Thứ tư 04/03/2026 10:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tầm nhìn vĩ đại về một Đảng cầm quyền

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, để tìm hiểu rõ hơn về nội dung bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lời dặn dò của Người trước lúc đi xa..., phóng viên (PV) Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc - Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Nhân dịp kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, để tìm hiểu rõ hơn về nội dung bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những lời dặn dò của Người trước lúc đi xa..., phóng viên (PV) Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc - Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Người đã dành nhiều tâm huyết và sức lực trong nhiều năm để nghiên cứu về Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi.

PV: Trước khi đi xa về cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khôn nguôi trăn trở rất nhiều việc, trong đó có vấn đề về Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng cầm quyền, một tổ chức có trọng trách vô cùng nặng nề đối với dân tộc Việt Nam. Ông có thể lý giải về điều này?

PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc: Trong bản Di chúc có ý nghĩa lịch sử trường tồn, được chuẩn bị rất công phu và bí mật, điều trăn trở đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nói về Đảng. Với trách nhiệm lớn lao và tầm nhìn chiến lược, Người đã viết những điều cơ bản và sâu sắc về xây dựng Đảng. Người nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, trách nhiệm cầm quyền và bản chất cách mạng của Đảng; vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình để phát triển Đảng; vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng. “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(1).

Điều khẳng định đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật vai trò lãnh đạo của Đảng quyết định thắng lợi của cách mạng, mục tiêu, lý tưởng, bản chất cách mạng và công lao to lớn của Đảng đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng là vì nước, vì dân, đấu tranh vì độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nêu rõ, ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của đất nước và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác, Đảng không mưu cầu lợi ích cho riêng mình. Đó là bản chất của một Đảng chân chính cách mạng. Bản chất giai cấp thống nhất với bản chất dân tộc, bản chất nhân dân trong xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Từ Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 02/1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ điều đó. Khi nhấn mạnh Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Từ bản chất cách mạng và mục tiêu cao cả đó, Đảng đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi. Đoàn kết, tổ chức chỉ phát huy sức mạnh khi được dẫn dắt bởi đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn. Sự tổng kết đó trong Di chúc có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng và về xây dựng Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Di chúc: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”(2).

Đoàn kết thống nhất trong Đảng được Hồ Chí Minh chú trọng ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng. Người cho rằng, những người cộng sản, Đảng Cộng sản phải giữ chủ nghĩa cho vững, Đảng phải có chủ nghĩa làm cốt nghĩa là phải được trang bị học thuyết lý luận, Đảng phải có Cương lĩnh, mục tiêu chính trị rõ ràng, đúng đắn, Đảng phải có kỷ luật nghiêm minh. Đó là cơ sở cho sự đoàn kết nhất trí của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh, trong Đảng, tư tưởng, chính trị phải thống nhất, hành động phải thống nhất. Đoàn kết trong Đảng quyết định sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Đảng Cộng sản lãnh đạo và cầm quyền không thể có hoạt động chia rẽ, bè phái. Đoàn kết nhất trí cũng là bản chất của Đảng chân chính cách mạng. Mác, Ăngghen, Lênin đã nêu rõ nguyên tắc đoàn kết thống nhất của các đảng cộng sản và tư tưởng lớn vô sản toàn thế giới đoàn kết lại. Trong hoạt động thực tiễn những năm 50, 60 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản quốc tế có sự bất đồng chia rẽ. Từ bài học lịch sử đó, càng thấu hiểu điều Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa chính trị và mang tính quy luật bền vững.

Một nội dung rất quan trọng về xây dựng Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(3).

Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Từ khi ra đời và quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn luôn tuân thủ nguyên tắc cơ bản đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng thực hành dân chủ trong Đảng nhằm phát huy trí tuệ, sáng kiến của tập thể và cũng nhằm phòng ngừa những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, chủ quan duy ý chí. Là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn luôn lắng nghe ý kiến của các đồng chí, đồng sự, ý kiến của cấp dưới và của nhân dân để cùng với Đảng đề ra chủ trương, quyết sách thích hợp. Dân chủ trong Đảng, trong tập thể lãnh đạo đối với Hồ Chí Minh là yêu cầu hàng đầu trong thực hiện sự lãnh đạo. Đó là phương thức lãnh đạo và phong cách làm việc Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người căn dặn và cũng là đòi hỏi phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Dân chủ càng rộng rãi càng tổng hợp được những ý kiến đúng, những sáng kiến hay để đi đến những quyết định tập trung đúng đắn. Tập trung trên cơ sở phát huy dân chủ, dân chủ hướng tới tập trung đúng đắn, vì vậy, dân chủ và tập trung có mối quan hệ mật thiết và quyết định lẫn nhau. Phải phòng ngừa tập trung quan liêu, đồng thời cũng phải nhận thức đúng đắn vấn đề dân chủ trong Đảng, tránh biểu hiện dân chủ cực đoan, ý kiến tùy tiện, thiếu tinh thần xây dựng, thiếu ý thức tập thể. Đó là những điều sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở và trước khi ra đi, Người vẫn đau đáu điều đó bởi sự tồn vong của Đảng gắn liền với sự tồn vong của đất nước.

PV: Để Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam. Theo ông, trong Di chúc của mình, Hồ Chủ Tịch đã đúc rút điều gì?

PGS. TS. Nguyễn Trọng Phúc: Trước hết, đó là luôn làm trong sạch Đảng, vì vậy, vấn đề tự phê bình và phê bình được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đặt ra ngay khi thành lập Đảng. Người đặt ra yêu cầu Đảng và mỗi đảng viên, mỗi người cách mạng phải biết cả quyết sửa lỗi mình. Khi đã trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề tự phê bình và phê bình càng phải đặc biệt chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (tháng 10 năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đảng không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”(4). Chủ tịch Hồ Chí Minh có những chỉ dẫn quý báu về tự phê bình, phê bình thế nào cho đúng, có hiệu quả. Phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình để tự mình sửa chữa.

Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm cũng tự sửa chữa được nhiều.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắn nhủ, cũng là mong muốn tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Đoàn kết vững chắc cần có tự phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để sửa chữa khuyết điểm, làm cho Đảng mạnh thêm và luôn luôn thống nhất về ý chí và hành động. Đoàn kết, tự phê bình và phê bình cũng phải dựa trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Năm 1968, khi có ý kiến về chủ trương làm sách về người tốt, việc tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa.

Yêu cầu đặt ra với một Đảng cầm quyền được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập sâu sắc trong Di chúc. Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(5).

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên trước hết mà cốt lõi là cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Đó là sự đúc kết từ suốt quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng. Từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, trong Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã ghi ở trang đầu 23 điểm trong tư cách của người cách mệnh, trong đó đề cao sự cần kiệm, ít lòng tham muốn vật chất, vị công vong tư, nói thì phải làm. Khi Đảng đã cầm quyền trong Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nội dung tư cách và đạo đức cách mạng, nhấn mạnh tư cách của Đảng chân chính cách mạng gồm 12 điều bảo đảm cho Đảng được vững bền.

Đạo đức cách mạng trong quan niệm của Hồ Chí Minh là suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; là ra sức làm việc, giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; là hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của Đảng, nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, gương mẫu về mọi mặt; là ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác. Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đạo đức cách mạng là “Dĩ công vi thượng”. Muốn rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cần phải chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Vì đó là nguồn gốc của mọi sai lầm, khuyết điểm và sự hư hỏng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn Đảng phải thật sự trong sạch, nghĩa là Đảng phải bao gồm những đảng viên ưu tú, trung kiên có đạo đức phẩm chất tốt, giữ nghiêm kỷ luật. “Đảng phải luôn luôn tẩy bỏ những phần tử hủ hóa ra ngoài”(6). Từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập công việc chỉnh đốn Đảng. Sau này, Người nhiều lần đặt ra yêu cầu chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng mạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu. Chỉ có như vậy mới xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Là người lãnh đạo nghĩa là nắm vững lý luận, quy luật khách quan và thực tiễn, đề ra đường lối, chính sách, chủ trương đúng đắn, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng vì đất nước độc lập, giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là người tiên phong, gương mẫu, là người đày tớ trung thành của nhân dân. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Trong Di chúc, Người nhấn mạnh, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân. Xây dựng Đảng trong quan niệm của Hồ Chí Minh để Đảng lãnh đạo ngày càng tốt hơn và thật sự vì nước, vì dân. Xây dựng Đảng để kế tiếp truyền thống vẻ vang của Đảng và làm cho Đảng phát triển mạnh mẽ, vì vậy, Đảng phải chăm lo giáo dục, đào tạo thanh niên, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.

Trong phần viết bổ sung vào tháng 5 năm 1968, Người nêu rõ sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước thắng lợi: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”(7).

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin, lý tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước chống phá quyết liệt với mưu đồ phủ nhận, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ kinh tế khép kín sang mở cửa, hội nhập quốc tế đã thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, song khó tránh những mặt trái, tiêu cực, trong khi cán bộ, đảng viên chưa được chuẩn bị tốt về nhận thức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng.

Để vượt qua những thách thức, nguy cơ, vấn đề hàng đầu là phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng về mọi mặt chính trị, tư tưởng, lý luận, tổ chức và cán bộ, thực hiện tốt những điều trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh mới.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo nội dung Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là nhiệm vụ thường xuyên, nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Những vấn đề cấp bách được Trung ương đặt ra phải được thực hiện thường xuyên và nghiêm túc gắn liền với việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 14/5/2011. Phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Những suy thoái, hư hỏng đó “nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”(8). Nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng được nhận thức và hành động thiết thực và có hiệu quả khi suy ngẫm từ những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong dịp kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Người và 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 621 - 622.

2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 622.

3. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 622.

4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 5, tr. 290.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 622.

6. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 5, tr. 290.

7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tập 15, tr. 616.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tr. 21 - 22.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: