Thứ sáu 23/01/2026 11:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới, tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện hiện nay

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là khâu đầu tiên của hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Chính vì vậy, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện.


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX yêu cầu: Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật[1]. Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta đã khẳng định: Cần tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật. Trong thời gian tới, đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa[2]. Đồng thời, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật[3].

Thực hiện chủ trương của Đảng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã có nhiều chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả tốt, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước giai đoạn hiện nay. Qua tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW) cho thấy, nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về vai trò, tầm quan trọng của công tác PBGDPL đã được nâng lên trên tinh thần xác định công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở. Thể chế, chính sách của công tác PBGDPL cơ bản được hoàn thiện với văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Nội dung PBGDPL bám sát hơn nhu cầu xã hội, nhiệm vụ chính trị của bộ, ngành, địa phương; hình thức PBGDPL đa dạng, phong phú, sáng tạo. Nguồn nhân lực thực hiện công tác PBGDPL được tăng cường về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng. Nguồn lực tài chính cũng như các chính sách hỗ trợ cho đội ngũ những người làm công tác PBGDPL đã có chuyển biến theo hướng tăng hơn so với trước đây. Việc hưởng ứng Ngày Pháp luật đã tạo được hiệu ứng tích cực, có sức lan tỏa, góp phần nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật trong toàn xã hội. Hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã được tăng cường, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác PBGDPL vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục như: Một số cơ quan, tổ chức, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác PBGDPL. Hoạt động PBGDPL tại cơ sở ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn mang tính hình thức, chưa thực chất, hiệu quả. Việc hướng dẫn nhân rộng mô hình hay, cách làm hiệu quả ở nhiều nơi chưa được chú trọng. Nguồn nhân lực thực hiện công tác PBGDPL chất lượng chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu công tác PBGDPL trong tình hình mới. Việc định hướng nội dung PBGDPL đôi lúc chưa sát với nhu cầu thực tiễn, còn dàn trải, chưa trọng tâm, trọng điểm. Một số hình thức PBGDPL chưa phù hợp với đối tượng đặc thù. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL chưa tương xứng với yêu cầu thực tế và sự phát triển ứng dụng công nghệ. Kinh phí dành cho công tác PBGDPL ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa hoặc những địa bàn khó khăn. Chính sách xã hội hóa vẫn chưa khuyến khích được đông đảo các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia, hỗ trợ cho công tác PBGDPL. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, nhân dân chưa chuyển biến rõ nét.

Để khắc phục tồn tại, hạn chế nêu trên và đáp ứng yêu cầu của công tác PBGDPL trong bối cảnh mới, ngày 20/6/2020, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 80-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, trong đó xác định chủ trương, định hướng đổi mới, là cơ sở để đề ra các giải pháp tạo sự chuyển biến căn bản về chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL, với các nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị trong triển khai công tác PBGDPL

Việc các cấp, các ngành, nhất là người đứng đầu nhận thức đầy đủ, toàn diện về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác PBGDPL và trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác PBGDPL đóng vai trò hết sức quan trọng; từ đó dành sự quan tâm thỏa đáng đến công tác này. Kết luận số 80-KL/TW tiếp tục khẳng định PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, phát huy sự tham gia chủ động, tích cực của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và của mọi người dân trong công tác PBGDPL…

Một điểm mới quan trọng thể hiện sự thay đổi trong tư duy, quan điểm về công tác PBGDPL trong Kết luận số 80-KL/TW là chủ trương kết hợp chặt chẽ công tác PBGDPL với nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả giữa PBGDPL với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật. Quan điểm này xác định đúng vị trí, vai trò của công tác PBGDPL trong mối quan hệ với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật theo hướng PBGDPL là khâu đầu tiên đưa pháp luật vào cuộc sống, thúc đẩy việc thực thi pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân; đồng thời, qua công tác PBGDPL, nắm bắt, tổng hợp vướng mắc, bất cập để đề xuất hoàn thiện pháp luật.

Với tinh thần đó, trong thời gian tới, Thủ trưởng các bộ, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần tổ chức quán triệt, triển khai sâu rộng, toàn diện nội dung Kết luận số 80-KL/TW bằng hình thức phù hợp đến các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; ban hành hoặc tham mưu cấp ủy cùng cấp ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Kết luận; phát huy vai trò, xác định trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL; kết hợp PBGDPL với nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị. Bên cạnh đó, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp tổ chức phổ biến, quán triệt sâu rộng các nội dung của Kết luận số 80-KL/TW bằng hình thức phù hợp cho các cấp bộ, đoàn, hội, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý; ban hành văn bản hướng dẫn, triển khai Kết luận số 80-KL/TW trong hệ thống tổ chức mình.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức PBGDPL bảo đảm phù hợp với nhu cầu xã hội và từng nhóm đối tượng, địa bàn theo hướng lấy người dân làm trung tâm

Để bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL, đưa pháp luật vào cuộc sống, công tác này cần lấy người dân làm trung tâm, theo đó, nội dung, hình thức PBGDPL phải phù hợp với nhu cầu xã hội và từng nhóm đối tượng, địa bàn. Theo quy định tại Điều 10 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, nội dung PBGDPL cần toàn diện, bao gồm quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, các thỏa thuận quốc tế; ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, ý thức bảo vệ pháp luật, lợi ích của việc chấp hành pháp luật và gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật, trong đó trọng tâm là các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến người dân; các chính sách, pháp luật được dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội. Qua thực tiễn triển khai công tác PBGDPL thời gian qua, Kết luận số 80-KL/TW đã đưa ra định hướng cần kịp thời thông tin đầy đủ ngay từ khi soạn thảo các vấn đề có tác động lớn đến xã hội để tạo sự đồng thuận cao trong thực thi chính sách, pháp luật.

Bên cạnh áp dụng các hình thức PBGDPL truyền thống quy định tại Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, cần đổi mới theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác PBGDPL, trong đó có việc xây dựng và phát triển “hệ sinh thái” PBGDPL trên các thiết bị di động; thi tìm hiểu pháp luật, tập huấn pháp luật trực tuyến; nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong PBGDPL; gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện hiệu quả Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giai đoạn 2019 - 2021”; đồng thời, chú trọng tổ chức đối thoại chính sách pháp luật, giải đáp pháp luật và các vướng mắc phổ biến trong áp dụng pháp luật về các lĩnh vực, phạm vi cơ quan, đơn vị mình quản lý cho nhân dân bằng các hình thức phù hợp.

Kết luận số 80-KL/TW yêu cầu các phương tiện thông tin đại chúng ưu tiên khung giờ thu hút đông đảo khán, thính giả đối với các chuyên trang, chuyên mục về pháp luật. Bên cạnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam chú trọng tổ chức các đợt cao điểm phổ biến, truyền thông về lĩnh vực pháp luật quan trọng, được xã hội quan tâm.

Nhằm đổi mới căn bản, toàn diện, nâng cao chất lượng công tác PBGDPL trong nhà trường, điểm mấu chốt là thực hiện có hiệu quả việc chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giảng viên dạy môn pháp luật; tập huấn, nâng cao năng lực, kỹ năng nghiệp vụ PBGDPL cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên, người làm công tác pháp chế trong ngành giáo dục, lao động - thương binh và xã hội. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện nội dung chương trình, sách giáo khoa, tài liệu, giáo trình đào tạo gắn với đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo.

Ba là, tổ chức triển khai công tác PBGDPL toàn diện, rộng khắp đến các đối tượng, địa bàn trong phạm vi cả nước và có trọng tâm, trọng điểm

Theo tinh thần của Kết luận số 80-KL/TW, công tác PBGDPL được triển khai toàn diện, rộng khắp, nhưng có trọng tâm, trọng điểm theo hướng ưu tiên nguồn lực PBGDPL cho các nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn trọng yếu về quốc phòng an ninh; gắn thực hiện PBGDPL với việc thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội có liên quan. Để bảo đảm hiệu quả, công tác PBGDPL cần hướng mạnh về cơ sở; lồng ghép với hòa giải ở cơ sở, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý và xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Cụ thể hóa và phát triển chủ trương trong Chỉ thị số 32-CT/TW, trong thời gian tới, cán bộ, công chức, viên chức phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chủ động trong tìm hiểu và gương mẫu trong thực thi pháp luật; gắn việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ với việc thông tin, phổ biến pháp luật tới nhân dân; vận dụng kỹ năng dân vận khéo trong PBGDPL; đồng thời, vận động, khuyến khích công dân tìm hiểu, sử dụng, chấp hành, tuân thủ pháp luật.

Bốn là, tăng cường và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác PBGDPL

Nguồn nhân lực trong công tác PBGDPL đóng vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác này. Do vậy, trong thời gian tới, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chú trọng việc hướng dẫn, củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng, năng lực phân tích, đánh giá, tham mưu hoàn thiện chính sách cho đội ngũ công chức thực hiện công tác PBGDPL; tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ này bảo đảm hoạt động chất lượng, hiệu quả; tiếp tục rà soát đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp; xây dựng, ban hành chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để thu hút đội ngũ chuyên gia pháp luật tham gia PBGDPL cho nhân dân, hướng tới coi đây là lực lượng nòng cốt để thực hiện công tác này.

Hiện nay, lực lượng Công an nhân dân và lực lượng Bộ đội Biên phòng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng chính quyền cơ sở nói chung, tổ chức thi hành pháp luật nói riêng. Chính vì vậy, Kết luận số 80-KL/TW yêu cầu phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò, trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng trong công tác PBGDPL, coi đây là giải pháp quan trọng tăng cường tiềm lực cho công tác PBGDPL, bảo đảm thực chất, sát cơ sở.

Ngoài ra, một điểm mới quan trọng trong việc huy động nguồn lực tham gia công tác PBGDPL trong thời gian tới là xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách ưu tiên sử dụng người biết tiếng dân tộc thiểu số, người có uy tín trong cộng đồng dân cư, già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc trong các tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số tham gia công tác PBGDPL.

Năm là, bảo đảm kinh phí và đa dạng hóa nguồn lực xã hội tham gia công tác PBGDPL

Như đã phân tích ở trên, một trong những tồn tại của công tác PBGDPL qua tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW là kinh phí dành cho công tác này ở nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, những địa bàn khó khăn. Để khắc phục tồn tại này, thực hiện chỉ đạo của Ban Bí thư tại Kết luận số 80-KL/TW, trong thời gian tới, Bộ Tài chính có nhiệm vụ rà soát, ban hành theo thẩm quyền hoặc tham mưu cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật quy định về kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác PBGDPL một cách linh hoạt, phù hợp, đáp ứng yêu cầu công tác PBGDPL theo định hướng cơ chế kinh phí tại các văn bản của Đảng và Nhà nước, trong đó ưu tiên bố trí kinh phí cho các địa phương chưa cân đối được ngân sách và thực hiện các nhiệm vụ PBGDPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, người dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; các vấn đề pháp luật cấp bách cần được phổ biến, quán triệt ngay theo nhu cầu của người dân hoặc yêu cầu từ quản lý nhà nước.

Bên cạnh nguồn lực từ nhà nước, Kết luận số 80-KL/TW chủ trương tiếp tục đa dạng hóa nguồn lực xã hội cho công tác PBGDPL. Nhà nước tập trung vào công tác quản lý nhà nước, xây dựng thể chế, chính sách, đầu tư nguồn lực tổ chức phổ biến các văn bản pháp luật, lĩnh vực, địa bàn quan trọng, cho nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng thời huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và của mọi người dân trong công tác PBGDPL, trong đó các tổ chức xã hội, tổ chức hành nghề về pháp luật, hiệp hội doanh nghiệp[4] đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát huy trách nhiệm xã hội của đoàn viên, hội viên tham gia tư vấn pháp luật, PBGDPL miễn phí, trợ giúp pháp lý cho nhân dân.

Sáu là, đổi mới tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước về PBGDPL

Tại Kết luận số 80-KL/TW, Ban Bí thư đã đề ra chủ trương: Đổi mới tổ chức, hoạt động của cơ quan, đơn vị tham mưu, thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL. Kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp. Chủ trương quan trọng này xuất phát từ thực trạng công tác PBGDPL qua tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW và yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL. Hiện nay, hệ thống các cơ quan thực hiện quản lý nhà nước về công tác PBGDPL từ Trung ương đến địa phương vừa thực hiện chức năng tham mưu, đồng thời đảm nhận vai trò quản lý nhà nước chuyên ngành về PBGDPL và tổ chức triển khai các hoạt động PBGDPL cụ thể. Trong khi đó, hoạt động PBGDPL có phạm vi tác động sâu rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến từng người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội, nên đòi hỏi phải đổi mới tổ chức, hoạt động theo hướng linh hoạt, chủ động, đáp ứng yêu cầu triển khai công tác trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vì vậy, cần phải rà soát các văn bản quy định về tổ chức, hoạt động của đơn vị tham mưu, thực hiện quản lý nhà nước về PBGDPL thuộc Bộ Tư pháp; nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc đổi mới tổ chức, hoạt động của đơn vị theo hướng độc lập, chuyên trách, hoạt động linh hoạt, hiệu quả. Đây là giải pháp căn bản, cốt yếu để thực hiện chủ trương của Ban Bí thư nhằm tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về PBGDPL, là tiền đề để nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật.

Bảy là, đổi mới tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL

Để đổi mới, đưa công tác PBGDPL đi vào thực chất, Kết luận số 80-KL/TW xác định cần kết hợp chặt chẽ công tác PBGDPL với nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; ý thức chấp hành pháp luật là thước đo hiệu quả công tác PBGDPL.

Đây là chủ trương mới, có tính đột phá nhằm tạo chuyển biến căn bản trong chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL và từng bước đưa công tác này đi vào thực chất. Thực hiện nhiệm vụ của Ban Bí thư giao, trong thời gian tới, cần xác định kết quả triển khai công tác PBGDPL là một trong những tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là người đứng đầu; xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL theo hướng lượng hóa các kết quả đầu ra cụ thể.

PBGDPL là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Để tạo sự chuyển biến căn bản trong chất lượng, hiệu quả công tác PBGDPL theo tinh thần Kết luận số 80-KL/TW, rất cần sự vào cuộc quyết liệt và quyết tâm chính trị của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, sự phối hợp chặt chẽ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đồng thời phát huy, khơi dậy tinh thần tự học tập, tìm hiểu pháp luật của mọi người dân trong xã hội. Có như vậy, công tác PBGDPL mới thực sự đi vào cuộc sống, phát huy được vai trò, tạo ra diện mạo mới, góp phần đắc lực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

TS. Nguyễn Thanh Tịnh

Thứ trưởng Bộ Tư pháp

ThS. Phan Hồng Nguyên

Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật





[1]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 60, tr. 218 - 219, Nxb. Chính trị quốc gia, 2001.

[2]. Văn phòng Trung ương Đảng, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tr. 176, Hà Nội, 2016.

[3]. Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[4]. Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư cấp tỉnh, Hội Luật gia Việt Nam các cấp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp…

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: