Lãng (Hải Phòng), vụ Đồng Tâm (Hà Nội)... Chính vì thế, xây dựng nguyên tắc khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những phương pháp nhằm điều chỉnh nhận thức chung của các chủ thể tham gia vào quy trình này trên cả nước, hạn chế trường hợp mỗi địa phương “sáng tạo” thêm những cách làm mới, vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý, tạo nên những “điểm nóng” gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến tài sản, sức khỏe và thậm chí là tính mạng con người.

Thứ tư, nhằm đảm bảo quá trình đô thị hóa diễn ra theo lộ trình, phát triển bền vững tại các đô thị và hạn chế tình trạng “quy hoạch treo”, “dự án treo”. Nhu cầu đô thị hóa và sử dụng đất để mở rộng không gian đô thị là một tất yếu trong xu thế phát triển tại nước ta. Điều này đồng nghĩa với việc chuyển đổi một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp thành khu đô thị, khu dân cư nông thôn; đồng thời, nông dân dần chuyển mình thành công dân đô thị với những thay đổi về tập quán, tâm lý, lối sống, việc làm, thu nhập… Đô thị hóa làm cho diện mạo của một quốc gia thay đổi, hiện đại và văn minh hơn. Tuy nhiên, nếu không có quy hoạch tổng thể, đồng bộ, nhất quán sẽ dễ dàng dẫn đến tình trạng ồ ạt, tự phát xây dựng khu đô thị, khu dân cư nông thôn gây lãng phí và kém hiệu quả. Chính vì vậy, công tác lập quy hoạch, thu hồi đất vùng phụ cận, giải phóng mặt bằng cần được các cấp chính quyền quan tâm, thực hiện dựa trên nguyên tắc đồng thuận của cả hệ thống chính trị và sự tham gia của người dân để đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Để làm được điều này, trước hết phải có được những quy định mang tính nguyên tắc soi rọi xuyên suốt quá trình thực hiện từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến khâu thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Thứ năm, nhằm góp phần hạn chế tình trạng lợi ích nhóm, tham nhũng trong quản lý đất đai. Những năm qua, số dự án đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất một cách công khai, minh bạch không nhiều[4]. Theo thống kê đăng tải trên Báo Người lao động, có hơn 1.300 dự án điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, đặc biệt có dự án được điều chỉnh hơn 05 lần và việc điều chỉnh theo đề xuất của nhà đầu tư đã làm thay đổi rất nhiều so với các bản quy hoạch ban đầu, điều này vô hình trung gây hệ lụy lớn về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tại khu vực đó[5]. Do vậy, việc xây dựng bổ sung nguyên tắc thu hồi đất sẽ góp phần không nhỏ trong ngăn chặn tình trạng tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm trong việc thu hồi đất, quá đó hạn chế tình trạng khiếu kiện trong dân, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.

2. Kiến nghị xây dựng nguyên tắc thu hồi đất và thu hồi đất vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án

2.1. Đảm bảo sự lãnh đạo, định hướng của Đảng trong quá trình thu hồi đất

Đất đai và con người từ lâu đã trở thành một cặp phạm trù có mối quan hệ gắn bó với nhau trong suốt chiều dài lịch sử. Trong tiến trình phát triển của loài người, phân hóa xã hội gia tăng làm xuất hiện các xã hội có giai cấp trên thế giới. Đặc biệt, với sự ra đời của Nhà nước, đất đai cũng dần trở thành một trong các mối quan tâm của nhiều chủ thể xã hội. Chính vì lẽ đó, trong suốt nhiều thập niên qua, vấn đề đất đai và đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành một đề tài thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách… trong đó, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đất đai luôn đóng một vai trò nền tảng quan trọng trong quá trình thể chế hóa thành các chính sách, pháp luật cụ thể ngay từ những ngày đầu Đảng ta ra đời đến nay.

Có thể nhận thấy, qua các kỳ Đại hội của Đảng, nhiều văn kiện quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình thể chế hóa pháp luật đất đai ở nước ta đã ra đời. Cách đây hơn một thập niên, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 12/3/2003 về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tại văn kiện này, Đảng ta đã xác định chính sách đất đai phải chú ý đầy đủ tới các mặt kinh tế, chính trị, xã hội; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người đầu tư và người sử dụng đất, trong đó cần chú trọng đúng mức lợi ích của Nhà nước, của xã hội. Tăng cường trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi thành viên trong xã hội đối với việc quản lý và sử dụng đất.

Ngày 31/10/2012, Đảng ta tiếp tục ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 19-NQ/TW) đã đưa ra những đánh giá mang tính toàn diện về quá trình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam, đồng thời, đề ra những định hướng quan trọng đối với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai. Đặc biệt, văn kiện này đã xây dựng cơ sở vững chắc cho việc sửa đổi, bổ sung và ra đời của Luật Đất đai năm 2013. Tại Nghị quyết này, Đảng ta đã chỉ rõ những khuyết điểm, hạn chế trong chính sách đất đai nhiều năm qua như công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai. Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp.

Trên cơ sở chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã có những định hướng cụ thể trong từng hoạt động quản lý, trong đó có vấn đề thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án. Cụ thể, Đảng ta đề ra định hướng đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, chỉnh trang đô thị, cần quy hoạch cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để thu hồi đất, tạo nguồn lực từ đất đai đầu tư cho các công trình này, hỗ trợ người có đất bị thu hồi và tăng thu ngân sách nhà nước; đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất ở được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật.

Như vậy, với những định hướng trên, Đảng ta tiếp tục xác định quản lý, sử dụng đất đai nói chung là một vấn đề mang ý nghĩa quan trọng trên nhiều mặt của đời sống xã hội. Đặc biệt, Nghị quyết số 19-NQ/TW là nền tảng quan trọng trong quá trình xây dựng các quy định về thu hồi đất, thu hồi đất trong vùng phụ cận trong Luật Đất đai năm 2013, tạo điều kiện phát triển nguồn vốn để đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, hình thành chuỗi đô thị hiện đại, văn minh đáp ứng kịp thời quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.2. Phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Khi tiến hành thu hồi đất và thu hồi đất trong vùng phụ cận cần phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng để tạo nên sự thay đổi đồng bộ và nhất quán trong quá trình phân phối đất đai cũng như phát triển đô thị ở Việt Nam, tuân thủ đúng nguyên tắc sử dụng đất là “đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” (khoản 1 Điều 6 Luật Đất đai năm 2013).

Việc thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có một số ưu điểm sau đây: (i) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể lập quy hoạch mang tính toàn diện, bao quát, chủ động gắn với việc thay đổi, chỉnh trang bộ mặt hiện trạng của đô thị hoặc xây dựng những đô thị mới một cách đồng bộ về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội[6], hạn chế trường hợp nhà “siêu mỏng”, “siêu méo”; (ii) Việc tuân thủ nguyên tắc thu hồi đất vùng phụ cận phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn cho phép chính quyền địa phương chủ động tạo được nguồn vốn dự trữ cho các dự án giải phóng mặt bằng đã được lên kế hoạch từ trước; (iii) Nguyên tắc này còn đảm bảo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền không bị động trong khâu bồi thường, hỗ trợ và đặc biệt là trong quá trình tổ chức tái định cư. Cùng với quá trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chính quyền địa phương tiến hành khảo sát trên nhiều phương diện, đánh giá và lựa chọn phương án bồi thường, tái định cư trước khi tiến hành khâu thu hồi đất; (iv) Việc tuân thủ nguyên tắc trên còn giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định ranh giới thu hồi đất vùng phụ cận, hạn chế được tình trạng thu hồi đất một cách tràn lan, gây lãng phí đến nguồn lực đất đai.

Bắt nguồn từ những ưu điểm trên, Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định việc thu hồi đất nên thực hiện trực tiếp theo kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được xét duyệt để phát huy những ưu điểm nêu trên. Tuy nhiên, thực tiễn công tác giải phóng mặt bằng trong nhiều năm qua cho thấy, khi quy hoạch không khả thi thì cơ chế thu hồi đất theo quy hoạch có thể dẫn đến tình trạng bỏ hoang đất đã thu hồi, vừa lãng phí đất đai và vừa gây bức xúc cho người có đất bị thu hồi[7]. Thực trạng trạng “quy hoạch treo” không còn hiếm gặp ở các địa phương nước ta khi mà vô số các dự án, quy hoạch vẫn nằm “chờ thời”[8].

Qua đó cho thấy, tuân thủ nguyên tắc đảm bảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong thu hồi đất là việc làm vô cùng quan trọng. Điều này đòi hỏi chính quyền địa phương phải có tầm nhìn trong thiết kế quy hoạch, đánh giá tiềm năng thu hút đầu tư và có chế độ đãi ngộ hợp lý cho những người tham gia công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng.

2.3. Đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Không chỉ ở Việt Nam mà đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm rằng đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước. Quản lý và sử dụng đất đai là vấn đề rộng lớn, phức tạp, hệ trọng liên quan đến giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Do đó, một trong số những định hướng mà Đảng và Nhà nước ta đề ra khi tiến hành đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai là sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. Vì vậy, hoạt động thu hồi đất, thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án cũng không được xa rời nguyên tắc trên. Trong quá trình thực hiện, việc sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần tối ưu hóa giá trị và giá trị sử dụng của đất đai, mang lại lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia.

2.4. Phải đảm bảo công khai, minh bạch, nắm vững tập quán định cư và tâm lý người có đất bị thu hồi

Công khai, minh bạch là nguyên tắc căn bản cho các hoạt động thu hồi đất, từ giai đoạn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho đến khi hoàn thành các thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho nhà đầu tư thực hiện dự án. Đây là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong khu vực quy hoạch cũng như nhà đầu tư. Nguyên tắc công khai, minh bạch đòi hỏi chính quyền địa phương tạo điều kiện để người dân được tiếp cận và nắm bắt các thông tin có liên quan đến việc thu hồi đất, thu hồi đất trong vùng phụ cận, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Thực hiện tốt quyền tiếp cận thông tin trong thu hồi đất không chỉ đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn đóng vai trò phục vụ cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai[9]. Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 còn có quy định về quyền giám sát của công dân đối với việc quản lý, sử dụng đất đai (tại Điều 199). Theo đó, công dân có thể thực hiện quyền giám sát của mình trong các nội dung quan trọng như việc lập, điều chỉnh, công bố, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất; việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất… Có thể nói, đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng giúp cho người dân có được “tiếng nói” cần thiết, thể hiện được quyền của chủ sở hữu đối với loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng này.

Bên cạnh vấn đề công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng đất nói chung và trong thu hồi đất nói riêng, việc nắm vững các yếu tố về tập quán, truyền thống, tâm lý của người có đất bị thu hồi là một trong những nguyên tắc đảm bảo sự thành công, hiệu quả và tiến độ thực hiện dự án có thu hồi đất. Theo Đại từ điển tiếng Việt, tập quán là “thói quen hình thành từ lâu trong đời sống, được mọi người làm theo”[10]. Giá trị xã hội mà tập quán mang lại cho cộng đồng dân cư là không thể phủ nhận, trong đó, có yếu tố ổn định đối với đời sống, sản xuất của người dân trong khu vực[11]. Tuy nhiên, trong quá trình Nhà nước thực hiện thu hồi đất nói chung, sự xáo trộn đến cuộc sống ổn định mà tập quán, truyền thống mang lại từ lâu đối với người dân trong dự án là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, đảm bảo được nguyên tắc trên là một trong vấn đề cần được sự quan tâm của chính quyền địa phương.

Ở nước ta, mặc dù quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ; tuy nhiên, người dân vẫn còn mang nặng tư tưởng của cư dân nông nghiệp truyền từ bao đời nay, đó là quan niệm về “bờ xôi ruộng mật”, “an cư lạc nghiệp”. Cùng với đó, tâm lý lo ngại về tình trạng khan hiếm đất trong tương lai do sự bùng nổ dân số đô thị đã khiến cho hoạt động đầu cơ về nhà đất diễn ra mạnh mẽ tại các đô thị lớn. Điều này đã vô hình trung làm cho quá trình thu hồi đất tại các đô thị lớn diễn ra khá chậm, thậm chí là kéo dài nhiều năm liền. Từ thực tiễn trên cho thấy, yếu tố tập quán và tâm lý dân cư cần phải được quan tâm đúng mức khi tiến hành thu hồi đất. Bởi lẽ, mỗi thửa đất, mảnh vườn, ngôi nhà, ao cá, bờ đê… không chỉ có liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất của người dân mà nó còn mang yếu tố tinh thần, yếu tố truyền thống và tâm linh từ bao đời nay của dân tộc. Do đó, để đạt được mục tiêu thu hồi đất hiệu quả, đúng tiến độ, cần phải xem xét đúng mức, cân nhắc kỹ lưỡng đến yếu tố này trong quá trình quy định và thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất.

2.5. Phải đảm bảo phát huy các nguồn lực gắn với mục tiêu phát triển bền vững

Nguồn lực là một khái niệm bao hàm nhiều yếu tố vật chất hữu hình và vô hình cần thiết có thể tạo ra lợi ích nhất định dưới một hình thức nào đó. Trong quá trình thực hiện thu hồi đất và thu hồi đất trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án, cần phải có sự tham gia của nhiều loại nguồn lực khác nhau. Trong đó, mỗi nguồn lực lại đóng một vai trò khác nhau, quyết định đến sự thành công hay thất bại của một dự án. Nếu như điều kiện tự nhiên là nguồn lực có sẵn của mỗi địa phương thì các nguồn lực về vốn lại có thể huy động linh hoạt khi chính quyền có chính sách phù hợp. Ngoài ra, con người nên được xem là nguồn lực nền tảng trong quá trình thu hồi đất. Bởi lẽ, sự tham gia của đội ngũ thực thi nhiệm vụ trong xuyên suốt các khâu để có được một diện tích đất “sạch” là vô cùng cần thiết, mỗi khâu trong chu trình đó cần có bộ phận chuyên môn phụ trách, đảm bảo được chất lượng và các yêu cầu khắt khe khác của công việc để tạo nên kết quả cuối cùng.

Bên cạnh đó, nguyên tắc đảm bảo phát huy các nguồn lực còn đòi hỏi sự tham gia tích cực từ cộng đồng, của các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội trong toàn bộ quá trình từ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến thực hiện di dời, giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư. Tuy nhiên, để có thể xây dựng được sự tương hợp giữa “ý Đảng lòng dân”, phát huy được mọi nguồn lực trong cộng đồng, thiết nghĩ các cơ quan chức năng cần phải làm tốt khâu vận động, tuyên truyền, công khai, minh bạch và tăng cường dân chủ trong xuyên suốt hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước.

Ngoài yêu cầu đảm bảo phát huy các nguồn lực, công tác thu hồi đất cũng cần hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Bởi lẽ, diện tích đất đai là có hạn, nhu cầu sử dụng lại ngày một tăng cao. Bên cạnh đó, trong quá trình sử dụng đất, con người đã có những tác động tiêu cực làm biến đổi tính chất tự nhiên, độ phì của đất, kết hợp với sự ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm cho một phần diện tích đất kém màu mỡ, hiệu quả trồng trọt giảm sút. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa, xây dựng kết cấu hạ tầng diễn ra ngày càng mạnh mẽ nhưng không theo quy hoạch, kế hoạch đã dẫn đến tình trạng đất đai bị manh mún, hoang hóa, gây lãng phí rất lớn đối với nguồn lực vô cùng có giá trị này. Chính vì vậy, trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 05 năm 2016 - 2020 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã xác định: Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, xanh, thân thiện với môi trường, nhất là các đô thị lớn. Nâng cao chất lượng và quản lý tốt quy hoạch đô thị, bảo đảm phát triển bền vững, có chính sách xây dựng khu đô thị mới ven các đô thị lớn, khai thác hiệu quả hạ tầng và tiết kiệm đất.

Để góp phần thực hiện mục tiêu trên mà Đảng ta đã đề ra, trong quá trình thu hồi đất, nguyên tắc phát triển bền vững cần được chú trọng quan tâm dưới một số góc độ sau đây: (i) Việc xác định, lựa chọn vị trí, diện tích đất để thu hồi cần được xem xét cẩn trọng, quan tâm đến lợi ích từ nhiều khía cạnh như kinh tế, xã hội, văn hóa… (ii) Trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo tính khả thi, có thể mang lại hiệu quả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các dự án đầu tư khai thác quỹ đất. (iii) Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, thu hồi đất cần tính đến các yếu tố về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế những tác động tiêu cực đến cảnh quan thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên khác của hệ sinh thái.

Mỗi nguyên tắc đề ra trong quá trình thu hồi đất nói chung và thu hồi đất trong vùng phụ cận giữ một vị trí nhất định góp phần tạo ra hiệu quả và chất lượng dự án. Thiếu đi một nguyên tắc có thể ảnh hưởng đến sự vận hành của các nguyên tắc còn lại, cũng như tác động tiêu cực đến tiến độ và kết quả thực hiện dự án. Do vậy, chính quyền địa phương, dựa trên tình hình thực tế cũng như nguồn lực sẵn có, để có thể vận dụng các nguyên tắc thực thi trên một cách mềm dẻo, linh hoạt và phát huy được nội lực vốn có của mình./.

ThS. Nguyễn Quang Thành

Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp


[1] Xem thêm: Hoài Thu, Quản lý đất đai và nhiều vấn đề ‘nóng’ đặt lên bàn nghị sự Quốc hội, Chuyên trang Đầu Tư Tài Chính Việt Nam - VietnamFinance, https://vietnamfinance.vn/quan-ly-dat-dai-va-nhieu-van-de-nong-dat-len-ban-nghi-su-quoc-hoi-20180504224224031.htm, truy cập ngày 27/6/2019; Phương Anh, Bịt lỗ hổng trong quản lý đất đai, Báo Nhân dân điện tử, https://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/39048002-bit-lo-hong-trong-quan-ly-dat-dai.html, truy cập ngày 27/6/2019.

[2] Xem thêm: Phan Trung Hiền (2016), Vấn đề xác định lợi ích, điều tiết và cân bằng lợi ích khi Nhà nước thu hồi đất, trong: “Pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam”, Phan Trung Hiền (Chủ biên), Nxb. Đại học Cần Thơ, tr. 152-185.

[3] Xem thêm: Nguyễn Đăng Dung, Từ vụ việc ở Tiên Lãng, nghĩ về sửa đổi Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5(213), tháng 3/2012; Nguyễn Quang Đồng (2016), Từ các vụ xung đột đất đai nhìn lại chuyện thu hồi đất, http://www.baomoi.com/tu-cac-vu-xung-dot-dat-dai-nhin-lai-chuyen-thu-hoi-dat/c/20889061.epi, truy cập ngày 08/6/2017; Trọng Điển (2017), Thu hồi đất đai: Giải quyết lợi ích kinh tế không phải là tất cả, http://vcci.com.vn/thu-hoi-dat-dai-giai-quyet-loi-ich-kinh-te-khong-phai-la-tat-ca, truy cập ngày 08/6/2017.

[4] Trung Kiên, Chặn lợi ích nhóm tại các dự án đất đai, Báo điện tử Nhân dân, https://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/39475202-chan-loi-ich-nhom-tai-cac-du-an-dat-dai.html, truy cập ngày 27/6/2019.

[5] Văn Duẩn, Làm rõ lợi ích nhóm trong quy hoạch đất đai, Báo điện tử Người lao động, https://nld.com.vn/thoi-su/lam-ro-loi-ich-nhom-trong-quy-hoach-dat-dai-20190527224843728.htm, truy cập ngày 27/6/2019.

[6] Xem thêm: Đặng Hùng Võ (2011), Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam - Phương pháp tiếp cận, định giá đất và giải quyết khiếu nại của dân, Hà Nội, tr. 23.

[7] Đặng Hùng Võ (2013), Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và giải quyết bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất dưới góc nhìn của kinh nghiệm quốc tế, trong: Kỷ yếu Hội thảo "Xác định khó khăn và đề xuất giải pháp khi thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn TP. Cần Thơ", Cần Thơ, tr. 4.

[8] Xem thêm: Võ Hương, C.V. Kình, Mạnh Khang, Tài Phong (2015), Tiêu 8.000 tỉ đồng và dân chờ quy hoạch “treo”, http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/tieu-diem/20150726/tieu-8000-ty-dong-va-dan-cho-quy-hoach-treo/783033.html, truy cập ngày 20/4/2017.

[9] Nguyễn Quang Thành và Bùi Kim Trọng, Quyền tiếp cận thông tin của công dân khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=171, truy cập ngày 12/7/2017.

[10] Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr. 1508.

[11] Xem thêm: Phan Trung Hiền và Dương Văn Học, Ảnh hưởng của yếu tố tập quán truyền thống đến tâm lý người dân trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Tạp chí Khoa học Cần Thơ, số 04(46), 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: