Thứ năm 12/03/2026 05:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dịch vụ trợ giúp pháp lý được xác định là dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

1. Dịch vụ trợ giúp pháp lý được xác định là dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Ngày 8/12/2021, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã ký Quyết định số 2069/QĐ-TTg ban hành Danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc Ngành Tư pháp (Quyết định số 2069/QĐ-TTg), theo đó đã xác định dịch vụ TGPL là dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu. Trên cơ sở đó, Quyết định này cũng giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn triển khai việc thực hiện cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ Danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, quyết định hoặc phân cấp cho cơ quan trực thuộc lựa chọn đơn vị sự nghiệp công để cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo hình thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu; rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập để bảo đảm cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu quy định tại Điều 1 Quyết định này và phù hợp với mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; bảo đảm đủ ngân sách để thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu theo phân cấp quản lý ngân sách hiện hành.

Được xác định là một dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu đã phần nào khẳng định vai trò của hoạt động TGPL trong công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, hoạt động TGPL là một hoạt động có tính chất, định hướng phát triển khác biệt với hoạt động bổ trợ tư pháp, không nằm trong nội hàm hoạt động bổ trợ tư pháp. Trong khi bổ trợ tư pháp gồm các hoạt động: Luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp, đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, thừa phát lại, quản tài viên có vai trò hỗ trợ đắc lực cho hệ thống tư pháp, mặc dù tính chất, mức độ tác động của mỗi hoạt động có khác nhau thì Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh, thành phố là đơn vị sự nghiệp duy nhất của Ngành Tư pháp, của Nhà nước tham gia vào hoạt động xét xử. Người thực hiện trợ giúp pháp lý là một bên của quá trình tranh tụng, có quan hệ mật thiết và trực tiếp đến chất lượng xét xử của Tòa án.

Về định hướng phát triển, trong khi hoạt động bổ trợ tư pháp định hướng là xã hội hóa tùy theo mức độ, có lĩnh vực được xã hội hóa hoàn toàn như luật sư, có lĩnh vực được xã hội hóa một phần như công chứng, thì định hướng phát triển của hoạt động TGPL đã được Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 ghi nhận thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập và các Quyết định số 2069/QĐ-TTg, Quyết định số 2070/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngành Tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã xác định TGPL là dịch vụ sự nghiệp công lập thiết yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên và trong quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngành Tư pháp, mỗi tỉnh, thành phố đều có 01 Trung tâm TGPL nhà nước tại các tỉnh, thành phố để cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo Luật Trợ giúp pháp lý; các Trung tâm TGPL nhà nước được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

2. Một số kết quả đạt được trong thời gian qua của dịch vụ công trợ giúp pháp lý

Trải qua 24 năm hình thành và phát triển, có thể nói, hoạt động TGPL đã thực sự đi vào đời sống pháp luật, mang lại hiệu quả thiết thực giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo và các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế trong xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước, bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận công lý, đóng góp vào cải cách tư pháp, góp phần đáng kể vào sự phát triển của Ngành Tư pháp. Trong đó, phải điểm qua một số kết quả đạt được nổi bật sau đây:

Thứ nhất, trong công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật về lĩnh vực TGPL dần hoàn thiện, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước với sự ra đời của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và được thay thế bởi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 là những dấu ấn quan trọng, tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển bền vững của công tác TGPL theo hướng chuyên nghiệp, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong việc bảo vệ quyền con người, phù hợp xu thế phát triển chung của thế giới. Chế định TGPL cũng đã được đồng bộ hóa trong các bộ luật, luật khác như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật... Bên cạnh đó, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã góp phần nội luật hóa ở mức độ cao các cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế, công ước quốc tế như Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989[1]; Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966; các nguyên tắc và hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về quyền về tiếp cận trợ giúp pháp lý trong hệ thống tư pháp hình sự 2012...

Trải qua hai lần xây dựng, sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý, đến nay, có thể nói rằng, khung pháp luật về TGPL đã tương đối hoàn chỉnh, tiếp tục khẳng định TGPL là một chế định pháp luật gắn với chế định tư pháp, xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân cho nhóm đối tượng yếu thế không có khả năng chi trả dịch vụ pháp lý và những người thuộc diện chính sách cần được quan tâm giúp đỡ thông qua các hoạt động TGPL liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong các vụ việc cụ thể.

Thứ hai, số lượng, chất lượng, hiệu quả vụ việc trợ giúp pháp lý, nhất là vụ việc tham gia tố tụng ngày càng tăng lên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu TGPL của người dân. Nếu như trước đây, hoạt động TGPL vẫn còn dàn trải, chưa phản ánh rõ nét bản chất của công tác này là giúp đỡ người được TGPL khi họ có vướng mắc, tranh chấp pháp luật cụ thể thì đến nay, đặc biệt là từ sau khi triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, hoạt động TGPL đã có sự chuyển hướng rõ rệt, các Trung tâm TGPL đã tập trung thực hiện vụ việc TGPL, đặc biệt là các vụ việc tham gia tố tụng. Hoạt động phối hợp TGPL trong tố tụng đã có nhiều chuyển biến, qua đó, nguồn vụ việc tham gia tố tụng được tăng lên rõ rệt. Sau gần 25 năm thành lập, tính đến tháng 12/2021, các tổ chức thực hiện TGPL trên toàn quốc đã thực hiện được 2.304.834 vụ việc TGPL miễn phí, trong đó, có 204.411 vụ việc tham gia tố tụng. Số lượng vụ việc tham gia tố tụng đã hoàn thành, kết thúc tăng hàng năm, cụ thể: Năm 2018 là 11.860 vụ, năm 2019 là 13.428 vụ, năm 2020 là 16.168 vụ và năm 2021 là 16.976 vụ.

Thứ ba, hệ thống TGPL được củng cố, kiện toàn, tinh gọn, tăng cường năng lực. Hiện nay, hệ thống có 63 Trung tâm TGPL nhà nước với 1.237 người, trong đó, có 669 trợ giúp viên pháp lý; 106 Chi nhánh TGPL cấp huyện, liên huyện[2]. Bên cạnh đó, chúng ta còn có 667 luật sư và 48 cộng tác viên ký hợp đồng thực hiện TGPL với Trung tâm TGPL; 193 tổ chức đăng ký tham gia TGPL và 40 tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp. Hiện nay, trợ giúp viên pháp lý là đội ngũ nòng cốt cung cấp dịch vụ TGPL cho người dân. Trong khi tổng số người làm việc tại Trung tâm TGPL không tăng, tỷ lệ số lượng trợ giúp viên pháp lý trên tổng số người làm việc tại Trung tâm TGPL từng bước được nâng lên, từ chiếm 45%[3] tăng lên chiếm 54%[4], điều đó thể hiện chất lượng nguồn nhân lực ngày càng tăng lên. Năng lực chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao, tất cả các trợ giúp viên pháp lý đều đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề, hạng chức danh, ngày càng thể hiện tính chuyên nghiệp. Hiện nay, tiêu chuẩn, điều kiện của trợ giúp viên pháp lý và luật sư là tương đồng.

Một số kết quả khác như truyền thông về TGPL không ngừng được đổi mới theo các phương thức khác nhau, gồm truyền thông truyền thống (trực tiếp về cơ sở, báo đài, tờ gấp…), truyền thông hiện đại (internet, điện thoại hotline,…) và hình thức đặc thù (hộp, bảng tin, tờ tin TGPL tại cơ quan tố tụng, chính quyền cơ sở…); ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện TGPL thông qua hệ thống quản lý TGPL; thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là người được TGPL về cơ bản đã đáp ứng mục đích, yêu cầu Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 04/7/2017 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp...

Có được những kết quả nêu trên là do sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế và tổ chức triển khai thi hành pháp luật TGPL; sự đồng thuận, tích cực, chủ động của các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trong việc triển khai thi hành pháp luật TGPL, nhất là các tư tưởng đổi mới hoạt động TGPL trong thời gian qua; sự quan tâm, phối hợp với một số cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về TGPL...

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, dịch vụ công TGPL cũng còn những hạn chế, bất cập sau đây: (i) Số lượng vụ việc TGPL, trong đó có số lượng vụ việc tham gia tố tụng hàng năm vẫn còn thấp so với số người thuộc diện TGPL[5] và số lượng vụ án được xét xử trên trên toàn quốc. Chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL còn chưa đồng đều. (ii) Chức danh trợ giúp viên pháp lý mặc dù ra đời từ năm 2006 tuy nhiên nhiều cơ quan, tổ chức, người dân vẫn còn chưa biết đến (họ thường vẫn chỉ nhắc đến luật sư); số lượng tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TGPL vẫn ở mức độ hạn chế[6]. (iii) Số lượng vụ việc TGPL do cơ quan quản lý TGPL đánh giá chưa được nhiều, công tác quản lý chất lượng, kiểm tra, thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa được triển khai thường xuyên…

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập là do khả năng tiếp cận dịch vụ TGPL của người dân còn hạn chế vì nhận thức về TGPL còn chưa cao, hiệu quả truyền thông về TGPL và việc lan tỏa tác dụng, đóng góp của công tác TGPL vào cải cách công tác tư pháp và an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội còn ở chừng mực, chưa tương xứng với tiềm năng, vai trò của công tác này; trách nhiệm phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng chưa được thực hiện đầy đủ theo đúng quy định; nhiều luật sư không hành nghề thực hiện hoạt động tranh tụng trên thực tế, cơ chế khuyến khích luật sư tham gia TGPL vẫn còn ở mức độ; hệ thống quản lý tổ chức và hoạt động TGPL chưa tương ứng tích hợp với cơ sở dữ liệu về dân cư, hộ tịch, an sinh xã hội... nên chưa thực sự thuận lợi cho người dân khi yêu cầu TGPL; kinh phí dành cho hoạt động TGPL còn chưa bảo đảm, cơ sở vật chất các Trung tâm TGPL nhà nước chưa được quan tâm đúng mức...

3. Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công trợ giúp pháp lý trong tình hình mới

Cũng như trên thế giới, xác định TGPL là một hoạt động cần thiết, đồng hành cùng quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, xu hướng phát triển của TGPL trong thời gian tới ở Việt Nam tiếp tục xác định hoạt động TGPL là bền vững, là trách nhiệm của Nhà nước đối với người nghèo, người có công với cách mạng, các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội. Trong tình hình mới, trước yêu cầu triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, nhiệm vụ nâng cao chất lượng TGPL cần đáp ứng được vị trí trụ cột trong việc bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật cho một bộ phận lớn người dân trong xã hội (45% dân số), qua đó, tạo sự công bằng trong tiếp cận công lý và góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp nói riêng và trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung.

3.1. Quan điểm nâng cao chất lượng dịch vụ công trợ giúp pháp lý trong tình hình mới

- Lấy người được TGPL làm trung tâm, bảo đảm giúp người dân tiếp cận hoạt động TGPL kịp thời, thuận lợi, có chất lượng và ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại.

- Nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan, tổ chức TGPL nhà nước, tạo dựng uy tín của tổ chức TGPL, góp phần khẳng định vị trí, vai trò của cơ quan, tổ chức TGPL nhà nước trong việc giúp người thuộc diện được TGPL được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi có nhu cầu.

- Sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước dành cho hoạt động trợ giúp pháp lý và huy động nguồn lực xã hội tham gia hoạt động này.

3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công trợ giúp pháp lý trong tình hình mới

Thứ nhất, đánh giá việc thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và xem xét các điều kiện về nguồn lực nghiên cứu, đề xuất sửa đổi một số điều của Luật: Mở rộng diện người được TGPL theo hướng nghiên cứu mở rộng các đối tượng là người thuộc hộ thoát nghèo, người thuộc hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn khi bị buộc tội, bởi vì, khi bị buộc tội là khi nguy cơ họ bị tước tự do cao nhất, là khi họ cần đến sự giúp đỡ từ Nhà nước nhất. Quy định về chế định luật sư công/luật sư trợ giúp pháp lý, xác định đây là chức danh tư pháp; chuyển đổi tên gọi chức danh trợ giúp viên pháp lý thành chức danh luật sư công/luật sư TGPL được Nhà nước trả lương để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Nhà nước.

Thứ hai, xây dựng các đề án của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, uy tín của các cơ quan, tổ chức TGPL nhà nước; về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác TGPL nhằm triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đối với cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tư pháp.

Thứ ba, triển khai hiệu quả việc thực hiện cơ chế người thực hiện TGPL trực ở trụ sở hoặc trực qua điện thoại tại một số cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra; nhà tạm giam, tạm giữ; Tòa án) giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được tiếp cận sớm với TGPL, đặc biệt là ở những địa phương có tỷ lệ người thuộc diện TGPL cao, điều kiện cơ sở vật chất của các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm, có nguồn nhân lực TGPL từ đó góp phần bảo đảm đáp ứng được nhu cầu TGPL của người dân một cách nhanh chóng và kịp thời nhất.

Thứ tư, tăng cường số lượng và nâng cao năng lực cho đội ngũ người thực hiện TGPL nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về TGPL của người dân thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu từng lĩnh vực hoặc các hình thức chia sẻ kinh nghiệm…

Thứ năm, có phương thức truyền thông hiệu quả, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng, miền; có quy định khuyến khích, vinh danh, động viên tổ chức, cá nhân tham gia, thực hiện TGPL đóng góp vào hoạt động TGPL, đa dạng hóa việc cung cấp dịch vụ TGPL...

Thứ sáu, vận hành, khai thác, sử dụng hiệu quả cơ sở dữ liệu về TGPL, cổng thông tin điện tử TGPL; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin theo hướng số hóa cơ sở dữ liệu về TGPL để chia sẻ, kết nối, tích hợp dữ liệu người thuộc diện được TGPL với cơ sở dữ liệu quốc gia và các bộ, ngành có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả quản lý điều hành, hỗ trợ người dân yêu cầu TGPL trực tuyến, đơn giản hóa và giảm tải thủ tục hành chính trong hoạt động TGPL, tiết kiệm chi phí đi lại, chứng minh thuộc diện đối tượng... Tăng cường phối hợp, kết nối với Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác trong việc áp dụng công nghệ điện tử, chuyển đổi số đối với việc thực hiện TGPL trong tố tụng. Chuẩn bị cơ sở vật chất và công nghệ tương thích kết nối với Tòa án để thực hiện tranh tụng trực tuyến (Trung tâm TGPL nhà nước là một điểm cầu trong phiên tòa trực tuyến).

Thứ bảy, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện bộ công cụ, hướng dẫn tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác TGPL và chất lượng, hiệu quả vụ việc TGPL theo hướng dễ áp dụng và phản ánh đúng, khách quan chất lượng dịch vụ TGPL trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, hướng tới sự hài lòng và tin cậy của họ khi sử dụng TGPL.

Thứ tám, có cơ chế hữu hiệu quản lý, điều phối nguồn lực bảo đảm cho hoạt động TGPL trên toàn quốc, giám sát và kiểm soát chất lượng dịch vụ TGPL do các tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL cung cấp cho người được TGPL.

Thứ chín, tiếp tục triển khai có hiệu quả chính sách TGPL trong các chương trình giảm nghèo, chương trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm an sinh xã hội, giảm nghèo về mặt pháp luật...

ThS. Trịnh Thị Thanh
Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Ví dụ: Dù Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 của Việt Nam quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” nhưng quy định trong lĩnh vực TGPL đã bảo đảm quyền không chỉ cho người dưới 16 tuổi (trẻ em) mà đã nội luật hóa nội dung Công ước quốc tế và thể hiện tính ưu việt hơn, cụ thể:

- Theo quy định của Công ước, người dưới 18 tuổi bị tước quyền từ do có quyền được trợ giúp pháp lý thì Luật Trợ giúp pháp lý Việt Nam đã nội luật hóa đầy đủ nội dung này, quy định tất cả người dưới 18 tuổi bị buộc tội được trợ giúp pháp lý, không phân biệt giới tính, dân tộc, tình trạng khó khăn tài chính, có nơi nương tựa hay không...

- Ngoài được TGPL trong lĩnh vực tố tụng hình sự khi là người bị buộc tội, theo Luật Trợ giúp pháp lý thì người dưới 16 tuổi (trẻ em) còn được trợ giúp pháp lý khi là người bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan... trong lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.

- Bên cạnh đó, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự có khó khăn về tài chính cũng được trợ giúp pháp lý (điểm đ khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý).

[2] Giảm 95 Chi nhánh so với thời điểm 31/12/2014 do giải thể, sáp nhập dựa trên đánh giá hiệu quả hoạt động.

[3] Số liệu tính đến 31/12/2014.

[4] Số liệu tính đến 31/12/2021.

[5] Ước tính số lượng người thuộc diện TGPL ở Việt Nam có khoảng 45% dân số, dự tính sẽ còn tăng theo quy định về chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo giai đoạn mới của Chính phủ.

[6] Hiện có 533 luật sư tham gia TGPL trên tổng số 17.545 luật sư của toàn quốc (trong số này không phải luật sư nào cũng hành nghề thực tế). Số tổ chức hành nghề luật sư tham gia TGPL là 159 so với 2.386 số tổ chức hành nghề luật sư của toàn quốc. Số tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL là 39 trong số 188 tổ chức tư vấn pháp luật trên toàn quốc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: