Chủ nhật 12/07/2026 13:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch

Giải pháp phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch

Tóm tắt: Bài viết này bàn luận về thực trạng và một số nguyên nhân, điều kiện của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch, từ đó, đưa ra một số kiến nghị về vấn đề này.

Abstract: This article discusses the current situation and some causes and conditions of child sex offenders in tourism activities, thereby, making some recommendations on this issue.

1. Quy định hiện hành của pháp luật quốc tế và Việt Nam về bảo vệ trẻ em trước những hành vi xâm hại tình dục

Pháp luật quốc tế đã có những quy định nhằm bảo vệ các quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em trước những hành vi mua bán, bóc lột và lạm dụng tình dục như: Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Nghị định thư Không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em năm 2000… Các văn bản pháp lý này đưa ra khuyến nghị bắt buộc đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ trẻ em trước những hành vi xâm hại: “Các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em trước mọi hình thức bóc lột và xâm hại tình dục. Vì mục đích này, các quốc gia thành viên phải đặc biệt thực hiện mọi biện pháp thích hợp ở cấp quốc gia, song phương và đa phương để ngăn ngừa: (i) Việc xúi giục hay ép buộc trẻ em tham gia vào bất kỳ hoạt động tình dục bất hợp pháp nào; (ii) Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong các hoạt động mại dâm và các hoạt động tình dục trái pháp luật khác; (iii) Việc sử dụng có tính chất bóc lột trẻ em trong việc biểu diễn và thực hiện các tài liệu khiêu dâm”[1].

Việt Nam đã phê chuẩn hai văn bản này lần lượt vào ngày 20/02/1990 và 20/12/2001. Việc tham gia các văn bản pháp lý này đặt ra thách thức cho các quốc gia và các bên liên quan trong việc ngăn chặn bóc lột tình dục, đặc biệt là các tội phạm xâm hại tình dục qua hình thức du lịch và hiện nay, loại tội phạm này còn có xu hướng phát triển trên môi trường không gian mạng. Ủy ban Liên Hợp quốc về quyền trẻ em cũng đã thông qua “Những hướng dẫn liên quan đến việc thực thi Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em về việc buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em năm 2000”[2]. Nội dung chính của hướng dẫn này nhằm thúc đẩy sự hiểu biết sâu sắc hơn về các điều khoản của Nghị định thư cũng như các hình thức mua bán và bóc lột tình dục trẻ em hiện đại trong bối cảnh phát triển của không gian mạng; bảo đảm các quốc gia thành viên thực thi có hiệu quả và là một công cụ pháp lý nhằm giúp các quốc gia thành viên tăng cường bảo vệ trẻ em khỏi bị mua bán và bóc lột tình dục. Các văn bản này đòi hỏi các quốc gia thành viên cần xem xét để áp dụng trực tiếp hoặc nội luật hóa vào hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế nhằm bảo vệ trẻ em trước các hành vi xâm hại tình dục nói chung và xâm hại tình dục qua hình thức du lịch nói riêng.

Nhằm tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế như: Luật Trẻ em năm 2016; Luật Giáo dục năm 2019; Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em; Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 29/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình; Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 của Chính phủ về việc tăng cường các giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em; Quyết định số 2361/QĐ-TTg ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 363/QĐ-TTg ngày 08/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình; Quyết định số 21/2016/QĐ-TTg ngày 17/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế phối hợp liên ngành về phòng, chống bạo lực gia đình; Quyết định số 856/QĐ-TTg ngày 15/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban quốc gia về trẻ em; Quyết định số 1437/QĐ-TTg ngày 29/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc vì sự phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng giai đoạn 2018 - 2025… Ngoài ra, để phòng ngừa, đấu tranh đối với các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định các tội phạm như: Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 144), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 145), Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146), Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147).

2. Thực trạng và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch

Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất của tội phạm xuyên quốc gia là xâm hại tình dục trẻ em, thông qua mạng internet, qua việc sản xuất, truy cập và phát tán các ấn phẩm xâm hại tình dục trẻ em và qua hoạt động du lịch. Theo định nghĩa của Tổ chức Chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán trẻ em nhằm bóc lột tình dục (ECPAT International) thì xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch là việc các cá nhân sử dụng các chuyến du lịch nhằm mục đích quan hệ tình dục với trẻ em, có thể từ quốc gia này sang quốc gia khác hoặc từ các vùng địa lý khác nhau trong cùng một quốc gia. Một trong những “điểm đến” ưa thích của các đối tượng xâm hại tình dục trẻ em là khu vực Đông Nam Á, vì tập trung những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển nên chi phí du lịch và sinh hoạt ở các quốc gia này thường rẻ, tình hình chính trị ổn định, hệ thống pháp luật còn tương đối “lỏng lẻo”. Trong 11 nước Đông Nam Á, Thái Lan là nước chiếm tỷ lệ khá cao về tình trạng du lịch tình dục trẻ em. Theo số liệu nghiên cứu của Trường Đại học Chulalongkorn, Thái Lan (công bố năm 2020), có khoảng hơn 3,2 triệu người hoạt động mại dâm, trong đó có hơn 800.000 người dưới 18 tuổi. Những năm gần đây, Thái Lan đã siết chặt các hoạt động liên quan đến tình dục trẻ em, vì vậy, một số quốc gia như Campuchia, Việt Nam, Lào và Myanmar đang thu hút số lượng ngày một nhiều những kẻ xâm hại tình dục trẻ em, trở thành điểm đến thay thế của hoạt động phi pháp này.

Theo số liệu thống kê của Chính phủ[3] cho thấy: Số lượng trẻ em trên toàn quốc hiện nay là 24.776.773 em (trong đó, nam là 12.915.365 em; nữ là 11.861.368 em) và số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 1.773.112 em (chiếm 7,16 %). Toàn quốc có khoảng 91,7% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông đang được đi học (mầm non có 4.922.383 em; tiểu học có 8.482.556 em; trung học cơ sở có 5.440.976; trung học phổ thông có 2.548.878 em); có 8,3% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng hiện không đi học (7,7% trẻ em đã thôi học; 06% trẻ em chưa bao giờ đi học; tỷ lệ này của nữ cao hơn của nam)[4]. Trong đó, có 1,75 triệu trẻ em (chiếm 9,6%) trong độ tuổi từ 05 đến 17 tuổi được xác định là lao động trẻ em, 175.000 trẻ em không đi học, 8.200 trẻ em chưa từng đi học. Theo Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì hiện nay, toàn quốc có khoảng 7.000 em gái dưới 16 tuổi đang hoạt động mại dâm, chiếm 15% tổng số gái bán dâm. Trong số đó, có khoảng 40% số em gái bị đẩy vào thị trường mại dâm là do trước đó các em đã bị xâm hại tình dục và có tới 2/3 số em gái phải bán dâm trước 14 tuổi. Thực trạng các vụ xâm hại trẻ em gây thiệt hại về thể chất dưới các hình thức bạo lực xảy ra ngày càng nhiều và gây phẫn nộ trong dư luận, được xã hội đặc biệt quan tâm. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, từ năm 2015 đến năm 2022 đã xảy ra 6.364 vụ xâm hại tình dục với 6.432 nạn nhân. Tòa án các cấp đã đưa ra xét xử hơn 5.200 vụ với hơn 5.700 bị cáo[5]. Dư luận xã hội đang lên tiếng báo động về tình trạng số trẻ em bị hiếp dâm, bị cưỡng dâm, bị đẩy vào con đường mại dâm để phục vụ cho thị trường tình dục ngày càng tăng nhanh cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng.

Qua nghiên cứu thực tiễn, tác giả nhận thấy, các vụ xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch thường có nguyên nhân và điều kiện sau đây:

Thứ nhất, du lịch tình dục trẻ em gắn với khái niệm khách du lịch là người nước ngoài. Hoạt động này chưa phát triển thành xu hướng mà chỉ mới tồn tại ở một số địa bàn phát triển du lịch với những vụ việc đơn lẻ. Tuy nhiên, để có thể thực hiện hành vi mua dâm trẻ em thì cần phải có những đối tượng môi giới. Đây là những đối tượng người bản địa, thông thạo đặc điểm của địa phương, làm cầu nối môi giới đối tượng phạm tội đến với những nạn nhân.

Thứ hai, đối tượng trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục trong hoạt động du lịch chủ yếu là trẻ em nghèo, sống lang thang để bán đồ lưu niệm, đánh giày, bán báo, làm việc trong các cơ sở kinh doanh du lịch như hướng dẫn viên, nhà hàng ăn uống, quán cà phê, karaoke… Trẻ có thể bị xâm hại ngay tại địa bàn thường xuyên sinh sống hoặc cũng có thể bị đưa ra ngoài địa bàn, qua Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc…

Thứ ba, xuất phát từ sự nghèo đói, sự buông lỏng trong quản lý và giáo dục trẻ em từ phía gia đình và nhà trường: Nhiều cha, mẹ còn thiếu sự quan tâm, thiếu kỹ năng giáo dục và bảo vệ con; nhà trường cũng còn hạn chế trong việc giáo dục cho các em kỹ năng nhận biết và phòng ngừa loại tội phạm này. Bên cạnh đó, sự lỏng lẻo và một số bất cập trong quy định của pháp luật cũng làm cho tình trạng xâm hại tình dục trẻ em gia tăng.

Thứ tư, cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cơ sở còn thiếu và yếu. Theo quy chuẩn quốc tế, cứ 2.000 dân sẽ có một cán bộ chuyên trách công tác xã hội, trong khi đó, ở Việt Nam, 10.000 dân mới có một người kiêm nhiệm công tác xã hội.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch

Tại Việt Nam, việc phối hợp, hợp tác phòng, chống tội phạm du lịch tình dục trẻ em là lĩnh vực khá mới mẻ, tuy nhiên, Việt Nam là một trong những nước “ứng xử” nhanh nhất với nạn du lịch tình dục. Một số hoạt động của Việt Nam trong việc chống du lịch tình dục trẻ em có sự tăng cường hợp tác quốc tế cũng như tham gia các dự án quốc tế về chống mua bán người. Để nâng cao hiệu quả phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiến hành một số biện pháp theo hướng:

Một là, tích cực tham gia dự án về phòng, chống loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch do Bộ Công an phối hợp với Cơ quan Phòng, chống tội phạm và ma túy của Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNODC) xây dựng. Hiện nay, Việt Nam chưa có lực lượng Cảnh sát du lịch chuyên biệt để phát hiện và xử lý những đối tượng có hành vi xâm hại tình dục với trẻ em, vì vậy, trong thời gian tới, để phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này, đồng thời nâng cao năng lực cho lực lượng trực tiếp điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em thông qua du lịch, cần thiết phải có một lực lượng Cảnh sát du lịch để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm này.

Hai là, bảo đảm khung pháp luật đáp ứng các chuẩn mực quốc tế để truy tố tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch. Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan cần phối hợp nghiên cứu, soạn thảo các văn bản pháp luật về phòng, chống du lịch tình dục trẻ em. Bên cạnh đó, Bộ Công an cần tăng cường năng lực xác định, bắt giữ, truy tố hiệu quả tội phạm du lịch tình dục trẻ em, kết hợp với Interpol để bảo đảm rằng tội phạm sẽ bị xác định, điều tra, bắt giữ, truy tố và nạn nhân là trẻ em sẽ được hỗ trợ một cách thích hợp.

Ngoài ra, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về bảo đảm sự thống nhất nội hàm của khái niệm “người dưới 18 tuổi” và “trẻ em”. Để hài hòa giữa luật pháp quốc tế và Việt Nam trong xu thế hội nhập, việc xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi là cần thiết. Tuy nhiên, việc thống nhất hai khái niệm này trong hệ thống pháp luật Việt Nam là một vấn đề hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều chủ trương, chính sách hiện hành, do vậy, cần có lộ trình nghiên cứu, rà soát, đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật cũng như sự ảnh hưởng của nó khi thực hiện việc nhất thể hóa hai khái niệm này.

Ba là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức trong cộng đồng về phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch. Xây dựng kế hoạch liên ngành phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch giữa Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ngành Công an nhằm huy động sự tham gia, phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và toàn xã hội trong việc phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch ở các tỉnh, thành phố có nhiều điểm du lịch nổi tiếng.

Bốn là, tăng cường biên chế cán bộ làm công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại cơ sở. Có chế độ đãi ngộ và chính sách tiền lương hợp lý để họ an tâm công tác. Bên cạnh đó, triển khai mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho các cán bộ làm công tác này để bảo đảm năng lực, đáp ứng được yêu cầu đối với nhiệm vụ được giao.

TS. Lê Tiến Hoàng

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. United Nations (1989). “Convention on the Rights of the Child”, http://www.unicef.org.uk/wp-content/uploads/2010/05/UNCRC_united_nations_convention_on_the_rights_of_the_child.pdf.

[2]. UN (2019), Guidelines regarding the implementation of the Optional Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the sale of children, child prostitution and child pornography.

[3]. Báo cáo số 217/BC-CP ngày 14/5/2020 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em.

[4]. Tổng cục Thống kê, Báo cáo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2020.

[5]. Tổng hợp từ Báo cáo số 401/BC-CP ngày 12/10/2021 của Chính phủ về thực hiện Nghị quyết số 121/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em; Báo cáo số 217/BC-CP ngày 14/5/2020 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em.

Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 376), tháng 3/2023

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: