Thứ ba 10/02/2026 07:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Địa vị pháp lý của chủ nợ theo Luật Phá sản năm 2014

Trong quá trình giải quyết phá sản đối với một doanh nghiệp, chủ thể có quyền lợi bị ảnh hưởng nhiều nhất là các chủ nợ. Do đó, việc xác định đúng địa vị pháp của chủ nợ trong các quy định pháp luật về phá sản là vô cùng quan trọng. Cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phá sản ở Việt Nam, địa vị pháp lý của chủ nợ cũng được quan tâm và có nhiều thay đổi cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội cũng như hài hòa lợi ích của doanh nghiệp và chủ nợ.

Trong quá trình giải quyết phá sản đối với một doanh nghiệp, chủ thể có quyền lợi bị ảnh hưởng nhiều nhất là các chủ nợ. Do đó, việc xác định đúng địa vị pháp của chủ nợ trong các quy định pháp luật về phá sản là vô cùng quan trọng. Cùng với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về phá sản ở Việt Nam, địa vị pháp lý của chủ nợ cũng được quan tâm và có nhiều thay đổi cho phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội cũng như hài hòa lợi ích của doanh nghiệp và chủ nợ. Luật Phá sản năm 2014 đã có những quy định thể hiện địa vị pháp lý của chủ nợ trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp. Cụ thể:

Thứ nhất, Điều 5 Luật Phá sản năm 2014 quy định: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Như vậy, so với Luật Phá sản năm 2004, Luật Phá sản năm 2014 cũng quy định chỉ có chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Quy định này là phù hợp nhằm bảo đảm lợi ích cho chính chủ nợ cũng như sự công bằng với chính doanh nghiệp mắc nợ. Trên thực tế, có nhiều trường hợp chủ nợ có bảo đảm toàn bộ có thể chuyển thành chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không có bảo đảm khi giá trị tài sản bảo đảm bị giảm sút do biến động của thị trường hoặc hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi từ chủ nợ có bảo đảm toàn bộ sang chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không có bảo đảm, thì phải có sự thỏa thuận giữa chủ nợ và con nợ về việc định giá lại giá trị tài sản bảo đảm, nếu đạt được thỏa thuận này chủ nợ có bảo đảm sẽ chuyển thành chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không có bảo đảm và có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Trên thực tế trường hợp này rất ít xảy ra do việc thỏa thuận khó có thể đạt được khi thỏa thuận đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của con nợ (doanh nghiệp mắc nợ). Vì vậy, trong quá trình định giá giá trị tài sản bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm toàn bộ cần định giá chính xác, khách quan và lưu ý yếu tố phòng ngừa rủi ro đối với tài sản bảo đảm.

Luật Phá sản năm 2014 cũng quy định thời gian chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là khi hết thời hạn ba tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Quy định này mặc dù kéo dài thời gian nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ song cũng là cơ hội để hai bên thỏa thuận, đàm phán nhằm tìm ra phương án tốt hơn cho việc giải quyết các khoản nợ mà không nhất thiết phải thông qua thủ tục phá sản doanh nghiệp. Đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thời gian giải quyết khó khăn, tránh áp lực nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía chủ nợ, cũng như giúp chủ nợ có cơ hội bảo toàn và thu hồi trọn vẹn khoản nợ từ con nợ. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ không phụ thuộc giới hạn các khoản nợ, điều này có thể hiểu là khi trở thành chủ nợ của bất kỳ khoản nợ nào, số lượng nợ là bao nhiêu, thì chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Với quy định này, quyền của chủ nợ được đảm bảo tối đa, chủ nợ không cần chứng minh quy trình đòi nợ trước đó, cũng không cần phải xác định số lượng nợ nhiều hay ít đều có quyền khởi kiện, điều này tác động trực tiếp đến các con nợ là phải giải quyết tất cả các khoản nợ nếu không muốn bị rơi vào nguy cơ tuyên bố phá sản.

Thứ hai, Luật Phá sản năm 2014 phân biệt rõ chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm toàn bộ và chủ nợ có bảo đảm một phần. Các chủ nợ khác nhau thì có địa vị pháp lý khác nhau trên tinh thần bảo vệ quyền lợi ích của chủ nợ có bảo đảm triệt để hơn so với các loại chủ nợ khác. Mặc dù Luật Phá sản năm 2014 đã có sự điều chỉnh về thứ tự ưu tiên thanh toán khi giải quyết phá sản doanh nghiệp, theo đó chủ nợ có bảo đảm toàn bộ và chủ nợ có bảo đảm một phần đều có có cùng thứ tự thanh toán với chủ nợ không bảo đảm đối với khoản nợ chưa được thanh toán, nghĩa là trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm tại thời điểm thanh toán bị giảm so với giá trị định giá ban đầu nên không đủ để thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ có bảo đảm thì phần giá trị chưa được thanh toán sẽ được thanh toán cùng thứ tự với các khoản nợ của chủ nợ không có bảo đảm. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 quy định chưa rõ ràng về vấn đề này, cụ thể: Điều 41 quy định trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với các chủ nợ có bảo đảm; Điều 48 quy định sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện các hoạt động như: Thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã quy định. Quy định trên cho thấy, việc xử lý tài sản bảo đảm đối với chủ nợ có bảo đảm toàn bộ bị nghiêm cấm ngay từ thời điểm Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án, song việc thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ không có bảo đảm chỉ bị nghiêm cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Những quy định trên chưa bảo vệ được lợi ích của các chủ nợ có bảo đảm - chủ thể đáng được bảo vệ triệt để hơn khi giải quyết phá sản doanh nghiệp. Vì trên thực tế, dù doanh nghiệp có bị tuyên bố phá sản hay không thì tài sản bảo đảm vẫn thuộc quyền xử lý của chủ nợ có bảo đảm khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn theo sự thỏa thuận của các bên.

Thứ ba, Điều 47 Luật Phá sản năm 2014 quy định: Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh, nhưng phải chịu sự giám sát của thẩm phán và quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp vẫn được tiếp tục ký kết các hợp đồng và thiết lập các mối quan hệ mới, như vậy việc xuất hiện các chủ nợ sau khi tòa án tuyên bố mở thủ thục phá sản là điều không tránh khỏi. Những chủ nợ xuất hiện sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản được gọi chung là “chủ nợ mới”. Đây thực ra là những chủ nợ xuất hiện trong quá trình nỗ lực phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. So với Luật Phá sản năm 2004, thì Luật Phá sản năm 2014 đã có một số quy định nhằm bảo đảm lợi ích cho “chủ nợ mới” trong thứ tự ưu tiên thanh toán khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản (Điều 54). Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 quy định chưa rõ ràng về địa vị pháp lý của những “chủ nợ mới” cũng như chưa có cơ chế phù hợp trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp để khuyến khích các đối tác tham gia vào hoạt động phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể: Theo quy định tại Điều 68 Luật Phá sản thì, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, danh sách người mắc nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân tiến hành thủ tục phá sản, trụ sở chính của doanh nghiệp, hợp tác xã và phải gửi cho người mắc nợ trong 10 ngày làm việc kể từ ngày niêm yết. Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn niêm yết, người mắc nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có quyền đề nghị thẩm phán xem xét lại danh sách người mắc nợ. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại, thẩm phán phải xem xét, giải quyết đề nghị, nếu thấy đề nghị có căn cứ thì sửa đổi, bổ sung vào danh sách người mắc nợ. Như vậy, thời điểm quyết định danh sách chủ nợ cuối cùng là 53 ngày kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản. Nhưng theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, thì hoạt động của doanh nghiệp vẫn tiếp tục đến khi có quyết định tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản doanh nghiệp của Tòa án có thẩm quyền. Với quy định này, thì những “chủ nợ mới” có thể không có tên trong danh sách chủ nợ và không được thanh toán các khoản nợ khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Bởi vì, theo quy định của Luật Phá sản thì muốn được thanh toán các khoản nợ khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản các chủ nợ phải có tên trong danh sách chủ nợ đã được Tòa án có thẩm quyền niêm yết. Những quy định trên vô tình đã đưa những phương án phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ mang tính chất hình thức và không có tính khả thi vì nó hạn chế sự tham gia của các đối tác kinh doanh vào quá trình này.

Tóm lại, việc xác định địa vị pháp lý của chủ nợ trong quá trình giải quyết vụ án phá sản là vô cùng quan trọng, không chỉ thể hiện đúng tinh thần và vai trò của pháp luật phá sản là để bảo vệ lợi ích của của các chủ nợ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, thiết lập trật tự kinh doanh trên thương trường, mà việc xác định đúng vị trí pháp lý của các chủ nợ còn quyết định đến sự tồn tại hay không của chính các doanh nghiệp đang tham gia vào nền kinh tế. Mặc dù, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng đối với mọi đất nước, nhưng doanh nghiệp chỉ phát triển bền vững trên cơ sở dung hòa lợi ích giữa các nhóm chủ thể trong xã hội. Đồng thời, việc loại bỏ những doanh nghiệp kém phát triển, kinh doanh không hiệu quả cũng là vấn đề vô cùng cần thiết để làm trong sạch môi trường đầu tư. Trên thực tế, trong các mối quan hệ kinh tế rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh và phát triển trên cơ sở dung hòa lợi ích các bên nhưng cũng không ít doanh nghiệp dựa vào quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp để trốn tránh các nghĩa vụ tài sản đối với các chủ thể khác. Việc quy định rõ ràng địa vị pháp lý của các chủ nợ trong mối quan hệ này giúp các chủ nợ mạnh dạn hơn trong đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, đồng thời là cơ chế ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh và khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.

ThS. Nguyễn Thị An
Đại học Tài chính kế toán Quảng Ngãi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: