Thứ ba 17/03/2026 21:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giám sát hoạt động tư pháp của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong hai cơ quan trọng yếu của chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay. Theo Luật Tổ chức HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND) năm 2003, HĐND quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, việc thực hiện Nghị quyết của HĐND và thi hành pháp luật ở địa phương. Như vậy, giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND.

1. Thực trạng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với hoạt động tư pháp

Hiện nay, “giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với hoạt động tư pháp” là một cụm thuật ngữ chưa được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND. Bản thân khái niệm “hoạt động tư pháp” cũng chứa đựng nhiều vấn đề còn đang tranh cãi. Có quan điểm cho rằng, khái niệm “hoạt động tư pháp” chỉ bao gồm hoạt động xét xử của Tòa án; có quan điểm cho rằng, “hoạt động tư pháp” bao gồm quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp; quan điểm khác lại cho rằng, “hoạt động tư pháp” còn bao gồm cả việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan trên lĩnh vực này. Mặc dù vậy, trên cơ sở các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND hiện hành, có thể hiểu giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với hoạt động tư pháp được hiểu là giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư pháp, tổ chức bộ máy của các cơ quan tư pháp; giám sát hoạt động của UBND, Công an, Toà án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp trong việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở địa phương liên quan đến lĩnh vực tư pháp; giám sát việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng.

Về mặt thực tiễn, sau khi Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 được ban hành, HĐND các cấp trong cả nước đã có nhiều đổi mới về tổ chức và hoạt động nên hiệu lực, hiệu quả được nâng lên rõ rệt. HĐND cấp tỉnh đã dành nhiều thời gian cho việc xem xét, thảo luận các báo cáo về hoạt động tư pháp; chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp có nội dung liên quan đến hoạt động tư pháp đã được chú trọng. Nội dung giám sát chuyên đề về hoạt động tư pháp được chọn lọc kỹ hơn, tập trung vào những vấn đề lớn, nổi cộm, bức xúc được đông đảo cử tri quan tâm và ủng hộ. Sau mỗi cuộc giám sát, HĐND cấp tỉnh đều có thông báo kết quả giám sát đến UBND, Công an, TAND, VKSND và các cơ quan, ban ngành, địa phương có liên quan. Các báo cáo kết quả giám sát trong hoạt động tư pháp đánh giá sát tình hình thực tế, đưa ra nhiều kiến nghị xác đáng có tác động tích cực, giúp các đối tượng chịu sự giám sát phát huy ưu điểm, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế.

Tuy nhiên, trong quá trình giám sát hoạt động tư pháp, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Nội dung giám sát chưa trọng tâm, chọn đối tượng giám sát chưa phù hợp; hình thức giám sát chủ yếu chỉ nghe báo cáo bằng văn bản, thiếu khảo sát, kiểm tra, đối chứng thực tế; thời gian giám sát quá ít, thường bố trí một buổi nên khó phát hiện được vấn đề; việc mời chuyên gia tư pháp tham gia các buổi giám sát còn rất hạn chế; thành viên Ban Pháp chế HĐND cấp tỉnh ít tham gia hoạt động giám sát; một số đối tượng được giám sát chưa thực sự đồng tình, ủng hộ, thậm chí còn cho rằng giám sát là tìm khuyết điểm, gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành của họ; chưa thường xuyên theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết các kết luận sau giám sát liên quan đến hoạt động tư pháp; chưa có quy định chế tài đủ mạnh đối với hành vi không thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, trong phạm vi bài viết này, tôi xin nêu ra một số yêu cầu và giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát tư pháp của HĐND cấp tỉnh trong thời gian tới.

2. Những yêu cầu đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát hoạt động tư pháp của HĐND cấp tỉnh

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò hoạt động giám sát của HĐND: Cấp ủy Đảng các cấp nhận thức đúng vai trò của hoạt động giám sát của HĐND để có chủ trương, đường lối cụ thể trong lãnh đạo hoạt động của HĐND, tạo điều kiện cho HĐND các cấp hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND cần nhận thức đúng đắn vai trò hoạt động giám sát của HĐND để tự tin tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động giám sát trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình. UBND, TAND, VKSND, Công an, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân chịu sự giám sát cần nhận thức đúng đắn vai trò của hoạt động giám sát tư pháp của HĐND để thực hiện nghiêm túc những yêu cầu đặt ra của chủ thể giám sát. Trên cơ sở đó, phát huy những kết quả đạt được, tiếp thu, sửa chữa những thiếu sót, hạn chế với tinh thần cầu thị để cơ quan, đơn vị mình ngày càng tốt hơn, chính quyền ngày càng mạnh hơn.

Hai là, tăng cường tính thường xuyên, có kế hoạch trong hoạt động giám sát của HĐND nói chung và Ban Pháp chế HĐND cấp tỉnh nói riêng: Giám sát của HĐND bao gồm giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các Ban HĐND và giám sát của đại biểu HĐND. Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh phải được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Do vậy, phải có chương trình giám sát hằng năm của HĐND; chương trình giám sát hằng năm, hằng quý của Ban Pháp chế HĐND. Đối với từng nội dung giám sát, cần phải có kế hoạch chi tiết nêu rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng giám sát, thành phần đoàn giám sát, thời gian, địa điểm và phương pháp tiến hành giám sát.

Ba là, giám sát hoạt động tư pháp của HĐND cấp tỉnh phải tôn trọng sự thật khách quan và phải tiến hành theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật: Thực tế sự việc, hiện tượng diễn ra được ghi nhận, đánh giá đúng bản chất, không bóp méo sự thật, không được suy diễn tô hồng hoặc bôi đen sự vật, hiện tượng, nâng quan điểm để quá đề cao vai trò hoặc làm mất uy tín của tập thể, cá nhân chịu sự giám sát. Không nên lấy ý kiến chủ quan cá nhân để áp đặt cho thực tế hoạt động của cơ quan chịu sự giám sát. Làm như vậy, không những gây tác hại cho đối tượng chịu sự giám sát, cho xã hội mà còn làm cho việc ra Nghị quyết của HĐND không chính xác, thiếu khả thi và phương hại đến uy tín của HĐND. Để đảm bảo yêu cầu đánh giá sát đúng tình hình, tôn trọng sự thật khách quan, đòi hỏi hoạt động giám sát của Ban Pháp chế HĐND cấp tỉnh phải thu thập đầy đủ các thông tin nhiều chiều, phải nắm chắc các quy định của pháp luật, các thông tin về tình hình thực tiễn và có sự hiểu biết sâu sắc cả về chuyên môn lẫn khoa học.

Bốn là, giám sát hoạt động tư pháp phải mang lại hiệu quả thiết thực đối với xã hội: Giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Công an, TAND, VKSND cùng cấp không chỉ dừng lại ở việc nghe báo cáo, dựa trên cơ sở vài ý kiến chung chung, xuôi chiều mà đòi hỏi phải tỏ rõ quan điểm, có lý lẽ xác đáng về những vấn đề nhất trí, không nhất trí với nội dung báo cáo đã nêu. Giám sát thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn không chỉ dừng lại ở việc hỏi cho có hỏi, trả lời cho qua; mà đòi hỏi người chất vấn phải đặt vấn đề cho đúng, người trả lời chất vấn phải trả lời cho trúng, khi chưa đúng và chưa trúng thì phải có tranh luận để làm sáng tỏ vấn đề. Giám sát thông qua hình thức thành lập Đoàn giám sát, không phải chỉ dừng lại việc sau giám sát, có một báo cáo đánh giá thật hay mà đòi hỏi phải có những đánh giá đúng tình hình, giúp cơ quan, đơn vị chịu sự giám sát tự nhìn nhận lại việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương mình, từ đó phát huy những mặt tốt, khắc phục những yếu kém để ngày càng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao tốt hơn.

3. Các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát hoạt động tư pháp của HĐND cấp tỉnh

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; đổi mới, nội dung phương thức lãnh đạo đối với hoạt động của HĐND nói chung và hoạt động giám sát của HĐND nói riêng: Trong thể chế chính trị: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” đang thực hiện ở nước ta, thì mọi hoạt động của HĐND đều phải dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng. Chính vì vậy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định, đảm bảo nâng cao năng lực, hiệu quả đối với giám sát hoạt động tư pháp của HĐND cấp tỉnh hiện nay. Tăng cường lãnh đạo đối với công tác cán bộ của HĐND ngay từ khi định hướng giới thiệu đại biểu HĐND; bố trí cán bộ có phẩm chất, có năng lực thực tiễn, có uy tín, tăng cường số lượng cấp ủy cho các chức danh chuyên trách của HĐND. Có quy hoạch đối với đội ngũ cán bộ làm công tác HĐND, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển đội ngũ cán bộ này.

Đối với việc giám sát hoạt động tư pháp ở địa phương, cấp ủy Đảng cần nghe và nghiên cứu báo cáo thẩm tra, tham khảo những ý kiến phản biện của HĐND để có được thông tin đa chiều trước khi cân nhắc quyết định. Làm được như vậy, các chủ trương, đường lối mà cấp ủy Đảng đưa ra chắc chắn sẽ được đảm bảo hơn về cơ sở pháp lý, về tính thực tiễn bởi đã có sự thẩm tra của HĐND. Thông qua đó, giảm bớt được tính hình thức, tăng cường hiệu lực giám sát của HĐND; tăng cường mối quan hệ giữa cấp ủy Đảng với cơ quan dân cử chính là tạo nên sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân thông qua tổ chức đại diện cho nhân dân là HĐND các cấp. Thực tiễn cho thấy, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với hoạt động của HĐND ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước thời gian qua đã chứng minh sinh động điều này.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của HĐND cấp tỉnh, tạo điều kiện cần thiết, bảo đảm cho việc giám sát hoạt động tư pháp của HĐND cấp tỉnh có thực chất, thực quyền. Nhằm đáp ứng yêu cầu đề ra, Thường trực HĐND cấp tỉnh cần được kiện toàn theo hướng: Thường trực HĐND gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên. Chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách, là Phó Bí thư Tỉnh ủy; các Phó Chủ tịch HĐND là hoạt động chuyên trách, đều là Tỉnh ủy viên, trong đó đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực HĐND phải là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các Ủy viên là Trưởng các Ban HĐND hoạt động chuyên trách và Chánh Văn phòng giúp việc HĐND cấp tỉnh.

Để giúp HĐND giám sát hoạt động tư pháp có thực chất hơn, phải đảm bảo số lượng và chất lượng đối với Ban Pháp chế HĐND cấp tỉnh. Trong nhiệm kỳ đến, cần bố trí cả Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và từ 01- 02 Ủy viên hoạt động chuyên trách. Số lượng thành viên Ban Pháp chế nên bố trí từ 9 - 11 thành viên; cơ cấu thành viên Ban theo hướng tăng đại biểu cơ quan Đảng, đoàn thể và các chuyên gia có năng lực hoạt động thực tiễn, nhiệt tình và tâm huyết.

Bên cạnh đó, thường xuyên củng cố và nâng cao vai trò của Tổ đại biểu HĐND cấp tỉnh theo hướng: Các đại biểu HĐND được bầu trong một huyện hợp thành Tổ đại biểu HĐND với số lượng từ 5 đến 7 người; có Tổ trưởng, Tổ phó; được HĐND cùng cấp giao định mức kinh phí để hoạt động. Tổ đại biểu HĐND có nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan tổ chức để đại biểu HĐND tiếp xúc cử tri; tổ chức việc tiếp công dân của đại biểu HĐND; tổ chức để đại biểu HĐND thực hiện chức năng giám sát; phân công đại biểu HĐND trong Tổ tham gia Đoàn giám sát của Thường trực HĐND, các Ban HĐND...

Kiện toàn bộ máy Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh: Quy định lại cơ cấu các phòng trực thuộc không theo đầu mối cơ quan phục vụ như hiện nay mà phải gắn với lĩnh vực chuyên môn. Cụ thể gồm: Phòng Nội chính; Phòng Kinh tế - Ngân sách; Phòng Văn hóa - Xã hội; Phòng Dân tộc - Tôn giáo (đối với các địa phương có đủ tiêu chí thành lập); Phòng Thông tin - Dân nguyện; Phòng Hành chính - Tổ chức - Quản trị.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh bằng việc ban hành một Luật về hoạt động giám sát của HĐND và tập trung vào những vấn đề: Định nghĩa rõ ràng về hoạt động giám sát của HĐND, trong đó có hoạt động giám sát tư pháp; quy định rõ ràng, cụ thể hơn về thẩm quyền đối với từng chủ thể giám sát của HĐND; chức năng giám sát; đối tượng chịu sự giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu và đại biểu HĐND nhằm khắc phục sự chồng chéo về thẩm quyền và đối tượng chịu sự giám sát; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; vấn đề tham gia giám sát của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND; các biện pháp đảm bảo hoạt động giám sát. Phân định mạch lạc thẩm quyền giám sát của các Ban HĐND, nhất là thẩm quyền của các Ban HĐND có lĩnh vực giao thoa nhau để khắc phục tình trạng chồng chéo. Quy định rõ ràng hơn về trình tự giám sát cũng như hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát do HĐND thực hiện. Xác định cụ thể chế tài xử lý đủ mạnh để hoạt động giám sát của HĐND là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước thực sự;. Cụ thể hóa sự phối hợp giữa hoạt động giám sát của HĐND với hoạt động giám sát của các cấp ủy Đảng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các đoàn thể chính trị - xã hội.

Thứ tư, đổi mới phương thức thực hành quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh: Trước hết, đối với đại biểu HĐND phải hiểu rõ mục đích của việc chất vấn; đồng thời, tránh cả hai khuynh hướng: không muốn, không dám thực hiện quyền chất vấn, vì ngại “va chạm” hoặc thực hiện quyền chất vấn một cách không khách quan, không vì công việc chung với thái độ hằn học, "bới móc" khuyết điểm, hạn chế cơ quan, tổ chức, cá nhân bị chất vấn, làm cho không khí diễn đàn kỳ họp HĐND "nóng" lên một cách không cần thiết. Suy cho cùng, chất lượng hoạt động chất vấn phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của người đại biểu HĐND. Do đó, yêu cầu đặt ra là người đại biểu HĐND phải có trình độ hiểu biết, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tình hình thực tiễn của địa phương, nhất là đối với vấn đề mà mình chất vấn; đồng thời, phải có tâm huyết, bản lĩnh cao, dám hỏi và hỏi đến cùng vấn đề mà mình nêu ra; phải hết sức cầu thị, nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, cụ thể, khách quan, tất cả vì mục tiêu chung là sự phát triển của địa phương.

Đối với Thường trực HĐND - Chủ tọa kỳ họp có vai trò rất quan trọng trong phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn. Để người bị chất vấn chủ động hơn trong việc chuẩn bị nội dung trả lời chất vấn, Thường trực HĐND nên tập hợp, phân tích, dự kiến những nội dung cần phải trả lời tại kỳ họp, những nội dung đề nghị HĐND cho trả lời bằng văn bản (là những nội dung cần điều tra, xác minh làm rõ), dự kiến người phải trả lời chất vấn rồi gửi ngay đến cho họ trước khi khai mạc kỳ họp. Trong quá trình điều hành, Chủ tọa kỳ họp phải linh hoạt, nhạy bén, xử lý tình huống nhanh để phiên chất vấn diễn ra đúng trình tự, thời gian quy định. Đồng thời, Chủ tọa phải tạo ra được bầu không khí dân chủ, tranh luận công khai, thẳng thắn nhưng không làm cho phiên họp chất vấn "nóng lên" hoặc nguội lạnh, kém sôi nổi và phải trên tinh thần tôn trọng, biết lắng nghe từ hai phía người chất vấn và người bị chất vấn. Trong trường hợp có nhiều ý kiến khác nhau thì Thường trực HĐND phải hội ý nhanh để có chính kiến, quan điểm của mình đối với những nội dung khác nhau đó hoặc kiến nghị HĐND xem xét, ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn. Sau khi kết thúc phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn, Chủ tọa kỳ họp phải thay mặt HĐND, có kết luận, nêu rõ nhận xét, đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm, những nội dung cần rút kinh nghiệm đối với người chất vấn và người trả lời chất vấn, chốt lại những vấn đề trọng tâm và phân công theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện “lời hứa” của người bị chất vấn.

ThS. Trần Văn Tân

Phó Bí thư Huyện ủy huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003;

2. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004;

3. Trần Văn Tân (2011), Năng lực quyết định và hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh, HĐND cấp xã trên địa bàn tỉnh Quảng Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Đề tài khoa học cấp tỉnh;

4. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005), Quy chế hoạt động của HĐND ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02/4/2005;

5. TS. Lê Thanh Vân, Cơ sở pháp lý về quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với hoạt động tư pháp - Thực trạng và giải pháp, Tài liệu Hội thảo Nâng cao năng lực thực hiện chức năng giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và HĐND cấp tỉnh đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp từ ngày 16 - 17/8/2010 tại thành phố Đà Nẵng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: