Chủ nhật 15/03/2026 08:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế - Những thách thức đối với Chính phủ Việt Nam

Tóm tắt: Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS) đã được ghi nhận trong pháp luật đầu tư và các hiệp định về đầu tư quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia. Bài viết đề cập và nhận diện các yếu tố trong tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ Việt Nam, các thách thức pháp lý và thực tế mà Chính phủ phải đối mặt trong các vụ kiên đầu tư quốc tế.

Abstract: The mechanism for dealing with the Investor State Dispute Settlement (ISDS) has recognized in investment law and in the international investment agreements that Vietnam has signed and adhered to. This article mentions and identifies the components in the disputes between foreign investors and Vietnamese Government, legal and practical challenges the Government have to face as well.

Trên thế giới, tranh chấp đầu tư quốc tế, còn gọi là tranh chấp giữa các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) với Chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư về những vấn đề liên quan đến thực thi các cam kết với NĐTNN. Đây là một loại tranh chấp rất đặc thù phát sinh trong quan hệ hợp tác giữa các quốc gia về đầu tư kinh doanh và đang ngày càng gia tăng về số lượng cũng như tính chất phức tạp của các vụ việc do sự bùng nổ về các hiệp định cam kết bảo hộ đầu tư song phương và đa phương hoặc những hiệp định tự do thương mại có chứa đựng các cam kết bảo hộ đầu tư giữa các quốc gia trên thế giới. Việt Nam mở cửa tiếp nhận đầu tư nước ngoài từ năm 1987 và tính đến nay, chúng ta đã là thành viên của nhiều thiết chế kinh tế thế giới và khu vực, tham gia, ký kết và tiếp tục đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do đa phương và hiệp định song phương về bảo hộ đầu tư (BIT). Điều này, một mặt mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các tổ chức cá nhân trong nước, thúc đẩy Chính phủ tiến hành cải cách thể chế kinh doanh, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, mặt khác, cũng bộc lộ những thách thức mà Chính phủ Việt Nam đang phải đối mặt, như phải chấp nhận những quy tắc giải quyết tranh chấp (GQTC) đầu tư quốc tế vượt ra khỏi chủ quyền quốc gia, những hậu quả pháp lý và thực tế bất lợi…

1. Tranh chấp đầu tư quốc tế và tác động của cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế ở Việt Nam

Tranh chấp giữa NĐTNN và Chính phủ là một hiện tượng xuất hiện khi phong trào hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực lan rộng dẫn đến sự ra đời của một loạt các BIT và Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa các quốc gia. Các hiệp định này ghi nhận thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều quốc gia về việc giành cho nhau các ưu đãi và các điều kiện thuận lợi cho các NĐTNN đến từ các nước tham gia hiệp định. Các NĐTNN có quyền kiện Chính phủ sở tại ra Trọng tài quốc tế trên cơ sở thỏa thuận trong BIT hay FTA.

Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 2 của Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp (GQTC) đầu tư quốc tế ban hành kèm theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ, tranh chấp đầu tư quốc tế là tranh chấp phát sinh từ việc NĐTNN kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước (gọi chung là cơ quan nhà nước) dựa trên cơ sở các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (gọi chung là hiệp định bảo hộ đầu tư), hoặc các hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước Việt Nam và NĐTNN dưới các hình thức PPP, BCC, BOT, BT… trong các hiệp định và hợp đồng này có quy định cơ quan GQTC phát sinh là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền.

Theo khoản 4 Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014, thì “tranh chấp giữa NĐTNN và Chính phủ, cụ thể là với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài Việt Nam hoặc Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp có thỏa thuận khác theo hợp đồng hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác”. NĐTNN là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam (khoản 4 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014), hoặc là “những tổ chức, cá nhân đáp ứng các tiêu chí về nhà đầu tư nước ngoài theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” (khoản 2 Điều 2 Quy chế phối hợp trong GQTC đầu tư quốc tế). Cũng theo Quy chế này, Bộ Tư pháp là cơ quan chủ trì GQTC đầu tư quốc tế phát sinh khi nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ Việt Nam trên cơ sở hiệp định bảo hộ đầu tư. Trường hợp tranh chấp có liên quan đến hợp đồng giữa Chính phủ và NĐTNN, cơ quan nhà nước được Chính phủ giao chủ trì đàm phán hoặc thay mặt Chính phủ ký hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ với NĐTNN sẽ là cơ quan chủ trì giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế phát sinh trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận đó. Ngoài ra, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan đến vụ kiện được gọi là cơ quan phối hợp và có trách nhiệm tham gia giải quyết trong từng vụ kiện cụ thể.

Tính đến đầu năm 2017, Việt Nam ngoài tham FTA với tư cách là thành viên WTO, đã ký 10 FTA, bao gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)[1], đang đàm phán 04 FTA trong đó có Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)[2] và ký kết hơn 60 BIT liên quan đến bảo hộ đầu tư với các quốc gia trên thế giới[3]. Hầu hết các hiệp định liên quan đến bảo hộ đầu tư nói trên, đặc biệt là các FTA thế hệ mới luôn chứa đựng các điều khoản ISDS[4]. Theo thông lệ quốc tế, các điều khoản này thường được thiết kế theo một công thức chung là:

- Các bên sẽ thương lượng và hòa giải trong một thời gian theo thỏa thuận kể từ ngày tranh chấp xảy ra; cố gắng dùng con đường ngoại giao để giải quyết tranh chấp.

- Trong trường hợp thương lượng, hòa giải không thành, NĐTNN có quyền đưa vụ việc ra xét xử tại Trung tâm quốc tế giải quyết các tranh chấp về đầu tư (ICSID)[5], hoặc một trọng tài quốc tế ad hoc được thành lập theo Quy tắc Trọng tài của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại (UNCITRAL) trong trường hợp các Chính phủ hai bên đều là thành viên. Phán quyết của các tổ chức này là chung thẩm và có giá thị bắt buộc thi hành.

Nhìn nhận một cách công bằng, cơ chế ISDS sẽ tác động tích cực đến Việt Nam dưới một số phương diện như: Trước nguy cơ có thể bị NĐTNN khởi kiện, Chính phủ Việt Nam, các cơ quan chức năng sẽ thận trọng cân nhắc kỹ lưỡng các điều khoản trong các thỏa thuận bảo hộ đầu tư, các hợp đồng, cũng như có sự chuẩn bị chu đáo để đối mặt với các khiếu nại và vụ kiện phát sinh để hạn chế đến mức tối đa những hậu quả pháp lý bất lợi. Quy chế về phối hợp GQTC đầu tư quốc tế năm 2014 đã cho thấy, Chính phủ đã có sự phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan chức năng trong GQTC đầu tư quốc tế. Theo nhận định của các chuyên gia, mặc dù các quy định pháp luật về đầu tư kinh doanh và các lĩnh vực có liên quan của nước ta là khá đầy đủ so với các nước trên thế giới, nhưng điểm yếu của chúng ta là thực thi pháp luật còn kém hiệu quả[6], cơ chế ISDS cũng tạo ra sức ép để các cơ quan chức năng, các chính quyền địa phương cải cách hành chính, thực thi thỏa thuận đầu tư quốc tế một cách nghiêm túc nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của NĐTNN, hạn chế tranh chấp. ISDS cũng tạo ra sức ép để Tòa án và Trọng tài quốc tế Việt Nam nâng cao kiến thức về pháp luật kinh doanh và năng lực tranh tụng quốc tế để tham gia giải quyết hiệu quả trong các vụ kiện đầu tư quốc tế để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia.

2. Những thách thức Việt Nam phải đối mặt trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Mặc dù ISDS có tác dụng nhất định trong thúc đẩy minh bạch hóa và cải thiện môi trường kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư, nhưng nó cũng đặt Chính phủ Việt Nam trước những thách thức pháp lý và thực tế sau:

Một là, xu thế ngày gia tăng các vụ kiện đầu tư quốc tế

Trong bối cảnh Việt Nam tham gia rất nhiều FTA và BIT, hầu hết trong số các hiệp định này đều chứa đựng điều khoản ISDS, rõ ràng khả năng gia tăng các vụ NĐTNN kiện Chính phủ là một nguy cơ hiện hữu. Theo các chuyên gia, các FTA thế hệ mới Việt Nam đã và đang đàm phán với những cam kết hợp tác sâu rộng trên rất nhiều lĩnh vực thương mại và phi thương mại làm tăng cơ hội hợp tác kinh tế. Tuy nhiên, với thực tiễn thực thi chính sách, pháp luật liên quan đến các thỏa thuận đầu tư quốc tế ở các địa phương chưa có sự thống nhất và hiệu quả không đồng đều, thì khả năng gia tăng các vụ tranh chấp đầu tư quốc tế do NĐTNN kiện cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương là rất lớn[7].

Hai là, năng lực tranh tụng quốc tế còn hạn chế dẫn đến khả năng thắng kiện chưa cao

Có một thực tế là, NĐTNN thường không mặn mà với việc khởi kiện tại Tòa án và trọng tài của nước sở tại mà có xu hướng chọn trọng tài quốc tế. Hiện tượng này có nguyên nhân sâu xa từ định kiến mang tính phổ biến rằng, các cơ quan xét xử này dễ thiên vị đối với Chính phủ sở tại. Thêm nữa, không thể phủ nhận rằng, nhiều Trung tâm trọng tài quốc tế trong khu vực châu Á như HKIAC (Hong Kong), SIAC (Singapore ), JCAA (Nhật Bản)… đã thiết lập được danh tiếng lâu đời, tạo ra sự tin tưởng và sức hút đối với các NĐTNN hơn là các Tòa án và trọng tài quốc tế trong nước. Có thể nói rằng, năng lực tranh tụng quốc tế còn hạn chế cũng là một trong những lý do dẫn đến khả năng thắng kiện của phía Chính phủ Việt Nam là không lớn[8].

Ba là, hậu quả của các vụ kiện đầu tư quốc tế đối với Việt Nam

Việt Nam chưa phải là thành viên của ICSID nên hầu hết các vụ kiện này được tiến hành tại các trọng tài quốc tế hoạt động theo nguyên tắc của UNCTRAL. Với tư cách bị đơn, Chính phủ Việt Nam sẽ đối diện với nhiều phiền phức, đó là chi phí lớn cho vụ kiện, thời gian đeo đuổi vụ kiện lâu dài và quan trọng hơn cả là mỗi lần thua kiện, Việt Nam sẽ để lại ấn tượng không tốt với các quốc gia khác và các NĐTNN về môi trường pháp lý kinh doanh không minh bạch và việc thực thi kém hiệu quả các cam kết quốc tế. Thậm chí, các cơ quan chức năng ở địa phương có thể trở thành mục tiêu kiện tụng để trục lợi từ các NĐTNN không lương thiện.

Tóm lại, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là một vấn đề phức tạp đối với các quốc gia nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các xung đột về quyền lợi dẫn đến tranh chấp xảy ra giữa NĐTNN với Chính phủ Việt Nam và các cơ quan nhà nước là điều khó tránh khỏi. Cơ chế ISDS mặc dù có tác dụng nhất định trong việc tạo ra sức ép thúc đẩy Chính phủ và các địa phương cải cách hành chính, minh bạch môi trường kinh doanh cho NĐTNN, nhưng cũng đặt Việt Nam trước nhiều thách thức pháp luật và thực tế, trong đó nguy cơ lớn nhất là sự gia tăng của các vụ kiện và khả năng thua kiện do năng lực tham gia tranh tụng quốc tế còn nhiều hạn chế. Do đó, để giảm thiểu các thiệt hại cho quốc gia, cần phải hạn chế tối đa các nguy cơ gây xung đột bằng cách tăng cường sự cẩn trọng và minh bạch trong ký kết các hiệp định thỏa thuận đầu tư quốc tế, các hợp đồng với NĐTNN và thực thi nghiêm túc thỏa thuận này. Khi có xung đột xảy ra, ngay từ giai đoạn tham vấn, hòa giải, các cơ quan chức năng cần giải quyết các xung đột phát sinh một cách chuyên nghiệp, kịp thời, hiệu quả để hạn chế căng thẳng leo thang thành tranh chấp. Khi tranh chấp đã xảy ra, cần phải có sự tích cực phối hợp tham gia giải quyết của các cơ quan chức năng cùng đội ngũ các luật sư có khả năng tranh tụng quốc tế và các chuyên gia về đầu tư kinh doanh quốc tế, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của quốc gia

TS. Phan Thị Thanh Thủy

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Tại liệu tham khảo:

[1]. TPP bao gồm 12 nước thành viên là Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia và Việt Nam, là một FTA thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng (bao gồm cả các vấn đề thương mại và phi thương mại) và mức độ cam kết cao nhất từ trước tới nay của Việt Nam. TTP được ký kết ngày 04/02/2016 dưới thời Tổng thống Mỹ Barack Obama. Ngày 21/01/2017, Tổng thống Donald Trump lên nhậm chức và tuyên bố Mỹ rút khỏi TTP. Hiện nay các quốc gia còn lại đang cân nhắc kế hoạch đàm phán lại TTP.

[2]. EVFTA là một FTA thế hệ mới giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU, tương tự TPP, EVFTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết rất cao. EVFTA đã chính thức kết thúc đàm phán ngày 01/12/2015. Hiện tại, hai bên đang tiến hành rà soát lại văn bản hiệp định và lên kế hoạch ký kết.

[3]. Xem chi tiết nội dung các FTA và BIT mà Việt Nam tham gia, ký kết, đang đàm phán tại website của Trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại http://www.trungtamwto.vn.

[4]. ISDS cho phép nhà đầu tư có thể tiến hành khởi kiện Chính phủ của nước sở tại ra một Tòa án quốc tế (dưới dạng hội đồng trọng tài) nếu nhà đầu tư chứng minh được những quy định của Chính phủ sở tại làm “ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh” của họ. Cơ chế này được phát triển dưới dạng các điều khoản trong hiệp ước đầu tư song phương (BIT) hoặc các chương bảo hộ đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương.

[5]. ICSID được thành lập theo Công ước về giải quyết tranh chấp đầu tư giữa các quốc gia và công dân của các quốc gia khác (gọi tắt là Công ước ICSID) được soạn thảo bởi Ngân hàng Thế giới (WB) năm 1965.

[6]. Ngọc Linh, Nhà đầu tư khởi kiện Chính phủ: Đối diện với cam kết TTP, Báo Diễn đàn Doanh nghiệp, số ra ngày 03/7/2016.

[7]. Bạch Thị Nhã Nam, Vào TPP, tránh nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 23/01/2016.

[8]. Trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2013, chúng ta đã phải đối mặt với 16 vụ kiện đầu tư quốc tế, trong đó chỉ có một vụ Chính phủ thắng kiện nhà đầu tư Mỹ Michael McKenzie. Xem Phạm Thị Hải Chi, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế: Không dễ, tại http://viac.vn/tin-tuc/giai-quyet-tranh-chap-dau-tu-quoc-te:-khong-de-a255.html (truy cập 05/01/2017).

In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam khi trọng tài nước ngoài giải quyết tranh chấp tại Việt Nam Khung pháp lý về mua lại và sáp nhập Ngân hàng thương mại ở Việt Nam Quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất đô thị và hướng hoàn thiện Một số bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành Định giá tài sản theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại năm 2005 Địa vị pháp lý của Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo pháp luật phá sản Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: