Thứ ba 14/07/2026 23:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Định hướng sửa đổi, bổ sung Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi (Nghị định số 19/2011/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08/5/2011. Cho đến nay, sau hơn 07 năm thực hiện, Nghị định này đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã tìm được mái ấm gia đình thay thế phù hợp ở trong nước và ở nước ngoài.

Tuy nhiên, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cũng bộc lộ một số điểm hạn chế nhất định, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên Công ước La Hay[1] và một số các văn bản quy phạm pháp luật trong nước có liên quan mới được ban hành sau Hiến pháp năm 2013.

1. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Nghị định số 19/2011/NĐ-CP

Trong quá trình thực thi, một số quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP đã bộc lộ những bất cập chủ yếu sau đây:

1.1. Một số quy định gây cản trở công tác giải quyết việc nuôi con nuôi

- Quy định về trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi (Điều 3)

Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định cụ thể những loại khuyết tật, bệnh tật hiểm nghèo theo điểm d khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi. Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo được miễn thủ tục tìm gia đình thay thế trong nước để bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng, giúp cho trẻ em được chữa trị kịp thời trong điều kiện y tế hiện đại. Tuy nhiên, do khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định theo hướng liệt kê các loại bệnh và không quy định rõ mức độ bệnh nên dẫn đến tình trạng có lúc, có nơi lạm dụng quy định giải quyết trẻ em mắc bệnh thể nhẹ nhưng thuộc diện Danh sách 2 (trẻ em bị khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo) để được giải quyết nhanh chóng, được miễn thủ tục tìm gia đình thay thế trong nước và được miễn chi phí giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài[2].

Trong giai đoạn 2011 - 2017, theo số liệu thống kê của Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp) thì số lượng trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài chiếm 63,7% (1.825/2.861 trường hợp trẻ em được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài). Theo Báo cáo tình hình nuôi con nuôi quốc tế tại Pháp năm 2016, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 01 trong tổng số 10 nước gốc đầu tiên cho trẻ em có nhu cầu chăm sóc đặc biệt làm con nuôi ở nước ngoài, đứng trước Ấn Độ, Trung Quốc, Haiti, Bờ Biển Ngà, Thái Lan, Nga, Madagascar, Colombia, Bungari. Số trẻ em Việt Nam có nhu cầu chăm sóc đặc biệt được giải quyết cho làm con nuôi ở Pháp chiếm 88%[3].

Trước một tỷ lệ lớn trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo trong đó phần nhiều là trẻ em nhỏ tuổi mắc một số loại bệnh nhẹ hoặc thể nhẹ không ảnh hưởng tới sự phát triển về thể chất và tinh thần được giải quyết cho làm con nuôi nước ngoài, một số nước có quan hệ hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam tỏ ra quan ngại về việc tuân thủ nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước trước khi giải quyết nuôi con nuôi quốc tế.

Theo Tổ chức Xã hội Quốc tế (Tổ chức ISS), thì mặc dù việc giải quyết cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt làm con nuôi có những kết quả tích cực, nhưng vẫn là vấn đề trọng tâm cần tiếp tục bàn bạc và thảo luận. Sở dĩ như vậy là vì, để xác định trẻ em thuộc diện danh sách trẻ em có nhu cầu đặc biệt thì thường dựa theo những tiêu chí chủ quan hết sức khác nhau giữa các nhà chuyên môn, giữa nước này với nước khác[4]. Tổ chức ISS đánh giá Việt Nam và Guatemala là những nước giải quyết cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt làm con nuôi quốc tế mà không tính đến giải pháp nuôi con nuôi trong nước[5]. Việc giải quyết cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt làm con nuôi quốc tế đòi hỏi phải có một hệ thống bảo vệ trẻ em ở mức độ cao mới đáp ứng được nhu cầu của trẻ[6].

Trước thực tiễn đó, việc sửa đổi nội dung liên quan đến Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP là điều cần thiết nhằm tăng cường thực hiện nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước.

- Quy định việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 4)

Yếu tố tài chính hoặc những chính sách khuyến khích hỗ trợ, hỗ trợ nhân đạo luôn là những “tác nhân” dễ dẫn đến các trường hợp nhận nuôi con nuôi bất hợp pháp. Các cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài để trông đợi vào các khoản hỗ trợ nhân đạo hoặc các khoản cho tặng. Các tổ chức con nuôi nước ngoài dưới hình thức hỗ trợ, cho tặng của cha mẹ nuôi nước ngoài có thể tạo ra mối liên hệ trực tiếp với cơ sở nuôi dưỡng nhằm xác định trẻ em cho làm con nuôi, dễ dẫn đến sự cạnh tranh giữa các tổ chức con nuôi nước ngoài[7]. Vì vậy, theo khuyến nghị của Tổ chức ISS, các nước phải đặc biệt chú ý tới những hệ lụy kéo theo từ chính sách khuyến khích tài chính đó[8].

Ở nước ta, kể từ khi thực hiện Nghị định số 19/2011/NĐ-CP cho đến nay, trên thực tế, các dự án hỗ trợ nhân đạo gần như chấm dứt, chỉ phát sinh những khoản hỗ trợ trực tiếp (phi dự án) của cha mẹ nuôi nước ngoài/tổ chức con nuôi nước ngoài cho cơ sở trợ giúp xã hội (TGXH) và chưa có sự hướng dẫn, kiểm tra việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ đó do việc áp dụng quy định của Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài không khả thi.

Thực trạng này đã thu hút sự quan tâm, chú ý của Ban thường trực Công ước La Hay, cơ quan trung ương của các nước đang có hợp tác với Việt Nam quan ngại vì không có sự minh bạch trong việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ đó.

Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Điều 4 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP là điều cần thiết cho phù hợp với nguyên tắc và khuyến nghị của quốc tế trong lĩnh vực này và bảo đảm việc tiếp nhận, sử dụng các khoản hỗ trợ không được trái quy định pháp luật.

- Quy định về trách nhiệm lập hồ sơ và danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế (Điều 6)

Điều 6 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP giao cơ sở TGXH có trách nhiệm phân loại trẻ em theo tình trạng sức khỏe khi lập danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế (Danh sách 1 nếu trẻ em có sức khỏe bình thường, Danh sách 2 nếu trẻ em bị khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo). Trong thời gian qua, để có cơ sở xác định trẻ em thuộc Danh sách 1 hay Danh sách 2, nhiều cơ sở TGXH đã đề nghị các tổ chức con nuôi nước ngoài hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe chuyên sâu cho trẻ em. Điều này dẫn đến sự lệ thuộc giữa cơ sở TGXH với tổ chức con nuôi nước ngoài, tạo ra mối liên hệ trực tiếp giữa các tổ chức con nuôi với cơ sở TGXH và có thể không khách quan trong việc xác định tình trạng sức khỏe, bệnh tật của trẻ em.

Có thể nói, việc giao trách nhiệm cho cơ sở TGXH phân loại trẻ em theo tình hình sức khỏe trước khi tiến hành thủ tục tìm gia đình thay thế trong nước và xác nhận trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài là một hạn chế căn bản trong quy định của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP. Việc phân loại trẻ em theo Danh sách 1, Danh sách 2 dẫn đến việc chỉ tập trung lập Danh sách 2 để được giải quyết nhanh chóng, từ đó sao nhãng tìm gia đình thay thế cho trẻ em Danh sách 1. Một cách gián tiếp, quy định này chưa bảo đảm cho việc thực hiện tốt nguyên tắc ưu tiên nuôi con nuôi trong nước.

- Quy định về việc chỉ định cơ sở nuôi dưỡng được cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài (Điều 11)

Điều 15 Luật Nuôi con nuôi quy định trách nhiệm tìm gia đình thay thế cho trẻ em sống tại cơ sở TGXH. Tuy nhiên, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP lại quy định cơ sở TGXH tham gia giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài là cơ sở nuôi dưỡng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định. Quy định này đã hạn chế cơ hội tìm gia đình thay thế đối với những trẻ em sống tại cơ sở TGXH không được chỉ định, tạo sự phân biệt giữa cơ sở TGXH công lập và cơ sở TGXH ngoài công lập. Trên thực tế, phần lớn trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi lại được chăm sóc, nuôi dưỡng ở các cơ sở TGXH không được chỉ định. Hệ quả là những trẻ em này không được thực hiện thủ tục tìm gia đình thay thế theo quy định tại Điều 15 Luật Nuôi con nuôi. Do đó, quy định tại Điều 11 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP là không phù hợp với Điều 15 Luật Nuôi con nuôi. Việc bãi bỏ quy định chỉ định cơ sở TGXH tham gia giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài là điều cần thiết nhằm loại bỏ những cản trở trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi.

1.2. Một số quy định còn thiếu thống nhất với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và Công ước La Hay

- Một số quy định chưa thống nhất với pháp luật về hộ tịch

Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016 (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP) quy định về thay đổi hộ tịch của con nuôi, ghi chú việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Hiện tại, một số quy định có liên quan của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP bao gồm khoản 2, khoản 3 Điều 10 và Điều 30 chưa phù hợp với quy định của pháp luật về hộ tịch, điều đó tạo khó khăn cho việc thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ở địa phương. Đồng thời, một số quy định của pháp luật hộ tịch lại chưa điều chỉnh cụ thể việc thay đổi phần khai về cha mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký của con nuôi hoặc chưa quy định điều kiện đối với việc ghi chú việc nuôi con nuôi đã được thực hiện ở nước ngoài.

- Một số quy định chưa phù hợp với Công ước La Hay (Điều 17, Điều 20)

Kể từ ngày 01/02/2012, Việt Nam trở thành thành viên Công ước La Hay, theo đó, việc nuôi con nuôi quốc tế nếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này phải được thực hiện thông qua tổ chức được ủy nhiệm (tổ chức con nuôi nước ngoài) và sự phối hợp giữa các cơ quan trung ương của nước ngoài và Việt Nam.

Quy định hiện hành tại Điều 17 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP chưa bao quát hết các trường hợp nộp hồ sơ của người nhận con nuôi thường trú ở nước cùng là thành viên Công ước La Hay. Do đó, cần phải sửa đổi, bổ sung quy định cho phù hợp với Công ước.

Theo Điều 17c) Công ước La Hay, thủ tục giải quyết nuôi con nuôi quốc tế phải được sự đồng ý của cơ quan trung ương của nước nhận và nước gốc, trong khi đó, Điều 20 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP chỉ quy định thủ tục giới thiệu trẻ em thuộc diện Danh sách 1 mà chưa có quy định hướng dẫn việc giới thiệu trẻ em thuộc Danh sách 2 được nhận con nuôi đích danh theo điểm d khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi (trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo). Trên thực tiễn, đối tượng trẻ em được nhận đích danh làm con nuôi nếu thuộc phạm vi áp dụng của Công ước La Hay cũng phải tuân thủ quy định tại Điều 17c) Công ước này.

Để bảo đảm đáp ứng quy định tại Điều 17c) Công ước La Hay thì cần thiết phải bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 20 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP việc giới thiệu trẻ em thuộc diện điểm d khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi.

1.3. Một số quy định chưa tạo thuận lợi cho người dân, tổ chức trong việc thực hiện thủ tục hành chính về nuôi con nuôi

- Thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi (Điều 2)

Khoản 1 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi quy định, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định theo hướng thu hẹp hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 9 nêu trên, dẫn đến việc người dân nhận con nuôi không được quyền lựa chọn nơi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước theo nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi trong trường hợp nhận con riêng, cháu ruột của người nhận con nuôi. Đồng thời, quy định tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP gây thêm khó khăn cho người dân trong trường hợp nhận trẻ em bị bỏ rơi hoặc trẻ em ở cơ sở TGXH ở một nơi khác làm con nuôi. Ngoài ra, theo kết quả kiểm tra công tác tư pháp hàng năm, một số địa phương cho rằng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận con nuôi thuộc diện con riêng/cháu ruột thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi là sai thẩm quyền. Đây là cách hiểu cứng nhắc và không phù hợp với khoản 1 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi.

- Đăng ký lại việc nuôi con nuôi (Điều 29)

Điều 29 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định điều kiện đăng ký lại việc nuôi con nuôi trong nước là cả cha mẹ nuôi và con nuôi đều còn sống vào thời điểm đăng ký lại. Như vậy, trường hợp cha nuôi hoặc mẹ nuôi đã mất thì không thể tiến hành đăng ký lại việc nuôi con nuôi nếu có yêu cầu; điều này làm hạn chế quyền đăng ký lại việc nuôi con nuôi của người có liên quan.

- Một số quy định về thủ tục cấp, gia hạn giấy phép hoạt động cho các tổ chức con nuôi nước ngoài (Điều 31, Điều 34)

Điểm đ và điểm e Điều 31 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định một số giấy tờ liên quan đến tổ chức con nuôi nước ngoài xin cấp phép hoạt động tại Việt Nam như báo cáo đánh giá về sự hiểu biết của các nhân viên xã hội và nhân viên pháp lý làm việc tại tổ chức con nuôi nước ngoài về lĩnh vực pháp luật, văn hóa, xã hội của Việt Nam và pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi; lý lịch cá nhân, phiếu lý lịch tư pháp, bản sao văn bằng chứng chỉ về trình độ chuyên môn của người đứng đầu tổ chức con nuôi nước ngoài. Đây là những loại giấy tờ, tài liệu được quy định mang tính chất hình thức, không cần thiết trong hồ sơ xin cấp giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài. Người đứng đầu tổ chức con nuôi nước ngoài và tổ chức con nuôi nước ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi tổ chức được thành lập hoặc đặt trụ sở và có sự bảo đảm của cơ quan trung ương của nước ngoài hữu quan. Trong quá trình cấp, gia hạn giấy phép hoạt động của tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để kiểm tra, đánh giá điều kiện, năng lực chuyên môn của tổ chức và đội ngũ nhân viên của tổ chức.

2. Mục đích và quan điểm chỉ đạo

2.1. Mục đích

Việc xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP nhằm loại bỏ những cản trở trong công tác giải quyết việc nuôi con nuôi; xây dựng cơ chế quản lý việc tiếp nhận, sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo tại các cơ sở nuôi dưỡng; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi; tạo cơ sở pháp lý chung, áp dụng thống nhất trong việc thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP; đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nuôi con nuôi.

2.1. Quan điểm chỉ đạo

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP phải dựa trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Nội dung sửa đổi, bổ sung phải bảo đảm phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Công ước La Hay và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan; phù hợp với tinh thần và nội dung Luật Nuôi con nuôi cũng như thống nhất với các quy định còn lại trong Nghị định số 19/2011/NĐ-CP.

- Bảo đảm phù hợp với thực tế, bảo đảm tính hợp lý, tính khả thi và chủ trương cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành.

- Giữ nguyên những quy định còn phù hợp với thực tiễn của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP hoặc những quy định có giá trị lịch sử (như chế định nuôi con nuôi thực tế), chỉ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới các quy định nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Nghị định số 19/2011/NĐ-CP và triển khai thi hành Luật Nuôi con nuôi trong thời gian qua.

3. Những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung

Căn cứ vào kết quả tổng kết thi hành Nghị định số 19/2011/NĐ-CP, Bộ Tư pháp đã tiến hành nghiên cứu và dự kiến đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một số quy định trong Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sau đây:

Một là, kiến nghị bãi bỏ một số quy định nhằm tạo sự thông thoáng trong việc lựa chọn thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước và phù hợp với Luật Nuôi con nuôi (bãi bỏ khoản 1 Điều 2); không ủy quyền lại cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn chi tiết việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng hỗ trợ nhân đạo (bãi bỏ khoản 2 Điều 4); không quy định cấm trong văn bản quy phạm pháp luật là nghị định (bãi bỏ khoản 3 Điều 4); loại bỏ những cản trở trong công tác nuôi con nuôi, bảo đảm mọi trẻ em đều có cơ hội tìm gia đình thay thế trong nước (bãi bỏ khoản 2 Điều 3 và Điều 11); tạo điều kiện thuận lợi để người dân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính về nuôi con nuôi (bãi bỏ điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 31).

Hai là, về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng hỗ trợ nhân đạo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 4): Kiến nghị sửa đổi, bổ sung theo hướng việc hỗ trợ nhân đạo, cho tặng của cha mẹ nuôi nước ngoài, tổ chức con nuôi nước ngoài là sự tự nguyện, thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản và thông báo cho tổ chức con nuôi nước ngoài để báo cáo Cục Con nuôi để kiểm tra và theo dõi. Cơ sở nuôi dưỡng tiếp nhận các khoản hỗ trợ nhân đạo, cho tặng phải thực hiện đúng quy định pháp luật về tài chính, về quản lý và sử dụng viện trợ phi Chính phủ nước ngoài, sử dụng đúng mục đích phục vụ cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, báo cáo việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản hỗ trợ cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để kiểm tra và theo dõi.

Ba là, về việc lập hồ sơ và danh sách trẻ em cần tìm gia đình thay thế (Điều 6): Kiến nghị sửa đổi theo hướng cơ sở TGXH lập danh sách trẻ em và hồ sơ trẻ em cần tìm gia đình thay thế mà không phân loại trẻ em theo tình trạng sức khỏe. Mọi trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài đều phải được tìm gia đình thay thế trong nước. Chỉ sau khi hết thời hạn tìm gia đình thay thế mà không có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì trường hợp trẻ em thuộc khoản 1 Điều 3 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP được nhận đích danh làm con nuôi ở nước ngoài, Cục Con nuôi mới đề nghị tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam hỗ trợ tìm gia đình nhận đích danh trẻ em đó làm con nuôi.

Bốn là, về việc giới thiệu trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo làm con nuôi: Để tuân thủ Công ước La Hay, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 17 và Điều 20 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP theo hướng trường hợp nuôi con nuôi nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước La Hay phải được thực hiện thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài, thông báo cơ quan trung ương của nước ngoài kết quả tìm gia đình thay thế cho trẻ em được nhận đích danh làm con nuôi.

Năm là, về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều khác có liên quan đến việc đơn giản hóa thủ tục hành chính (nộp hồ sơ nhận con nuôi theo Điều 21), đơn giản hóa giấy tờ công dân (điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 31) và đánh giá lại năng lực của người đứng đầu văn phòng con nuôi nước ngoài (Điều 34).

Tóm lại, việc xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐ-CP là nhiệm vụ cần thiết nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn gặp phải trong quá trình thi hành, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nuôi con nuôi trong nước, bảo đảm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tìm được gia đình thay thế phù hợp ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

ThS. Phạm Thị Kim Anh

Phó Cục trưởng Cục Con nuôi

Tài liệu tham khảo:

[1]. Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.

[2]. Khoản 2 Điều 48 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP. Mức thu chi phí giải quyết việc nuôi con nuôi nước ngoài là 50.000.000 đồng/trường hợp.

[3]. Mission de l’adoption internationale, Ministère des Affaires étrangères et du Développement internationale, L’adoption internationale en France en 2016.

[4]. Service sociale international (ISS), Bulletin mensuel No221 5/2018, Rapport sur la vente d’enfants et les adoption illégales.

[5]. Service sociale international (ISS), Bulletin mensuel No215 9/2017, Adoption prioritaire d’enfants dits à besoins spécifiques: persités des pratiques.

[6]. Service sociale international (ISS), Bulletin mensuel No215 9/2017, Adoption prioritaire d’enfants dits à besoins spécifiques: persités des pratiques.

[7]. Service sociale international (ISS), Bulletin mensuel No221 5/2018, Rapport sur la vente d’enfants et les adoption illégales.

[8]. Service sociale international (ISS), Bulletin mensuel No221 5/2018, Rapport sur la vente d’enfants et les adoption illégales.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: