Thứ bảy 16/05/2026 05:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tầm nhìn vĩ đại về một Đảng cầm quyền

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, để tìm hiểu rõ hơn về nội dung bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lời dặn dò của Người trước lúc đi xa..., phóng viên (PV) Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc - Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, để tìm hiểu rõ hơn về nội dung bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lời dặn dò của Người trước lúc đi xa..., phóng viên (PV) Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc - Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Người đã dành nhiều tâm huyết và sức lực trong nhiều năm để nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi.

PV: Trước khi đi xa về cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khôn nguôi trăn trở rất nhiều việc, trong đó có vấn đề về Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng cầm quyền, một tổ chức có trọng trách vô cùng nặng nề đối với dân tộc Việt Nam. Ông có thể lý giải về điều này?

PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc: Trong bản Di chúc có ý nghĩa lịch sử trường tồn, được chuẩn bị rất công phu và bí mật, điều trăn trở đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói về Đảng. Với trách nhiệm lớn lao và tầm nhìn chiến lược, Người đã viết những điều cơ bản và sâu sắc về xây dựng Đảng. Người nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền và bản chất cách mạng của Đảng; vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình để phát triển Đảng; vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng. “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(1).

Điều khẳng định đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng quyết định thắng lợi của cách mạng, mục tiêu, lý tưởng, bản chất cách mạng và công lao to lớn của Đảng đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng là vì nước, vì dân, đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nêu rõ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của đất nước và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác, Đảng không mưu cầu lợi ích cho riêng mình. Đó là bản chất của một Đảng chân chính cách mạng. Bản chất giai cấp thống nhất với bản chất dân tộc, bản chất nhân dân trong xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Từ Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 02/1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ điều đó. Khi nhấn mạnh Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Từ bản chất cách mạng và mục tiêu cao cả đó, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi. Đoàn kết, tổ chức chỉ phát huy sức mạnh khi được dẫn dắt bởi đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn. Sự tổng kết đó trong Di chúc có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng và về xây dựng Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Di chúc: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2).

Đoàn kết thống nhất trong Đảng được Hồ Chí Minh chú trọng ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng. Người cho rằng, những người cộng sản, Đảng Cộng sản phải giữ chủ nghĩa cho vững, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt nghĩa là phải được trang bị học thuyết lý luận, Đảng phải có Cương lĩnh, mục tiêu chính trị rõ ràng, đúng đắn, Đảng phải có kỷ luật nghiêm minh. Đó là cơ sở cho sự đoàn kết nhất trí của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh, trong Đảng, tư tưởng, chính trị phải thống nhất, hành động phải thống nhất. Đoàn kết trong Đảng quyết định sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền không thể có hoạt động chia rẽ, bè phái. Đoàn kết nhất trí cũng là bản chất của Đảng chân chính cách mạng. Mác, Ăngghen, Lênin đã nêu rõ nguyên tắc đoàn kết thống nhất của các đảng cộng sản và tư tưởng lớn vô sản toàn thế giới đoàn kết lại. Trong hoạt động thực tiễn những năm 50, 60 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản quốc tế có sự bất đồng chia rẽ. Từ bài học lịch sử đó, càng thấu hiểu điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa chính trị và mang tính quy luật bền vững.

Một nội dung rất quan trọng về xây dựng Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(3).

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Từ khi ra đời và quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn luôn tuân thủ nguyên tắc cơ bản đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành dân chủ trong Đảng nhằm phát huy trí tuệ, sáng kiến của tập thể và cũng nhằm phòng ngừa những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, chủ quan duy ý chí. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn luôn lắng nghe ý kiến của các đồng chí, đồng sự, ý kiến của cấp dưới và của nhân dân để cùng với Đảng đề ra chủ trương, quyết sách thích hợp. Dân chủ trong Đảng, trong tập thể lãnh đạo đối với Hồ Chí Minh là yêu cầu hàng đầu trong thực hiện sự lãnh đạo. Đó là phương thức lãnh đạo và phong cách làm việc Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người căn dặn và cũng là đòi hỏi phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Dân chủ càng rộng rãi càng tổng hợp được những ý kiến đúng, những sáng kiến hay để đi đến những quyết định tập trung đúng đắn. Tập trung trên cơ sở phát huy dân chủ, dân chủ hướng tới tập trung đúng đắn, vì vậy, dân chủ và tập trung có mối quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau. Phải phòng ngừa tập trung quan liêu, đồng thời cũng phải nhận thức đúng đắn vấn đề dân chủ trong Đảng, tránh biểu hiện dân chủ cực đoan, ý kiến tùy tiện, thiếu tinh thần xây dựng, thiếu ý thức tập thể. Đó là những điều sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở và trước khi ra đi, Người vẫn đau đáu điều đó bởi sự tồn vong của Đảng gắn liền với sự tồn vong của đất nước.

PV: Để Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam. Theo ông, trong Di chúc của mình, Hồ Chủ Tịch đã đúc rút điều gì?

PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc: Trước hết, đó là luôn làm trong sạch Đảng, vì vậy, vấn đề tự phê bình và phê bình được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt ra ngay khi thành lập Đảng. Người đặt ra yêu cầu Đảng và mỗi đảng viên, mỗi người cách mạng phải biết cả quyết sửa lỗi mình. Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề tự phê bình và phê bình càng phải đặc biệt chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10 năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”(4). Chủ tịch Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn quý báu về tự phê bình, phê bình thế nào cho đúng, có hiệu quả. Phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình để tự mình sửa chữa.

Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm cũng tự sửa chữa được nhiều.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn nhủ, cũng là mong muốn tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết vững chắc cần có tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để sửa chữa khuyết điểm, làm cho Đảng mạnh thêm và luôn luôn thống nhất về ý chí và hành động. Đoàn kết, tự phê bình và phê bình cũng phải dựa trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Năm 1968, khi có ý kiến về chủ trương làm sách về người tốt, việc tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa.

Yêu cầu đặt ra với một Đảng cầm quyền được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập sâu sắc trong Di chúc. Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(5).

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên trước hết mà cốt lõi là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Đó là sự đúc kết từ suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, trong Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã ghi ở trang đầu 23 điểm trong tư cách của người cách mệnh, trong đó đề cao sự cần kiệm, ít lòng tham muốn vật chất, vị công vong tư, nói thì phải làm. Khi Đảng đã cầm quyền trong Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nội dung tư cách và đạo đức cách mạng, nhấn mạnh tư cách của Đảng chân chính cách mạng gồm 12 điều bảo đảm cho Đảng được vững bền.

Đạo đức cách mạng trong quan niệm của Hồ Chí Minh là suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; là ra sức làm việc, giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của Đảng, nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, gương mẫu về mọi mặt; là ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác. Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đạo đức cách mạng là “Dĩ công vi thượng”. Muốn rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cần phải chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Vì đó là nguồn gốc của mọi sai lầm, khuyết điểm và sự hư hỏng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn Đảng phải thật sự trong sạch, nghĩa là Đảng phải bao gồm những đảng viên ưu tú, trung kiên có đạo đức phẩm chất tốt, giữ nghiêm kỷ luật. “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”(6). Từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập công việc chỉnh đốn Đảng. Sau này, Người nhiều lần đặt ra yêu cầu chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Chỉ có như vậy mới xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là người lãnh đạo nghĩa là nắm vững lý luận, quy luật khách quan và thực tiễn, đề ra đường lối, chính sách, chủ trương đúng đắn, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng vì đất nước độc lập, giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong, gương mẫu, là người đày tớ trung thành của nhân dân. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Xây dựng Đảng trong quan niệm của Hồ Chí Minh để Đảng lãnh đạo ngày càng tốt hơn và thật sự vì nước, vì dân. Xây dựng Đảng để kế tiếp truyền thống vẻ vang của Đảng và làm cho Đảng phát triển mạnh mẽ, vì vậy, Đảng phải chăm lo giáo dục, đào tạo thanh niên, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

Trong phần viết bổ sung vào tháng 5 năm 1968, Người nêu rõ sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước thắng lợi: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(7).

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin, lý tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước chống phá quyết liệt với mưu đồ phủ nhận, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ kinh tế khép kín sang mở cửa, hội nhập quốc tế đã thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, song khó tránh những mặt trái, tiêu cực, trong khi cán bộ, đảng viên chưa được chuẩn bị tốt về nhận thức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng.

Để vượt qua những thách thức, nguy cơ, vấn đề hàng đầu là phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng về mọi mặt chính trị, tư tưởng, lý luận, tổ chức và cán bộ, thực hiện tốt những điều trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh mới.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo nội dung Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là nhiệm vụ thường xuyên, nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Những vấn đề cấp bách được Trung ương đặt ra phải được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc gắn liền với việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011. Phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Những suy thoái, hư hỏng đó “nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”(8). Nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng được nhận thức và hành động thiết thực và có hiệu quả khi suy ngẫm từ những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong dịp kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Người và 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 621 - 622.

2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 622.

3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 622.

4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 5, tr. 290.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 622.

6. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 5, tr. 290.

7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 616.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tr. 21 - 22.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: