Thứ hai 20/07/2026 17:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay và nhu cầu hỗ trợ pháp lý

Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế. Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP…

Số tiền thuế và phí mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm. Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và các chương trình phát triển khác. Do vậy, đã tạo tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư, để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa còn tồn tại một số hạn chế cố hữu như sau:

Một là, về tiếp cận vốn vay: Chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ tín dụng. Tuy nhiên, trên thực tế mới có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách hỗ trợ. Phần lớn các doanh nghiệp còn lại gặp các trở ngại như sau: 55% trở ngại do thủ tục vay (hồ sơ vay vốn phức tạp, không đủ thủ tục vay vốn đơn giản cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ); 50% trở ngại yêu cầu thế chấp (thiếu tài sản có giá trị cao để thế chấp, ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp như hàng trong kho, các khoản thu…); 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp; các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khó khăn nhất vẫn là thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, chỉ có 30% các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác (trong số này có nhiều doanh nghiệp vẫn phải chịu vay ở mức lãi suất cao 15 - 18%). Điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất ít các doanh nghiệp đáp ứng được điều kiện không được nợ thuế quá hạn, không nợ lãi suất quá hạn.

Hai là, về công nghệ: Doanh nghiệp vừa và nhỏ được kỳ vọng là có thể đóng góp vào sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ, hoặc đóng vai trò là nhà cung ứng dịch vụ, sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp nước ngoài hoặc các dự án lớn của Nhà nước. Quá trình này sẽ thúc đẩy cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trở thành trụ cột để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên hiện nay, đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chưa tham gia vào được chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam còn thấp. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn rất ít. Số lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp. Khoảng 80 - 90% máy móc và công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên 1980 - 1990, 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao.

Ba là, hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, hàng tồn kho lớn: Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành đều tăng, trong khi giá bán sản phẩm không tăng. Đối với ngành có tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu, phụ kiện nhập khẩu (ví dụ, sản xuất dây và cáp điện, điện tử, cơ khí…) bị ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Trong khi sức tiêu thụ của thị trường giảm sút, nhiều doanh nghiệp phải chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Hàng tồn kho trong một số ngành hàng tăng cao như bất động sản, vật liệu xây dựng, nông sản…, nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải đối mặt với các khoản vay lớn của ngân hàng, đến hạn trả nhưng không có nguồn thu, không còn tài sản và khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh, chi phí sản xuất các ngành chế biến và bảo quản rau, củ, quả tăng 123,2%; sản xuất các sản phẩm từ nhựa tăng 89,1%; sản xuất kim loại đúc sẵn tăng 62,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 56,2%; sản xuất xi măng tăng 52,3%...

Bốn là, bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Theo số liệu thống kê, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, tiến sỹ chỉ chiếm 0,66%; thạc sỹ 2,33%; tốt nghiệp đại học 37,82%; tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%; tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn. Về lực lượng lao động, có tới 75% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật; việc thực hiện chưa đầy đủ các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng công việc trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng rơi vào vị thế bất lợi.

Điều đáng chú ý là đa số các chủ doanh nghiệp, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp, các lớp về pháp luật trong kinh doanh..., điều này có ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý, phòng tránh các rủi ro pháp lý của các doanh nghiệp Việt Nam.

Năm là, năng lực tiếp cận với các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn chưa tiếp cận được hiệu quả trong quá trình hội nhập quốc tế. Để từng bước phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam gia nhập tổ chức WTO, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách pháp luật, có thể nói hệ thống pháp luật trong kinh doanh ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên, năng lực tiếp cận với các văn bản và hệ thống chính sách pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế. Việc tiếp cận hạn chế này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, phần khách quan do nội tại nền kinh tế nước ta như cải cách hành chính diễn ra còn chậm, chính sách kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, gây mất lòng tin cho doanh nghiệp..., tuy nhiên, phần lớn là do chủ quan các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thực sự tìm hiểu các chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế để nâng cao năng lực của chính mình trong kinh doanh. Đây là vấn đề rất đáng lưu tâm, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp phải có những giải pháp nhằm thay đổi tăng cường năng lực tiếp cận với các thông tin, chính sách pháp luật và thông lệ quốc tế trong kinh doanh cho doanh nghiệp.

Có thể thấy rằng, cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả vô cùng quan trọng, nhưng cũng phải đối mặt với những khó khăn thách thức đã và đang nảy sinh trong tình hình mới, với mục tiêu phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2011 - 2015 là thành lập mới 350.000 doanh nghiệp và phấn đấu đến ngày 31/12/2015, cả nước sẽ có khoảng 700.000 doanh nghiệp hoạt động. Trong đó, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc; đầu tư của khu vực này chiếm khoảng 35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; đóng góp 40% GDP; 30% tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN); tạo thêm 3,5 - 4 triệu việc làm mới trong giai đoạn 2011 - 2015…

Đây là một nhiệm vụ lớn, đòi hỏi phải có sự chung tay, chung sức của cả hệ thống chính trị, của các bộ, ngành và địa phương. Trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện theo Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 về hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp và Quyết định số 585/QĐ–TTg ngày 05/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn năm 2010 – 2014, là một thành viên trong Ban Chỉ đạo Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam xin đề xuất triển khai một số hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động

Việc ban hành các văn bản chính sách liên quan đến doanh nghiệp phải được thực hiện theo hướng tạo những điều kiện thông thoáng nhất cho doanh nghiệp hoạt động (như trong lĩnh vực đấu thầu, đất đai, thuế, đầu tư, phá sản doanh nghiệp...). Không làm chính sách theo lối “không quản được thì cấm hay hạn chế”, hay ban hành thì tùy tiện, thiếu cân nhắc và xa lạ với thực tế cuộc sống thường ngày, giảm bớt các quy định, giấy phép can thiệp hành chính vào thị trường.

Thứ hai, tăng cường năng lực tiếp cận thông tin chính sách pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việc xây dựng trang thông tin điện tử về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, hiện nay chúng ta chưa có một chuyên trang riêng biệt về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trong khi đó, với đặc điểm chính của Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện nay chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành rất nhiều, từ cấp Chính phủ đến các bộ, ngành, địa phương, về các lĩnh vực như trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa, về thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ công nghiệp phụ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, chính sách khoa học công nghệ đối với doanh nghiệp,... các văn bản này đang nằm tản mạn tại các bộ, ngành, địa phương và thực tế thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam rất khó tiếp cận. Vì vậy, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đề nghị cần hình thành chuyên trang về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và liên kết đến các trang thông tin của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, để cung cấp thông tin một cách có hệ thống các văn bản chính sách pháp luật đến được với doanh nghiệp.

Thứ ba, tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, tổ chức các hoạt động dưới nhiều hình thức nhằm tuyên truyền, khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật

Thực tiễn trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp hội viên và các hiệp hội địa phương phản ánh về Hiệp hội những khó khăn trong quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, do không có nguồn lực, đội ngũ cán bộ không có kỹ năng, không được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, vì vậy trong nội dung bồi dưỡng tăng cường cho cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Hiệp hội đề nghị ngoài việc tập trung đào tạo bồi dưỡng kiến thức pháp luật kinh doanh cho chủ sở hữu, người quản lý doanh nghiệp, cần tăng cường dành nhiều thời lượng cho chương trình bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp này. Đặc biệt là bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ Hiệp hội doanh nghiệp địa phương về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ tư, về xây dựng mạng lưới tư vấn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tại các vùng, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện nay có hệ thống mạng lưới tại 49 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đó là các Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa các tỉnh, thành phố. Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Quản lý Chương trình, Hiệp hội đã cử cán bộ tham gia tổ chuyên gia xây dựng Đề án thí điểm xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật tại các vùng, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Vì vậy, đề nghị trong thời gian tới, Chương trình chọn một số địa phương là các Hiệp hội doanh nghiệp các tỉnh là thành viên của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam làm điểm để xây dựng mạng lưới. Hiệp hội sẽ có trách nhiệm hướng dẫn các hội địa phương làm tốt vai trò đầu mối khi triển khai mạng lưới tư vấn pháp luật cho các doanh nghiệp ở các địa bàn khó khăn tại các địa phương được lựa chọn

Tô Hoài Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: