Thứ hai 16/03/2026 12:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện xác lập tên thương mại của doanh nghiệp ở Việt Nam

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Chủ sở hữu tên thương mại là tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp tên thương mại đó trong hoạt động kinh doanh của mình. Tên gọi của các chủ thể kinh doanh chỉ được coi là tên thương mại và các chủ thể này được hưởng các quyền chủ thể đối với tên thương mại khi đáp ứng được các yêu cầu và điều kiện bảo hộ cụ thể. Trong bài viết này, tác giả đưa ra những quan điểm về xác lập tên thương mại của doanh nghiệp, quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện xác lập tên thương mại của doanh nghiệp và những tên gọi không được bảo hộ dưới danh nghĩa là tên thương mại.

Tên thương mại là phương tiện giao tiếp đầu tiên giữa doanh nghiệp và các chủ thể khác, vì vậy, ngay từ khi thành lập, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc sử dụng và bảo vệ đối tượng này. Tên doanh nghiệp không đơn thuần chỉ là một cái tên để gọi như tên của cá nhân, tên doanh nghiệp mang ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Do vậy, tên doanh nghiệp phải được lựa chọn rất cẩn thận, việc lựa chọn tên riêng không được rơi vào các trường hợp cấm mà pháp luật quy định. Khi tên doanh nghiệp được đăng ký, tên đó thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp và thành phần tên riêng là một trong hai yếu tố cấu thành nên tên doanh nghiệp (gồm loại hình doanh nghiệp và tên riêng của doanh nghiệp) trở thành tên thương mại của doanh nghiệp.

1. Quan điểm về xác lập tên thương mại của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp hoạt động bằng tên doanh nghiệp đã đăng ký để xưng danh thì khi đó thành phần tên riêng của doanh nghiệp được xác lập và trở thành tên thương mại. Tuy nhiên, không phải bất kỳ tên thương mại nào cũng được pháp luật bảo hộ, để được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ tên thương mại phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Việc ghi nhận về tên thương mại và điều kiện bảo hộ tên thương mại là một trong những đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay là phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia và hệ thống pháp luật quốc tế. Vai trò của tên thương mại đều được ghi nhận ở pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi Hiệp định TRIPs (Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ) có hai hệ thống quan điểm được đưa ra. Cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất, đối với Liên Hợp Quốc và các nước phát triển, thì quyền sở hữu trí tuệ được xác định với tư cách là “một nhân quyền phổ quát, tất cả mọi người có quyền bảo vệ các lợi ích về tinh thần và vật chất có được từ bất cứ một sản phẩm nào mang tính khoa học, văn học hay nghệ thuật mà người đó là tác giả”. Nội dung quan điểm này cho rằng, việc bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có tên thương mại là phần thưởng cho hoạt động sáng tạo của chủ sở hữu.

- Quan điểm thứ hai, các nước đang phát triển cho rằng, sở hữu trí tuệ như là một loại “sản phẩm công”, việc tiếp cận dễ dàng các thành quả của sở hữu trí tuệ sẽ tạo điều kiện cho việc thúc đẩy đất nước phát triển, thu hẹp khoảng cách giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển.

Quan điểm lập pháp của Việt Nam ghi nhận điều kiện bảo hộ tên thương mại phù hợp với điều kiện quốc gia và thông lệ quốc tế. Theo đó, tên thương mại do các chủ thể tự do lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, tên thương mại được bảo hộ dựa trên việc doanh nghiệp sử dụng tên thương mại đó trong quá trình sản xuất kinh doanh, không bắt buộc phải đăng ký vẫn được bảo hộ để chống lại các đối tượng khác sử dụng khi không được sự đồng ý.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện xác lập tên thương mại của doanh nghiệp

Tên gọi của các chủ thể kinh doanh chỉ được coi là tên thương mại và các chủ thể này được hưởng các quyền chủ thể đối với tên thương mại của mình khi đáp ứng được các yêu cầu và điều kiện bảo hộ cụ thể. Tên thương mại muốn được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại các điều 76, 77, 78 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:

Tên thương mại phải có tính phân biệt, vì không phải bất kỳ tên thương mại nào cũng được pháp luật bảo hộ, để được bảo hộ theo pháp luật sở hữu trí tuệ, nhìn chung, tên thương mại phải có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Sự phân biệt này cần thiết được đặt ra trong cùng một lĩnh vực và khu vực kinh doanh với các yếu tố phân biệt chủ yếu như: Phân biệt về hàng hóa, dịch vụ, hoạt động, cơ sở kinh doanh. Thông qua những yếu tố này, để cá thể hoá chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác. Điều này cũng có thể được hiểu là nếu tên thương mại của hai chủ thể kinh doanh trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn nhưng hai chủ thể kinh doanh trong hai lĩnh vực khác nhau, thuộc hai lãnh thổ khác nhau, thì vẫn được chấp nhận bảo hộ. Cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh là hai điều kiện song song đi đôi với nhau, nếu thiếu một trong hai yếu tố đó, thì tên thương mại sẽ không được bảo hộ. Chẳng hạn như, hai tên thương mại trùng nhau nhưng hai chủ thể kinh doanh lại không hoạt động trên một khu vực địa lý, tuy rằng họ kinh doanh trong cùng một lĩnh vực hoặc hai chủ thể kinh doanh ở trên cùng một khu vực địa lý nhưng lại không kinh doanh trên cùng một lĩnh vực cũng không được pháp luật chấp nhận bảo hộ. Điều kiện bảo hộ này của tên thương mại cũng đơn giản hơn so với nhãn hiệu (theo quy định của pháp luật, một nhãn hiệu muốn được bảo hộ còn phải đáp ứng cả điều kiện: Phải không trùng và không tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các hàng hoá, dịch vụ không trùng và tương tự nếu các nhãn hiệu đó được công nhận là nổi tiếng hay được thừa nhận rộng rãi, được nhiều người biết đến).

Dấu hiệu phân biệt được thể hiện cụ thể như sau:

- Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi: Nếu tên thương mại chỉ có phần mô tả thì không được bảo hộ, bởi lẽ phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau có thể có phần mô tả giống nhau), vì vậy, tên thương mại bắt buộc phải chứa thành phần tên riêng để tạo ra sự phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh.

- Tên thương mại không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng từ trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Tên trùng là trường hợp tên của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký được viết và đọc bằng tiếng Việt hoàn toàn giống với tên của doanh nghiệp đã đăng ký.

Tên gây nhầm lẫn với tên của các doanh nghiệp khác là: Tên bằng tiếng Việt của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký được đọc giống như tên doanh nghiệp đã đăng ký; tên bằng tiếng Việt của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký chỉ khác tên doanh nghiệp đã đăng ký bởi ký hiệu “&”; ký hiệu “-”; chữ “và”; tên viết tắt của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp khác đã đăng ký; tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp khác đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký bởi một hoặc một số số tự nhiên, số thứ tự hoặc một số chữ cái tiếng Việt (A, B, C…) ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó, trừ trường hợp doanh nghiệp yêu cầu đăng ký là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký bởi từ “tân” ngay trước, hoặc “mới” ngay sau tên của doanh nghiệp đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp yêu cầu đăng ký chỉ khác tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký bởi các từ “miền Bắc”, “miền Nam”, “miền Trung”, “miền Tây”, “miền Đông” hoặc các từ có ý nghĩa tương tự; trừ trường hợp doanh nghiệp yêu cầu đăng ký là doanh nghiệp con của doanh nghiệp đã đăng ký; tên riêng của doanh nghiệp trùng với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký.

- Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng. Tên thương mại và nhãn hiệu đều có chức năng chỉ dẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ đó của cơ sở sản xuất kinh doanh nào, đều đưa ra một kết quả chung rằng ai là người chịu trách nhiệm về những hàng hóa, dịch vụ đó, bởi vậy, nếu đã có nhãn hiệu thuộc quyền của người khác đã được xác lập trước thời điểm tên thương mại được bắt đầu thì đương nhiên chủ thể kinh doanh sẽ không được sử dụng tên thương mại đó nữa.

Cũng do tên thương mại thường là thành phần tên riêng của tên doanh nghiệp hoặc được sử dụng thường xuyên trong hoạt động kinh doanh của mỗi chủ thể kinh doanh, nên quyền sở hữu tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp tên thương mại đó tương ứng với khu vực và lãnh thổ kinh doanh, mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký tên thương mại đó tại Cục Sở hữu trí tuệ. Điều này khác với việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với các chỉ dẫn đầu tư khác như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, những đối tượng này cần phải đăng ký mới được bảo hộ.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào. Việc đăng ký tên chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục đăng ký hoạt động của doanh nghiệp và của các chủ thể kinh doanh khác chỉ có ý nghĩa ghi nhận ý định sử dụng tên gọi của chủ thể đó mà không có ý nghĩa xác lập quyền. Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, vì vậy, phải có sự tồn tại của tổ chức, cá nhân mang tên thương mại thì việc sử dụng tên thương mại mới có ý nghĩa về mặt pháp lý. Tuy nhiên, việc có được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không phải là cơ sở pháp lý tuyệt đối để cho rằng quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại đã được xác lập. Để được xác lập, tên thương mại còn phải được sử dụng thông qua các hoạt động kinh doanh. Chủ sở hữu quyền đối với tên thương mại là tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động đăng ký kinh doanh dưới tên thương mại đó. Trường hợp trong cùng một lĩnh vực kinh doanh và trên cùng một địa bàn kinh doanh có nhiều người cùng sử dụng một tên thương mại thì quyền đối với tên thương mại thuộc về người sử dụng đầu tiên.

Về mặt nguyên tắc, quyền đối với tên thương mại mang tính không hạn chế về mặt thời gian. Điều đó có nghĩa là, sau khi đã xác lập quyền đối với tên thương mại, chủ thể kinh doanh có thể sử dụng nó mà không bị bất cứ một hạn chế nào về mặt thời gian, khi mà chủ thể kinh doanh còn tồn tại và tên thương mại còn thể hiện đúng hình thái tổ chức của chủ thể đó. Nếu địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh thay đổi, ví dụ như do kết quả của việc tổ chức lại doanh nghiệp hay thay đổi chủ doanh nghiệp, thì những thay đổi đó cần được đưa vào tên thương mại, đương nhiên quyền đối với tên thương mại sẽ chấm dứt khi chủ thể kinh doanh chấm dứt sự tồn tại của mình.

Bên cạnh việc đưa ra những điều kiện bảo hộ tên thương mại, pháp luật còn quy định những tên gọi không được bảo hộ dưới danh nghĩa là tên thương mại, bao gồm:

- Tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc các chủ thể không liên quan tới hoạt động kinh doanh. Vì bản chất của tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân chỉ dùng trong hoạt động kinh doanh, còn tên gọi của các tổ chức, cá nhân khác không có chức năng hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật cũng như không liên quan đến các hoạt động kinh doanh thì sẽ không được coi là tên thương mại.

- Tên gọi nhằm mục đích thực hiện chức năng của tên thương mại nhưng không có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh của các cơ sở kinh doanh trong cùng một lĩnh vực.

- Tên thương mại gây nhầm lẫn với tên thương mại của người khác đã được sử dụng từ trước trên cùng một địa bàn và trong cùng một lĩnh vực kinh doanh, gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã được bảo hộ từ trước khi bắt đầu sử dụng tên thương mại đó. Địa bàn kinh doanh được hiểu là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu đối với tên thương mại, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật và cơ chế thực thi giúp cho các chủ thể thực hiện và bảo vệ quyền lợi của mình khi sử dụng và khi bị xâm phạm. Quy định vấn đề không được đặt tên hoặc những trường hợp tên không được bảo hộ xuất phát từ những lý do sau:

- Việc bảo hộ tên thương mại của doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết để khẳng định vị thế trong kinh doanh. Do vậy, không được lựa chọn tên gây nhầm lẫn, tên trùng với tên thương mại của doanh nghiệp đã đặt trước hoặc nhãn hiệu của doanh nghiệp khác đã được đăng ký bảo hộ, quy định này đảm bảo môi trường bình đẳng trong kinh doanh giữa các chủ thể trên thị trường.

- Tên thương mại không được đặt trùng với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị… Vì những chủ thể này khi được thành lập có chức năng, nhiệm vụ hoạt động riêng, tên đó không nhằm mục đích để kinh doanh, không có giá trị về tài sản. Do vậy, nếu doanh nghiệp đặt tên trùng với tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị… sẽ gây nhầm lẫn cho khách hàng, ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh.

Từ phân tích ở trên cho thấy, tên thương mại được bảo hộ trên cơ sở sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Do đó, về mặt nguyên tắc, trong trường hợp hai doanh nghiệp trùng tên, thì doanh nghiệp nào sử dụng tên đó trước sẽ được công nhận là chủ sở hữu hợp pháp của tên thương mại đó.

ThS. Phạm Thị Thúy Liễu
Khoa Luật, Đại học Vinh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Thị Quế Anh, Hiệp định TRIPs: Những tác động tới quy định về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học tập 30, số 2 (2014)1-11.

[2]. Nguyễn Thị Quế Anh (2000), Bảo hộ tên thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hộ tên thương mại, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Chuyên san Kinh tế - Luật.

[3]. Bùi Huyền (2014), Pháp luật về bảo hộ tên thương mại của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 10/2014.

[4]. Lê Đình Nghị - Vũ Thị Hải Yến (2012), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: