Thứ năm 19/03/2026 04:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giá trị pháp lý của bản kết luận giám định

Theo quy định của pháp luật hiện hành, kết luận giám định chỉ trở thành chứng cứ chứng minh trước tòa khi kết luận đó phát sinh từ hoạt động giám định tư pháp. Đối với những kết luận giám định phát sinh không từ hoạt động giám định tư pháp, mặc dù đều do cùng một cơ quan giám định thực hiện, sẽ không trở thành chứng cứ chứng minh trước tòa. Phải chăng đã có sự phân biệt không thỏa đáng của pháp luật về vấn đề này?!


Theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này”. Theo như quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012, một hoạt động giám định sẽ là hoạt động giám định tư pháp khi hội tụ đầy đủ ba điều kiện sau: (i) Chủ thể tiến hành hoạt động giám định phải là giám định viên tư pháp trong các tổ chức giám định hoặc người giám định tư pháp theo vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm; (ii) Đối tượng cần giám định phải có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, có liên quan đến giải quyết vụ án hình sự, vụ việc dân sự, vụ án hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng đang giải quyết; (iii) Chủ thể trưng cầu giám định phải là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc chủ thể yêu cầu giám định là cá nhân trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ chối bằng văn bản về việc yêu cầu giám định của họ. Như vậy, nếu một hoạt động giám định nào đó chỉ thiếu một trong ba điều kiện nêu trên thì hoạt động giám định đó không phải là hoạt động giám định tư pháp.

Trong cùng một cơ quan tiến hành giám định, việc xác định một hoạt động giám định có phải là hoạt động giám đinh tư pháp hay không có ý nghĩa rất quan trọng. Vì chỉ có kết luận giám định phát sinh trong hoạt động giám định tư pháp mới trở thành nguồn chứng cứ để sử dụng trước tòa. Còn đối với những kết luận giám định không phát sinh trong hoạt động giám định tư pháp thì không có giá trị sử dụng là chứng cứ để chứng minh trước tòa, mà chỉ có giá trị tham khảo. Vậy, vấn đề đặt ra là trong cùng một cơ quan tiến hành giám định thì có gì khác biệt giữa hoạt động giám định tư pháp và hoạt động không phải là hoạt động giám định tư pháp. Điểm khác biệt duy nhất là ở điều kiện thứ ba, khi cơ quan tiến hành giám định tiếp nhận yêu cầu giám định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng thì hoạt động giám định đó không phải là hoạt động giám định tư pháp, mặc dù hoạt động đó vẫn do giám định viên thực hiện theo cùng một quy trình giám định với những trang thiết bị kỹ thuật không có gì khác so với hoạt động giám định tư pháp. Theo quy định tại Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp năm 2012 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 85/2013/NĐ-CP), thì hoạt động đó được gọi là “dịch vụ giám định ngoài tố tụng”. Cụ thể, tại khoản 1, Điều 2 của Nghị định số 85/2013/NĐ-CP có quy định: “Tổ chức giám định tư pháp công lập thực hiện giám định tư pháp theo trưng cầu của người trưng cầu giám định, yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012 và thực hiện dịch vụ giám định ngoài tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức”.

Như vậy, giá trị pháp lý đối với bản kết luận giám định do cùng một tổ chức giám định thực hiện có sự khác nhau. Nếu bản kết luận giám định là sản phẩm của hoạt động giám định tư pháp thì kết luận đó gọi là kết luận giám định tư pháp và có giá trị sử dụng làm chứng cứ chứng minh trước tòa. Nếu kết luận giám định là sản phẩm của hoạt động dịch vụ giám định ngoài tố tụng thì kết luận đó không phải là kết luận giám định tư pháp, không có giá trị sử dụng làm chứng cứ chứng minh trước tòa mà chỉ có giá trị tham khảo.

Tuy nhiên, giá trị khoa học của bản kết luận giám định có sự khác biệt so với giá trị pháp lý của bản kết luận giám định. Giá trị khoa học của bản kết luận giám định theo trình tự thủ tục giám định trong tố tụng hoặc giám định ngoài tố tụng là như nhau, giữa chúng không có sự khác biệt. Vì trình độ chuyên môn của giám định viên và trình độ hiện đại của trang thiết bị kỹ thuật là những yếu tố quyết định giá trị khoa học của kết luận giám định. Giá trị khoa học của kết luận giám định không phụ thuộc vào chủ thể nào trưng cầu, yêu cầu giám định. Một tổ chức giám định được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, thì luôn luôn gây dựng uy tín và tự chịu hậu quả trách nhiệm pháp lý về kết luận giám định của mình, do đó giá trị khoa học của bản kết luận giám định luôn được đảm bảo, hoàn toàn không phụ thuộc vào chủ thể yêu cầu giám định là ai.

Sự chưa trùng khớp giữa giá trị pháp lý và giá trị khoa học của bản kết luận giám định trong hoạt động giám định hiện nay đã gây ra sự lãng phí xã hội rất lớn. Cùng một đối tượng giám định, do cùng một tổ chức giám định thực hiện nhưng kết luận giám định về đối tượng đó lại có giá trị pháp lý khác nhau khi chủ thể yêu cầu giám định khác nhau. Quy định trên dẫn đến tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng không sử dụng kết luận giám định trước đó khi các tổ chức, cá nhân yêu cầu giám định ngoài tố tụng. Khi thụ lý vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng lại tiếp tục ra quyết định trưng cầu giám định về cùng một đối tượng đã được tổ chức, cá nhân giám định trước đó, mặc dù vẫn biết trước kết quả giám định không có gì thay đổi. Sự lãng phí, tốn kém này do chính quy định của pháp luật giám định tư pháp hiện nay gây ra.

Chúng ta đang từng bước xây dựng một nền tư pháp hiện đại, ở đó mọi chủ thể, không phân biệt địa vị pháp lý, đều bình đẳng về việc đưa ra chứng cứ để chứng minh trước tòa. Hiện nay, việc phân biệt giá trị pháp lý của bản kết luận giám định do yếu tố chủ thể yêu cầu giám định quyết định là thực sự chưa thỏa đáng, gây lãng phí lớn cho xã hội, chưa phù hợp với định hướng xây dựng một nền tư pháp hiện đại. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải sửa đổi quy định của pháp luật hiện hành để mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền yêu cầu giám định. Các kết luận giám định của cùng một tổ chức giám định đều có giá trị pháp lý như nhau, không phân biệt vấn đề được kết luận do cơ quan, tổ chức, cá nhân nào yêu cầu.

Để tiến tới một nền tư pháp hiện đại, công bằng và tiến bộ, thiết nghĩ cần phải sửa đổi những quy định của pháp luật hiện hành về giám định tư pháp. Trước tiên là, sửa đổi Luật Giám định tư pháp năm 2012 theo hướng cụ thể như sau: Sửa đổi khoản 1 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012: “Giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề theo yêu cầu của người trưng cầu giám định”.

Nếu khái niệm giám định tư pháp được sửa đổi như trên sẽ khắc phục triệt để những hạn chế gây lãng phí xã hội trong hoạt động giám định tư pháp hiện nay. Tức là, một hoạt động được coi là giám định tư pháp sẽ không còn phụ thuộc vào chủ thể yêu cầu giám định là ai và không bị bó hẹp trong phạm vi chỉ phục vụ cho hoạt động tố tụng. Mọi pháp nhân, cá nhân đều có quyền sử dụng kết luận giám định để giải quyết những vụ việc có liên quan, những vụ việc chưa cần thiết phải đưa vào vòng tố tụng.

Đồng thời, cần sửa đổi khoản 2 Điều 2 Luật Giám định tư pháp năm 2012 theo hướng:“Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, pháp nhân và cá nhân”. Cần bổ sung pháp nhân và cá nhân có quyền trưng cầu giám định. Tức là, việc trưng cầu giám định sẽ không bị hạn chế đối tượng. Ngoài cơ quan tố tụng ra, mọi pháp nhân, cá nhân đều có quyền trưng cầu giám định để sử dụng kết luận giám định nhằm giải quyết những vụ việc có liên quan khi vụ việc đó chưa đưa vào vòng tố tụng. Nếu vụ việc được đưa vào vòng tố tụng thì cơ quan tiến hành tổ tụng có thể sử dụng kết luận giám định đó để giải quyết vụ án hoặc có thể trưng cầu giám định lại nếu thấy việc trưng cầu giám định trước đó chưa khách quan. Việc mở rộng đối tượng được quyền trưng cầu giám định là rất cần thiết, phù hợp với nền tư pháp hiện đại, ở đó mọi người đều có quyền bình đẳng về đưa ra chứng cứ để chứng minh. Nếu mở rộng diện đối tượng trưng cầu giám định như trên sẽ không còn phân biệt thủ tục giữa “trưng cầu giám định” và “yêu cầu giám định” như hiện nay. Việc xóa bỏ gianh giới, không phân biệt giám định trong tố tụng và giám định ngoài tố tụng có ý nghĩa rất lớn. Khi đó, mọi kết luận giám định của tổ chức giám định tư pháp đều có giá trị pháp lý như nhau, không phân biệt chủ thể yêu cầu giám định là ai.

Giá trị cốt lõi của bản kết luận giám định là giá trị khoa học của bản kết luận đó. Khi có sự tương đồng giữa giá trị khoa học và giá trị pháp lý của bản kết luận giám định thì những rào cản liên quan đến hoạt động giám định sẽ được gỡ bỏ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền ngang nhau khi đưa ra chứng cứ chứng minh trước tòa thông qua bản kết luận giám định. Sửa đổi pháp luật về giám định theo hướng như trên mới thực sự góp phần hướng đến xây dựng một nền tư pháp hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền tư pháp nhân loại tiến bộ./.

ThS. Lưu Quang Huy[1]


[1] Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Phước.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: