Thứ bảy 27/06/2026 05:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Định hướng xây dựng Dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới

Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ VI thông qua ngày 21/12/1999 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000). Từ khi ra đời đến nay, Bộ luật Hình sự (BLHS) là công cụ sắc bén của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sau gần 14 năm thi hành, tình hình đất nước ta đã có những thay đổi lớn về mọi mặt. Đặc biệt, việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mà nội dung cơ bản là ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam đã mang lại những chuyển biến lớn, tích cực về kinh tế, xã hội và đối ngoại. Tuy nhiên, BLHS hiện hành trở nên bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

1. Sự cần thiết phải sửa đổi Bộ luật Hình sự

Thứ nhất, từ sau năm 2000, Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng và các Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đây là những định hướng quan trọng cho việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của BLHS nhằm thể chế hóa quan điểm mới về chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình hiện nay.

Thứ hai, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, mà trọng tâm là đổi mới về kinh tế, nền kinh tế thị trường định hướng định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam đang dần được định hình, từng bước phát triển và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm. Cùng với các luật khác trong hệ thống pháp luật nước ta, BLHS phải thể hiện đúng vai trò là công cụ hữu hiệu để bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta. Mặc dù, BLHS năm 1999 là kết quả của việc sửa đổi cơ bản, toàn diện BLHS năm 1985, nhưng một số quy định của BLHS hiện hành tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường (ví dụ như tội đầu cơ; tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); nhiều tội phạm mới phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường chưa được kịp thời bổ sung hoặc tuy đã được bổ sung nhưng chưa đầy đủ, toàn diện như: Các tội phạm phát sinh trong lĩnh vực bảo hiểm, thuế, tài chính, chứng khoán, tài nguyên, khoáng sản, vệ sinh an toàn thực phẩm,... Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Thứ ba, sự phát triển, bổ sung và đề cao quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành, làm cho các quyền này của người dân được thực hiện trên thực tế, theo đó, một mặt, BLHS phải xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi hệ thống hình phạt theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, có lúc, có nơi việc tôn trọng và bảo vệ các quyền con người, nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cách đầy đủ và toàn diện. Vì vậy, BLHS phải được tiếp tục hoàn thiện, góp phần tạo ra một khung pháp lý để bảo vệ một môi trường sống an lành cho người dân; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của không những người bị hại, nạn nhân của các hành vi phạm tội mà còn chú trọng đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội; động viên khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân yên tâm tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm, tham gia phát triển kinh tế, sáng tạo khoa học.

Thứ tư, tình hình tội phạm tiếp tục có những diễn biến phức tạp, đặc biệt, trong một số lĩnh vực có xu hướng gia tăng về quy mô và tính chất nguy hiểm. Trước hết, tình hình tội xâm phạm an ninh quốc gia, với những phương thức và thủ đoạn phạm tội hết sức tinh vi, xảo quyệt; các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn xã hội có tính chất bạo lực gia tăng. Hai là, các loại tội phạm hoạt động dưới dạng băng nhóm bảo kê, siết nợ, đòi nợ thuê, bắt giữ người trái pháp luật để đòi nợ ngày càng gia tăng. Ba là, tội phạm tham nhũng, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, quản lý dự án, đất đai, bất động sản, đầu tư xây dựng cơ bản có những diễn biến hết sức phức tạp, gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội hàng ngàn tỷ đồng. Bốn là, do có sự giúp sức, tiếp tay của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thoái hóa, biến chất, nên tình hình tội phạm buôn lậu, buôn bán hàng giả, hàng cấm, trốn thuế diễn biến hết sức nghiêm trọng. Các loại tội phạm trong lĩnh vực công nghệ, thông tin, viễn thông tiếp tục tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, hoạt động có tính chất xuyên quốc gia. Tình hình tội phạm về ma túy diễn ra với số lượng đặc biệt lớn trên phạm vi địa bàn rộng, có tổ chức chặt chẽ, có trang bị vũ khí, gây khó khăn rất lớn cho công tác đấu tranh, triệt phá loại tội phạm này.

Bên cạnh đó, theo báo cáo tổng kết thi hành BLHS của các Bộ, ngành, địa phương thì một trong những bất cập nổi lên đáng lưu ý là BLHS hiện hành mới chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân mà chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, trong khi đó, thực tiễn cho thấy nhiều tổ chức, doanh nghiệp (pháp nhân) vì chạy theo lợi nhuận đã bất chấp sự an toàn, tính mạng, sức khỏe của cộng đồng thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Ngoài ra, việc BLHS hiện hành quy định tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong BLHS cũng đã tạo ra những bất cập trong thực tiễn. Trong một khoảng thời gian 28 năm kể từ khi BLHS năm 1985 ra đời, Quốc hội đã 06 lần sửa đổi, bổ sung BLHS, trong đó có một lần sửa đổi cơ bản, toàn diện vào năm 1999. Mặc dù sửa đổi, bổ sung nhiều lần như vậy, nhưng BLHS hiện hành chưa theo kịp với yêu cầu thực tiễn, mà một trong những nguyên nhân là do BLHS điều chỉnh tất cả các tội phạm thuộc nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có lĩnh vực tương đối ổn định, nhưng có lĩnh vực lại có tính biến động cao, như lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, nếu sửa đổi, bổ sung liên tục thì không bảo đảm được tính ổn định của BLHS với tích chất là một văn bản pháp luật mang tính pháp điển hóa cao.

Thứ năm, xu thế chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các công ước về phòng chống tội phạm, như: Công ước của Liên Hợp Quốc về phòng, chống ma tuý; Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; Công ước chống tham nhũng; các điều ước quốc tế liên quan đến chống khủng bố, tài trợ khủng bố,... Bên cạnh đó, trong quan hệ hợp tác song phương với các quốc gia, Việt Nam đã đàm phán và ký kết nhiều hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự và hiệp định dẫn độ với các nước trên thế giới.

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức trong đó có vấn đề tội phạm có tính chất quốc tế. Điều này, đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS để nội luật hóa các quy định trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên liên quan đến lĩnh vực hình sự nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc gia thành viên, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Thứ sáu, bên cạnh đó, theo báo cáo tổng kết thi hành BLHS của các Bộ, ngành, địa phương thì về mặt kỹ thuật lập pháp, BLHS hiện hành còn nhiều bất cập, trong đó nổi lên là: (i) Chưa có sự thống nhất giữa các quy định của phần chung và phần các tội phạm cụ thể; (ii) Dấu hiệu định tội, định khung của nhiều tội chưa rõ ràng cụ thể, quá nhiều tình tiết có tính chất “định tính”, nên gây khó khăn trong công tác hướng dẫn cũng như công tác điều tra, truy tố và xét xử tội phạm; (iii) Quá nhiều tội ghép, trong đó bao gồm các hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau nhưng cùng một chính sách xử lý như nhau, gây khó khăn cho việc vận dụng thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng; (iv) Khung hình phạt của một số tội còn khá rộng. Số khung hình phạt có mức chênh lệch giữa mức phạt tù tối thiểu và tối đa từ 8 đến 10 năm chiếm tỷ lệ khá lớn; (v) Chưa có sự nhất quán trong cách phân chia các chương tội phạm,... Những bất cập này cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hướng dẫn thi hành và áp dụng các quy định của BLHS trên thực tế.

Do vậy, có thể thấy, việc nghiên cứu sửa đổi một cách toàn diện BLHS là một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.

Dự án BLHS (sửa đổi) đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Để triển khai xây dựng dự án BLHS (sửa đổi), ngày 10/9/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1236/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành BLHS. Trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn thi hành BLHS của 21 Bộ, ngành ở Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; kết quả khảo sát liên ngành tại 09 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các hội thảo khoa học về đề xuất sửa đổi, bổ sung BLHS, Bộ Tư pháp đã xây dựng dự thảo những định hướng lớn xây dựng dự án BLHS (sửa đổi). Những định hướng này đã được Chính phủ cho ý kiến tại phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 3 năm 2014.

2. Những định hướng cơ bản xây dựng dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi)

2.1. Hoàn thiện chính sách hình sự theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013

Đây là định hướng cơ bản, thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, nghiên cứu giảm khả năng áp dụng hình phạt tù, đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng các hình phạt không mang tính giam giữ như: Phạt tiền, cải tạo không giam giữ. Cụ thể, nghiên cứu sửa đổi quy định về hình phạt tù theo hướng hình phạt này chủ yếu áp dụng đối với các tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng; đối với các tội phạm nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng, thì chỉ nên áp dụng hình phạt này khi xét thấy nếu để người phạm tội ở ngoài xã hội sẽ còn gây hại cho xã hội; đối với những trường hợp còn lại thì xem xét áp dụng các hình phạt không phải là tước tự do, đồng thời, cần quy định theo hướng mở rộng khả năng áp dụng hình phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ, đối với các nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội xâm phạm sở hữu.

Thứ hai, hạn chế phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, theo hướng hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với một số ít trường hợp phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng có tính chất dã man, tàn bạo xâm phạm tính mạng của con người; đe doạ sự tồn vong của Nhà nước (một số tội xâm phạm an ninh quốc gia, một số tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân); đe dọa nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và sự phát triển giống nòi (một số tội phạm về ma tuý); các tội phạm mang tính toàn cầu, đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế (khủng bố, tham nhũng, các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh). Trên cơ sở đó, nghiên cứu giảm bớt số lượng các điều khoản của BLHS về từng tội phạm cụ thể có quy định hình phạt tử hình, đồng thời, nghiên cứu khả năng áp dụng chế định hoãn thi hành án tử hình để góp phần giảm việc thi hành hình phạt tử hình trên thực tế.

Thứ ba, bổ sung thêm một số trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, đồng thời sửa đổi các quy định hiện hành của BLHS về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo hướng tăng tính minh bạch để người dân an tâm tự bảo vệ mình, tích cực tham gia phòng chống tội phạm. Ngoài ra, thực tiễn cũng cho thấy, còn có nhiều trường hợp mặc dù hành vi đã gây ra thiệt hại cho xã hội, cho tổ chức, cá nhân, nhưng chủ thể thực hiện hành vi đó không có lỗi, ví dụ như: Chủ thể gây thiệt hại cho người khác trong trường hợp buộc phải thi hành quyết định, chỉ thị hoặc mệnh lệnh của cấp trên hoặc rủi ro nghề nghiệp xảy ra trong quá trình sản xuất, thí nghiệm khoa học công nghệ hoặc trường hợp trong khi tham gia bắt, giữ người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã mà gây thiệt hại cho người bị bắt,... Đây là những trường hợp cũng cần được loại trừ trách nhiệm hình sự.

Thứ tư, hoàn thiện các chế định về miễn trách nhiệm hình sự; miễn, giảm hình phạt; xoá án tích nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án, nhất là người phạm tội bị kết án phạt tù có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng. Cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn các điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời nghiên cứu mở rộng hơn nữa các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời, nghiên cứu, đề xuất bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Ngoài ra, cần nghiên cứu bổ sung thêm qui định về xóa án tích đối với trường hợp phạm nhiều tội, trong đó có cả tội thuộc nhóm đương nhiên được xóa án tích và có cả tội thuộc nhóm xóa án tích theo quyết định của Tòa án; xóa án tích đối với người bị kết án tù chung thân, tử hình khi được ân giảm;...

Thứ năm, nghiên cứu hoàn thiện chính sách hình sự liên quan đến người chưa thành niên phù hợp với tinh thần Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, như: (i) Hoàn thiện các nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em, đồng thời có cơ chế bảo vệ tốt hơn người chưa thành niên bị tội phạm xâm hại; (ii) Nghiên cứu khả năng hạn chế phạm vi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo hướng chỉ coi là tội phạm khi người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một số tội phạm cụ thể và được quy định trực tiếp trong phần các tội phạm; (iii) Nghiên cứu hạn chế khả năng áp dụng hình phạt tù trên cơ sở qui định chặt chẽ hơn điều kiện áp dụng hình phạt này đối với người chưa thành niên; tăng cường áp dụng các hình phạt không tước tự do đối với người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng; người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng; (iv) Nghiên cứu bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý thay thế biện pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội; v) có chính sách xử lý hình sự nghiêm khắc hơn trong trường hợp tội phạm gây thiệt hại cho người chưa thành niên, đặc biệt là đối với các tội phạm xâm hại trẻ em.

2.2. Thể chế hóa về mặt hình sự chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ nhất, nghiên cứu để phi hình sự hóa (phi tội phạm hóa) đối với một số hành vi phạm tội được quy định trong BLHS nhưng không còn phù hợp, như: Loại bỏ tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế (Điều 165), loại bỏ hoặc quy định rõ hơn dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội kinh doanh trái phép (Điều 159); tội cho vay lãi nặng (Điều 163); tội làm tem giả, vé giả, tội buôn bán tem giả, vé giả (Điều 164). Đồng thời hình sự hóa (tội phạm hóa) những hành vi phạm tội mới, có tính chất phá hoại nền tảng của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vi phạm những điều kiện của sự cạnh tranh hợp pháp, lành mạnh, xâm hại quyền tự do kinh doanh của công dân, sự bình đẳng trước pháp luật của các thành phần kinh tế như: Các tội phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai, các tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm, trong hoạt động đấu thầu.

Thứ hai, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số hình phạt áp dụng đối với các tội phạm về kinh tế, nhằm nâng cao tính răn đe và hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với các tội phạm này. Theo hướng này, thì cần mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền ngay cả đối với các tội phạm nghiêm trọng, thậm chí là một số trường hợp phạm các tội rất nghiêm trọng, đồng thời nâng mức phạt tiền cao hơn mức hiện hành. Sửa đổi một số quy định liên quan đến việc thi hành án để nâng cao tính răn đe và hiệu quả của việc áp dụng hình phạt tiền và các hình phạt mang tính vật chất khác; nghiên cứu khả năng chuyển đổi hình phạt tiền (với ý nghĩa là hình phạt chính và hình phạt bổ sung) thành hình phạt tù có thời hạn khi người phạm tội có thái độ cố tình không chấp hành hình phạt tiền hoặc có biểu hiện tẩu tán tài sản gây khó khăn của cho quá trình thi hành án. Ngoài ra, nghiên cứu khả năng nâng mức hình phạt (hình phạt tù và các hình phạt khác) đối với các tội phạm về kinh tế, nhưng lại có nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng, trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người như các tội phạm liên quan đến an toàn, vệ sinh thực phẩm; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh...

2.3. Đổi mới quan niệm về tội phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, đồng thời khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Trước hết, cùng với việc phi hình sự hóa thì cần thực hiện việc hình sự hóa theo hướng “Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế” mà Nghị quyết số 49/NQ-TW đã chỉ ra như: Hành vi bóc lột sức lao động trẻ em; hành vi thành lập hoặc tham gia vào tổ chức tội phạm; hành vi chiếm đoạt, mua bán trái phép mô tạng, các bộ phận cơ thể người, thai nhi; hành vi không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; hành vi tham ô, lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội của người lao động hoặc giả mạo hồ sơ để hưởng bảo hiểm xã hội;...).

Thứ hai, cần nghiên cứu đề xuất bổ sung vào BLHS quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Trong những năm qua, có những vụ việc do pháp nhân thực hiện, gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, việc áp dụng các chế tài hành chính, dân sự với pháp nhân không đủ sức răn đe. Để ngăn chặn những vi phạm này cần quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, như vậy sẽ làm thay đổi quan điểm truyền thống về tội phạm. Đây cũng là xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, như: Trung Quốc; Pháp; Thụy Sĩ;... đồng thời, đáp ứng yêu cầu của 40 khuyến nghị về chống rửa tiền của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền (FATF). Tuy nhiên, khi quy định vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân, thì cần phải xác định rõ chính sách xử lý hình sự đối với các pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội; những loại tội phạm mà pháp nhân sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự (ví dụ: Có thể là các tội phạm về kinh tế, thuế, chứng khoán, môi trường); phân định trách nhiệm của cá nhân và pháp nhân trong việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ như pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân).

Thứ ba, sửa đổi BLHS theo hướng tội phạm và hình phạt không chỉ được quy định trong BLHS mà còn có thể được quy định trong các luật chuyên ngành, nhằm tạo sự linh hoạt trong việc cập nhật các hành vi phạm tội mới, cũng như có điều kiện để quy định cụ thể, chi tiết hơn các hành vi phạm tội trong từng lĩnh vực đặc thù, đáp ứng yêu cầu đấu tranh kịp thời với các loại tội phạm mới phát sinh; đồng thời tạo sự ổn định cần thiết của BLHS.

Cần phải nhận thức rõ ràng, việc cho phép quy định tội phạm và hình phạt trong các đạo luật chuyên ngành không có nghĩa là sẽ thay thế toàn bộ các tội phạm cụ thể thuộc các lĩnh vực chuyên ngành hiện có trong BLHS, mà về cơ bản, tội phạm và hình phạt vẫn phải được quy định trong BLHS. Quy định này làm cơ sở để cho phép sau này khi ban hành các luật chuyên ngành, nếu thấy cần thiết thì Quốc hội sẽ bổ sung tội phạm mới trong từng lĩnh vực ngay trong đạo luật chuyên ngành đó mà không phải sửa đổi, bổ sung BLHS.

Thứ tư, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định thuộc Phần các tội phạm của BLHS, như: Hạn chế các tình tiết có tính chất định tính; những tình tiết khó chứng minh trên thực tế; sửa đổi quy định của BLHS theo hướng minh bạch, đơn giản, dễ vận dụng; nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo hướng: (i) Tăng nặng hình phạt đối với các tội phạm liên quan đến bảo đảm an toàn giao thông đường bộ, nhất là các trường hợp người điều khiển phương tiện giao thông vận tải sử dụng rượu, ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác quá mức cho phép trong khi điều khiển phương tiện giao thông vận tải; (ii) Bổ sung hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ do người tham gia giao thông khác thực hiện.

Sửa đổi, bổ sung tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm theo hướng qui định tội phạm này có cấu thành hình thức để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và tăng cường tính răn đe.

2.4. Nghiên cứu nội luật hóa những qui định có liên quan của điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

Định hướng này tạo điều kiện cho việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, nhất là các điều ước quốc tế có liên quan đến phòng, chống tội phạm (như: Nghiên cứu hình sự hóa hành vi tham gia nhóm tội phạm có tổ chức đáp ứng yêu cầu của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; hoàn thiện quy định về tội mua bán người và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em theo hướng phù hợp với yêu cầu của Nghị định thư về về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em; sửa đổi, bổ sung tội rửa tiền.

Đặc biệt, cần nghiên cứu sửa đổi các quy định của BLHS liên quan đến các tội phạm tham nhũng nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tham nhũng và yêu cầu thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng.

Đây là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước ta coi trọng và dành sự quan tâm đặc biệt. Tuy nhiên, công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi tham nhũng vẫn còn nhiều hạn chế, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do những bất cập của hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự. Ngoài ra, với tư cách là quốc gia thành viên Công ước chống tham nhũng, chúng ta có trách nhiệm nội luật hoá các quy định về hình sự hóa của Công ước, như: Quy định hành vi hối lộ công chức nước ngoài; hành vi hối lộ trong lĩnh vực tư; hành vi tham ô tài sản trong lĩnh vực tư, đồng thời, qui định cụ thể điều kiện miễn hoặc giảm hình phạt đối với những người có hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu khả năng hình sự hóa hành vi “làm giàu bất hợp pháp” theo tinh thần Công ước của Liên Hợp Quốc về phòng chống tham nhũng.

2.5. Hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hình sự theo hướng nâng cao tính minh bạch, khả thi và tính dự báo trong các quy định của Bộ luật Hình sự; bảo đảm tính thống nhất về mặt kỹ thuật giữa Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự và giữa Bộ luật Hình sự với các luật khác

Đây là một định hướng mang tính chuyên môn kỹ thuật, nhằm tạo ra một diện mạo mới về kỹ thuật lập pháp của BLHS trên cơ sở khắc phục những bất cập, kế thừa những điểm tiến bộ về kỹ thuật của BLHS năm 1999, làm cho BLHS mới có tính logic, nhất quán, minh bạch và mang tính dự báo cao để người dân, tổ chức, doanh nghiệp thấy được sự bảo hộ của BLHS đối với hành vi hợp pháp, chính đáng của mình, đồng thời nhận diện được rõ ràng hành vi phạm tội để phòng ngừa, ngăn chặn. Theo hướng này, cần nghiên cứu bổ sung các điều luật có tính chất giải thích thuật ngữ, để đảm bảo áp dụng thống nhất; giảm tối đa các tình tiết định tính trong BLHS; nghiên cứu tách một số điều luật của BLHS quy định nhiều hành vi có mức độ nguy hiểm khác nhau, thành các tội danh độc lập, đảm bảo việc xử lý tội phạm công bằng, đúng với bản chất của hành vi phạm tội, nghiên cứu thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong khung hình phạt của một số tội phạm để tạo điều kiện cho phép áp dụng trên thực tế.

Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: