Thứ bảy 14/03/2026 10:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giám sát việc tuân theo Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều này có nghĩa tất cả cá nhân và tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật mà cao nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp. Bài viết đã nêu lên thực trạng pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay.

Trên thế giới, giám sát việc tuân theo Hiến pháp (viết tắt là giám sát Hiến pháp) được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách làm chức năng giám sát hoặc công việc này được giao cho hệ thống các cơ quan tư pháp. Ở Việt Nam theo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Việc giám sát Hiến pháp cũng khác với các nước trên thế giới và được giao cho nhiều cơ quan nhà nước, việc giám sát cao nhất là Quốc hội.

1. Pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam

Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều trao cho Quốc hội quyền hạn giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp.

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, sau đó là Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định rất nhiều chủ thể tham gia giám sát thi hành Hiến pháp và pháp luật gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Các chủ thể này tiến hành giám sát rất nhiều vấn đề liên quan đến ban hành, thi hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân… Tuy nhiên, xét ở tầm giám sát Hiến pháp, thì thẩm quyền này rõ ràng chỉ thuộc về Quốc hội. Quốc hội được quyền giám sát hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đối với các chủ thể khác, căn cứ vào các quy định về thẩm quyền Luật trao cho, thì rõ ràng, các chủ thể này chỉ tiến hành giám sát thực thi văn bản pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành một cách đơn thuần.

Về mặt lý thuyết, để đảm bảo hiệu lực cho hoạt động giám sát, chủ thể thực thi quyền giám sát nhất thiết phải có quyền tài phán nhất định đối với đối tượng chịu sự giám sát. Đối với giám sát Hiến pháp, đó có thể là khả năng tuyên bố vô hiệu một đạo luật, văn bản, hành vi vi hiến. Điều dễ nhận thấy, nội dung giám sát của Quốc hội mới chỉ dừng lại ở việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng không có bất cứ một quy định nào về trình tự thủ tục cũng như cơ chế đảm bảo cho việc thực thi hoạt động giám sát này.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng được quyền giám sát việc tuân thủ Hiến pháp. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 được thay thế bằng Luật năm 2014 cũng trao quyền giải thích pháp luật cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam bao gồm những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, do tập thể Quốc hội bầu ra, thực hiện nhiệm vụ mang tính chất hành chính sự vụ, chuẩn bị những thủ tục hành chính giữa các nhiệm kỳ, cuộc họp của Quốc hội. Nhưng theo quy định tại Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khá lớn. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quyền “quyết định triệu tập kỳ họp Quốc hội; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan hữu quan trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp; xem xét, cho ý kiến về việc chuẩn bị các dự án luật, dự thảo nghị quyết, các báo cáo và các dự án khác trình Quốc hội; xem xét báo cáo tổng hợp kết quả thảo luận của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội tại Đoàn đại biểu Quốc hội; dự kiến các vấn đề đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội; tổ chức và bảo đảm việc thực hiện chương trình kỳ họp Quốc hội, đề nghị Quốc hội điều chỉnh chương trình khi cần thiết; tổ chức để Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật, dự thảo nghị quyết và những nội dung khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Quốc hội báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước; đề xuất các vấn đề trình Quốc hội thảo luận, ra nghị quyết về việc giải quyết kiến nghị của cử tri; Quyết định các vấn đề khác liên quan đến kỳ họp Quốc hội”.

Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 cũng quy định “Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội, điều chỉnh chương trình giám sát của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập”[1]. Người ta sẽ đặt câu hỏi, liệu Ủy ban Thường vụ Quốc hội có phải cấp trên của Quốc hội? Bởi lẽ các quyền hạn này vốn thuộc thẩm quyền của Quốc hội - tập thể khoảng 500 đại biểu Quốc hội đại diện cho các cử tri trên cả nước.

Một điểm đáng chú ý trong hệ thống các đối tượng chịu sự giám sát của các chủ thể ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, cũng như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chính là việc Quốc hội dường như đứng ngoài hệ thống này. Điều này cũng có hợp lý, bởi theo quy định của Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam[2]. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong một môi trường Nhà nước pháp quyền thì tất cả quyền lực nhà nước đều phải được kiểm soát, kể cả đó là cơ quan dân cử, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quốc hội Việt Nam do nhân Việt Nam trực tiếp dùng lá phiếu bầu ra, đây là hình thức ủy quyền, trao quyền của nhân dân cho Quốc hội, nhưng không có nghĩa trao quyền mà không có sự giám sát. Quyền lực khi tập trung trong tay một cơ quan, thì luôn tiềm ẩn những nguy cơ tha hóa quyền lực, hay lạm dụng quyền lực. Do đó, với quy định hiện nay không có thiết chế nào làm nhiệm vụ chuyên trách giám sát tính hợp hiến đối với các hoạt động của Quốc hội - đây là một thiếu sót cần phải hoàn thiện trong thời gian tới.

Theo khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và khoản 6 Điều 6 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 thì “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội” là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với quy định đó, có thể nói cơ chế giám sát Hiến pháp và phán quyết vi phạm Hiến pháp ở nước ta trước hết và chủ yếu được giao cho Quốc hội bằng phương thức giám sát tối cao. Thực tiễn thực hiện phương thức giám sát này trong mối quan hệ với bảo vệ Hiến pháp còn bộc lộ một số điều bất hợp lý sau đây:

Một là, đối tượng giám sát tối cao nhằm bảo vệ Hiến pháp quy định không cụ thể. Vì thế, có người cho rằng với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có toàn quyền thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Người khác lại cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không có nghĩa Quốc hội có toàn quyền và do đó, giám sát tối cao không có nghĩa là giám sát đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội là các cơ quan do Quốc hội thành lập và cá nhân do Quốc hội bầu ra, phê chuẩn (hay nói cách khác là các cơ quan và cá nhân ở tầng cao nhất của bộ máy nhà nước) mới thuộc đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội. Đối tượng đó bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Bên cạnh đó, một thực tế ở Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể được trao quyền lực nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở lĩnh vực nhất định. Ví dụ: Việc ban hành Thông tư liên tịch giữa một Bộ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc đến nay vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Như vậy, đối tượng giám sát tối cao vẫn còn rất rộng so với tổ chức bộ máy, tính chất, chức năng và nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp của một quốc gia. Vì thế hiệu lực và hiệu quả giám sát Hiến pháp không cao.

Hai là, nội dung giám sát tối cao quy định cũng rất rộng và không rõ ràng. Hiến pháp cũng như Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành quy định: “Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước”[3]. Và vì giám sát tối cao hoạt động của nhà nước, nên nội dung giám sát tối cao bao gồm: Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát các hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này (giám sát việc tổ chức thực hiện Hiến pháp của các đối tượng giám sát này) và giám sát hành vi của các cá nhân có thẩm quyền do Quốc hội bầu và phê chuẩn bằng việc xem xét, đánh giá năng lực, trình độ và trách nhiệm của họ[4]. Như vậy, nội dung giám sát tối cao cũng quy định rất rộng, bất cập với tổ chức, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội nước ta làm cho giám sát tối cao của Quốc hội bị phân tán, cơ chế giám sát hiến pháp dàn trải kém hiệu quả;

Ba là, chế tài của giám sát tối cao quy định không được phân định rành mạch. Theo Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì chế tài giám sát tối cao thể hiện ý chí của Quốc hội bằng một hình thức văn bản gọi là nghị quyết. Nghị quyết đó có các nội dung sau đây:

- Căn cứ vào kết quả giám sát tối cao đối với các hoạt động của đối tượng giám sát tối cao, nội dung của Nghị quyết có thể là việc bổ sung, sửa đổi một hoặc một số điều luật nhằm khắc phục lỗ hổng về mặt pháp lý mà do bản thân lập pháp gây ra hoặc yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết một vụ việc nào đó để thi hành Hiến pháp;

- Căn cứ vào kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xem xét và thảo luận đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; nội dung của nghị quyết có thể tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp...

- Căn cứ vào kết quả trả lời chất vấn, chế tài giám sát tối cao có thể là một nghị quyết với nội dung thể hiện sự đánh giá của Quốc hội về trách nhiệm và năng lực của người bị chất vấn;

- Căn cứ vào kết quả giám sát, mà chế tài của giám sát tối cao có thể là một nghị quyết mà nội dung thể hiện kết quả bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm đối với một hay một số chức danh thuộc đối tượng giám sát tối cao có hành vi vi phạm Hiến pháp.

Với việc quy định các chế tài nói trên làm cho hoạt động bảo hiến không được phân định rành mạch, còn có sự lẫn lộn giữa lập pháp và tư pháp, làm cho Quốc hội rất khó thực hiện trong thực tế, dẫn đến việc sử dụng các chế tài giám sát rất khó khăn. Cho đến nay, Quốc hội chưa ra được một nghị quyết nào tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp của cá nhân hay cơ quan thuộc đối tượng giám sát của mình.

Bốn là, các cơ quan của Quốc hội bao gồm Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban đều có chức năng giám sát đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp nhằm bảo vệ Hiến pháp. Nhưng các hoạt động giám sát này đều mang tính chất kiến nghị. Chỉ trừ trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì mới có quyền đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội xem xét quyết định bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó. Thực tiễn hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội chỉ ra rằng các kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban chủ yếu là các kiến nghị về tổ chức thực hiện, không liên quan trực tiếp đến Hiến pháp. Vì thế, bảo vệ Hiến pháp bằng thiết chế các cơ quan của Quốc hội cũng không có hiệu lực và hiệu quả trực tiếp.

2. Kiến nghị một số hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

Một là, xác định cụ thể đối tượng chịu giám sát Hiến pháp là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành pháp và tư pháp ở Trung ương và những người đứng đầu các cơ quan này bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Trong một số trường hợp, có thể bao gồm tổ chức chính trị - xã hội được trao quyền quản lý nhà nước ở lĩnh vực nhất định. Như vậy sẽ tránh được dàn trải trong hoạt động giám sát thực thi Hiến pháp của Quốc hội.

Hai là, quy định rõ ràng, cụ thể nội dung giám sát Hiến pháp của Quốc hội là các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp: Các luật, các văn bản dưới luật (nghị định, chỉ thị, thông tư…), các bản án, quyết định của cơ quan tư pháp, các văn bản của các tổ chức chính trị - xã hội được trao cho chức năng quản lý nhà nước: Điều lệ, nội quy; điều ước quốc tế trái với nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Dĩ nhiên, điều này đi kèm với cơ chế giải thích chính thức trong trường hợp những điều khoản của Hiến pháp có thể còn có những cách hiểu khác nhau.

Ba là, quy trình ban hành nghị quyết áp dụng chế tài xử lý hành vi, văn bản quy phạm pháp luật vi hiến của Quốc hội cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đặc biệt, cần xác định rõ ràng thẩm quyền ra phán quyết, áp dụng chế tài đối với hành vi vi hiến thuộc về Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện tập trung nhất đại diện ý chí của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ trao cho Quốc hội quyền hạn giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, chứ không phải Ủy ban thường vụ Quốc hội, từ đó khắc phục một thực tế là nhiều khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội “tưởng mình là Quốc hội”.

Bốn là, thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp trực thuộc Quốc hội.

Ủy ban giám sát Hiến pháp sẽ giúp Quốc hội thực hiện việc giám sát đối với các văn bản luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chính quyền địa phương ban hành. Ủy ban này có trách nhiệm trình kết quả giám sát để Quốc hội xem xét, quyết định.

Ưu điểm của phương án này là không làm cồng kềnh thêm bộ máy nhà nước hiện hành, thành lập thêm Ủy ban giám sát Hiến pháp của Quốc hội cũng tương tự như việc Quốc hội thành lập thêm Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Tài chính - ngân sách được tách ra từ Ủy ban pháp luật, Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Ngân sách của Quốc hội. Thành lập cơ quan này không cần sửa đổi Hiến pháp, chỉ sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội vẫn giữa vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vẫn thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành vẫn do chính Quốc hội tự giám sát tính hợp hiến của chúng. Trong trường hợp Quốc hội không bãi bỏ luật, nghị quyết trái với Hiến pháp của Quốc hội, không có biện pháp pháp lý nào xử lý được. Cơ chế Quốc hội tự kiểm tra, giám sát này không phải bao giờ cũng khách quan.

Có thể nói đây chỉ là phương án có tính chất trước mắt, nhưng là phương án có lẽ dễ được nhiều người chấp nhận, vì nó không có sự thay đổi gì nhiều so với hiện tại, Do đó, để khắc phục nhược điểm này, về lâu dài, Nhà nước cần đẩy mạnh việc nghiên cứu thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập, để thực hiện giám sát Hiến pháp, trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các nhánh quyền lực nhà nước[5].

Nguyễn Thanh Tùng

Viện Nhà nước và Pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[2]. Xem Điều 69 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Xem Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[4]. Xem thêm khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Điều 8 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[5]. Trong trật tự nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước đều phải được kiểm soát và cân bằng, dù đó là cơ quan đại diện dân cử - Nghị viện/Quốc hội.

Giám sát việc tuân theo Hiến pháp

Trên thế giới, giám sát việc tuân theo Hiến pháp (viết tắt là giám sát Hiến pháp) được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách làm chức năng giám sát hoặc công việc này được giao cho hệ thống các cơ quan tư pháp. Ở Việt Nam theo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Việc giám sát Hiến pháp cũng khác với các nước trên thế giới và được giao cho nhiều cơ quan nhà nước, việc giám sát cao nhất là Quốc hội.

1. Pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam

Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều trao cho Quốc hội quyền hạn giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp.

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, sau đó là Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định rất nhiều chủ thể tham gia giám sát thi hành Hiến pháp và pháp luật gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Các chủ thể này tiến hành giám sát rất nhiều vấn đề liên quan đến ban hành, thi hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân… Tuy nhiên, xét ở tầm giám sát Hiến pháp, thì thẩm quyền này rõ ràng chỉ thuộc về Quốc hội. Quốc hội được quyền giám sát hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đối với các chủ thể khác, căn cứ vào các quy định về thẩm quyền Luật trao cho, thì rõ ràng, các chủ thể này chỉ tiến hành giám sát thực thi văn bản pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành một cách đơn thuần.

Về mặt lý thuyết, để đảm bảo hiệu lực cho hoạt động giám sát, chủ thể thực thi quyền giám sát nhất thiết phải có quyền tài phán nhất định đối với đối tượng chịu sự giám sát. Đối với giám sát Hiến pháp, đó có thể là khả năng tuyên bố vô hiệu một đạo luật, văn bản, hành vi vi hiến. Điều dễ nhận thấy, nội dung giám sát của Quốc hội mới chỉ dừng lại ở việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng không có bất cứ một quy định nào về trình tự thủ tục cũng như cơ chế đảm bảo cho việc thực thi hoạt động giám sát này.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng được quyền giám sát việc tuân thủ Hiến pháp. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 được thay thế bằng Luật năm 2014 cũng trao quyền giải thích pháp luật cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam bao gồm những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, do tập thể Quốc hội bầu ra, thực hiện nhiệm vụ mang tính chất hành chính sự vụ, chuẩn bị những thủ tục hành chính giữa các nhiệm kỳ, cuộc họp của Quốc hội. Nhưng theo quy định tại Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khá lớn. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quyền “quyết định triệu tập kỳ họp Quốc hội; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan hữu quan trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp; xem xét, cho ý kiến về việc chuẩn bị các dự án luật, dự thảo nghị quyết, các báo cáo và các dự án khác trình Quốc hội; xem xét báo cáo tổng hợp kết quả thảo luận của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội tại Đoàn đại biểu Quốc hội; dự kiến các vấn đề đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội; tổ chức và bảo đảm việc thực hiện chương trình kỳ họp Quốc hội, đề nghị Quốc hội điều chỉnh chương trình khi cần thiết; tổ chức để Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật, dự thảo nghị quyết và những nội dung khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Quốc hội báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước; đề xuất các vấn đề trình Quốc hội thảo luận, ra nghị quyết về việc giải quyết kiến nghị của cử tri; Quyết định các vấn đề khác liên quan đến kỳ họp Quốc hội”.

Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 cũng quy định “Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội, điều chỉnh chương trình giám sát của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập”[1]. Người ta sẽ đặt câu hỏi, liệu Ủy ban Thường vụ Quốc hội có phải cấp trên của Quốc hội? Bởi lẽ các quyền hạn này vốn thuộc thẩm quyền của Quốc hội - tập thể khoảng 500 đại biểu Quốc hội đại diện cho các cử tri trên cả nước.

Một điểm đáng chú ý trong hệ thống các đối tượng chịu sự giám sát của các chủ thể ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, cũng như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chính là việc Quốc hội dường như đứng ngoài hệ thống này. Điều này cũng có hợp lý, bởi theo quy định của Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam[2]. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong một môi trường Nhà nước pháp quyền thì tất cả quyền lực nhà nước đều phải được kiểm soát, kể cả đó là cơ quan dân cử, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quốc hội Việt Nam do nhân Việt Nam trực tiếp dùng lá phiếu bầu ra, đây là hình thức ủy quyền, trao quyền của nhân dân cho Quốc hội, nhưng không có nghĩa trao quyền mà không có sự giám sát. Quyền lực khi tập trung trong tay một cơ quan, thì luôn tiềm ẩn những nguy cơ tha hóa quyền lực, hay lạm dụng quyền lực. Do đó, với quy định hiện nay không có thiết chế nào làm nhiệm vụ chuyên trách giám sát tính hợp hiến đối với các hoạt động của Quốc hội - đây là một thiếu sót cần phải hoàn thiện trong thời gian tới.

Theo khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và khoản 6 Điều 6 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 thì “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội” là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với quy định đó, có thể nói cơ chế giám sát Hiến pháp và phán quyết vi phạm Hiến pháp ở nước ta trước hết và chủ yếu được giao cho Quốc hội bằng phương thức giám sát tối cao. Thực tiễn thực hiện phương thức giám sát này trong mối quan hệ với bảo vệ Hiến pháp còn bộc lộ một số điều bất hợp lý sau đây:

Một là, đối tượng giám sát tối cao nhằm bảo vệ Hiến pháp quy định không cụ thể. Vì thế, có người cho rằng với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có toàn quyền thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Người khác lại cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không có nghĩa Quốc hội có toàn quyền và do đó, giám sát tối cao không có nghĩa là giám sát đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội là các cơ quan do Quốc hội thành lập và cá nhân do Quốc hội bầu ra, phê chuẩn (hay nói cách khác là các cơ quan và cá nhân ở tầng cao nhất của bộ máy nhà nước) mới thuộc đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội. Đối tượng đó bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Bên cạnh đó, một thực tế ở Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể được trao quyền lực nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở lĩnh vực nhất định. Ví dụ: Việc ban hành Thông tư liên tịch giữa một Bộ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc đến nay vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Như vậy, đối tượng giám sát tối cao vẫn còn rất rộng so với tổ chức bộ máy, tính chất, chức năng và nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp của một quốc gia. Vì thế hiệu lực và hiệu quả giám sát Hiến pháp không cao.

Hai là, nội dung giám sát tối cao quy định cũng rất rộng và không rõ ràng. Hiến pháp cũng như Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành quy định: “Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước”[3]. Và vì giám sát tối cao hoạt động của nhà nước, nên nội dung giám sát tối cao bao gồm: Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát các hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này (giám sát việc tổ chức thực hiện Hiến pháp của các đối tượng giám sát này) và giám sát hành vi của các cá nhân có thẩm quyền do Quốc hội bầu và phê chuẩn bằng việc xem xét, đánh giá năng lực, trình độ và trách nhiệm của họ[4]. Như vậy, nội dung giám sát tối cao cũng quy định rất rộng, bất cập với tổ chức, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội nước ta làm cho giám sát tối cao của Quốc hội bị phân tán, cơ chế giám sát hiến pháp dàn trải kém hiệu quả;

Ba là, chế tài của giám sát tối cao quy định không được phân định rành mạch. Theo Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì chế tài giám sát tối cao thể hiện ý chí của Quốc hội bằng một hình thức văn bản gọi là nghị quyết. Nghị quyết đó có các nội dung sau đây:

- Căn cứ vào kết quả giám sát tối cao đối với các hoạt động của đối tượng giám sát tối cao, nội dung của Nghị quyết có thể là việc bổ sung, sửa đổi một hoặc một số điều luật nhằm khắc phục lỗ hổng về mặt pháp lý mà do bản thân lập pháp gây ra hoặc yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết một vụ việc nào đó để thi hành Hiến pháp;

- Căn cứ vào kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xem xét và thảo luận đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; nội dung của nghị quyết có thể tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp...

- Căn cứ vào kết quả trả lời chất vấn, chế tài giám sát tối cao có thể là một nghị quyết với nội dung thể hiện sự đánh giá của Quốc hội về trách nhiệm và năng lực của người bị chất vấn;

- Căn cứ vào kết quả giám sát, mà chế tài của giám sát tối cao có thể là một nghị quyết mà nội dung thể hiện kết quả bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm đối với một hay một số chức danh thuộc đối tượng giám sát tối cao có hành vi vi phạm Hiến pháp.

Với việc quy định các chế tài nói trên làm cho hoạt động bảo hiến không được phân định rành mạch, còn có sự lẫn lộn giữa lập pháp và tư pháp, làm cho Quốc hội rất khó thực hiện trong thực tế, dẫn đến việc sử dụng các chế tài giám sát rất khó khăn. Cho đến nay, Quốc hội chưa ra được một nghị quyết nào tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp của cá nhân hay cơ quan thuộc đối tượng giám sát của mình.

Bốn là, các cơ quan của Quốc hội bao gồm Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban đều có chức năng giám sát đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp nhằm bảo vệ Hiến pháp. Nhưng các hoạt động giám sát này đều mang tính chất kiến nghị. Chỉ trừ trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì mới có quyền đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội xem xét quyết định bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó. Thực tiễn hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội chỉ ra rằng các kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban chủ yếu là các kiến nghị về tổ chức thực hiện, không liên quan trực tiếp đến Hiến pháp. Vì thế, bảo vệ Hiến pháp bằng thiết chế các cơ quan của Quốc hội cũng không có hiệu lực và hiệu quả trực tiếp.

2. Kiến nghị một số hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

Một là, xác định cụ thể đối tượng chịu giám sát Hiến pháp là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành pháp và tư pháp ở Trung ương và những người đứng đầu các cơ quan này bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Trong một số trường hợp, có thể bao gồm tổ chức chính trị - xã hội được trao quyền quản lý nhà nước ở lĩnh vực nhất định. Như vậy sẽ tránh được dàn trải trong hoạt động giám sát thực thi Hiến pháp của Quốc hội.

Hai là, quy định rõ ràng, cụ thể nội dung giám sát Hiến pháp của Quốc hội là các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp: Các luật, các văn bản dưới luật (nghị định, chỉ thị, thông tư…), các bản án, quyết định của cơ quan tư pháp, các văn bản của các tổ chức chính trị - xã hội được trao cho chức năng quản lý nhà nước: Điều lệ, nội quy; điều ước quốc tế trái với nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Dĩ nhiên, điều này đi kèm với cơ chế giải thích chính thức trong trường hợp những điều khoản của Hiến pháp có thể còn có những cách hiểu khác nhau.

Ba là, quy trình ban hành nghị quyết áp dụng chế tài xử lý hành vi, văn bản quy phạm pháp luật vi hiến của Quốc hội cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đặc biệt, cần xác định rõ ràng thẩm quyền ra phán quyết, áp dụng chế tài đối với hành vi vi hiến thuộc về Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện tập trung nhất đại diện ý chí của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ trao cho Quốc hội quyền hạn giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, chứ không phải Ủy ban thường vụ Quốc hội, từ đó khắc phục một thực tế là nhiều khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội “tưởng mình là Quốc hội”.

Bốn là, thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp trực thuộc Quốc hội.

Ủy ban giám sát Hiến pháp sẽ giúp Quốc hội thực hiện việc giám sát đối với các văn bản luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chính quyền địa phương ban hành. Ủy ban này có trách nhiệm trình kết quả giám sát để Quốc hội xem xét, quyết định.

Ưu điểm của phương án này là không làm cồng kềnh thêm bộ máy nhà nước hiện hành, thành lập thêm Ủy ban giám sát Hiến pháp của Quốc hội cũng tương tự như việc Quốc hội thành lập thêm Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Tài chính - ngân sách được tách ra từ Ủy ban pháp luật, Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Ngân sách của Quốc hội. Thành lập cơ quan này không cần sửa đổi Hiến pháp, chỉ sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội vẫn giữa vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vẫn thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành vẫn do chính Quốc hội tự giám sát tính hợp hiến của chúng. Trong trường hợp Quốc hội không bãi bỏ luật, nghị quyết trái với Hiến pháp của Quốc hội, không có biện pháp pháp lý nào xử lý được. Cơ chế Quốc hội tự kiểm tra, giám sát này không phải bao giờ cũng khách quan.

Có thể nói đây chỉ là phương án có tính chất trước mắt, nhưng là phương án có lẽ dễ được nhiều người chấp nhận, vì nó không có sự thay đổi gì nhiều so với hiện tại, Do đó, để khắc phục nhược điểm này, về lâu dài, Nhà nước cần đẩy mạnh việc nghiên cứu thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập, để thực hiện giám sát Hiến pháp, trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các nhánh quyền lực nhà nước[5].

Nguyễn Thanh Tùng

Viện Nhà nước và Pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[2]. Xem Điều 69 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Xem Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[4]. Xem thêm khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Điều 8 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[5]. Trong trật tự nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước đều phải được kiểm soát và cân bằng, dù đó là cơ quan đại diện dân cử - Nghị viện/Quốc hội.

Giám sát việc tuân theo Hiến pháp

Trên thế giới, giám sát việc tuân theo Hiến pháp (viết tắt là giám sát Hiến pháp) được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách làm chức năng giám sát hoặc công việc này được giao cho hệ thống các cơ quan tư pháp. Ở Việt Nam theo nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Việc giám sát Hiến pháp cũng khác với các nước trên thế giới và được giao cho nhiều cơ quan nhà nước, việc giám sát cao nhất là Quốc hội.

1. Pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam

Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều trao cho Quốc hội quyền hạn giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp.

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, sau đó là Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định rất nhiều chủ thể tham gia giám sát thi hành Hiến pháp và pháp luật gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân. Các chủ thể này tiến hành giám sát rất nhiều vấn đề liên quan đến ban hành, thi hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân… Tuy nhiên, xét ở tầm giám sát Hiến pháp, thì thẩm quyền này rõ ràng chỉ thuộc về Quốc hội. Quốc hội được quyền giám sát hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đối với các chủ thể khác, căn cứ vào các quy định về thẩm quyền Luật trao cho, thì rõ ràng, các chủ thể này chỉ tiến hành giám sát thực thi văn bản pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành một cách đơn thuần.

Về mặt lý thuyết, để đảm bảo hiệu lực cho hoạt động giám sát, chủ thể thực thi quyền giám sát nhất thiết phải có quyền tài phán nhất định đối với đối tượng chịu sự giám sát. Đối với giám sát Hiến pháp, đó có thể là khả năng tuyên bố vô hiệu một đạo luật, văn bản, hành vi vi hiến. Điều dễ nhận thấy, nội dung giám sát của Quốc hội mới chỉ dừng lại ở việc theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng không có bất cứ một quy định nào về trình tự thủ tục cũng như cơ chế đảm bảo cho việc thực thi hoạt động giám sát này.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng được quyền giám sát việc tuân thủ Hiến pháp. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 được thay thế bằng Luật năm 2014 cũng trao quyền giải thích pháp luật cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam bao gồm những đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, do tập thể Quốc hội bầu ra, thực hiện nhiệm vụ mang tính chất hành chính sự vụ, chuẩn bị những thủ tục hành chính giữa các nhiệm kỳ, cuộc họp của Quốc hội. Nhưng theo quy định tại Điều 47 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khá lớn. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quyền “quyết định triệu tập kỳ họp Quốc hội; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan hữu quan trong việc chuẩn bị nội dung kỳ họp; xem xét, cho ý kiến về việc chuẩn bị các dự án luật, dự thảo nghị quyết, các báo cáo và các dự án khác trình Quốc hội; xem xét báo cáo tổng hợp kết quả thảo luận của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội tại Đoàn đại biểu Quốc hội; dự kiến các vấn đề đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội; tổ chức và bảo đảm việc thực hiện chương trình kỳ họp Quốc hội, đề nghị Quốc hội điều chỉnh chương trình khi cần thiết; tổ chức để Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật, dự thảo nghị quyết và những nội dung khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trình Quốc hội báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước; đề xuất các vấn đề trình Quốc hội thảo luận, ra nghị quyết về việc giải quyết kiến nghị của cử tri; Quyết định các vấn đề khác liên quan đến kỳ họp Quốc hội”.

Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 cũng quy định “Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội, điều chỉnh chương trình giám sát của Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập”[1]. Người ta sẽ đặt câu hỏi, liệu Ủy ban Thường vụ Quốc hội có phải cấp trên của Quốc hội? Bởi lẽ các quyền hạn này vốn thuộc thẩm quyền của Quốc hội - tập thể khoảng 500 đại biểu Quốc hội đại diện cho các cử tri trên cả nước.

Một điểm đáng chú ý trong hệ thống các đối tượng chịu sự giám sát của các chủ thể ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, cũng như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chính là việc Quốc hội dường như đứng ngoài hệ thống này. Điều này cũng có hợp lý, bởi theo quy định của Hiến pháp thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam[2]. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, trong một môi trường Nhà nước pháp quyền thì tất cả quyền lực nhà nước đều phải được kiểm soát, kể cả đó là cơ quan dân cử, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Quốc hội Việt Nam do nhân Việt Nam trực tiếp dùng lá phiếu bầu ra, đây là hình thức ủy quyền, trao quyền của nhân dân cho Quốc hội, nhưng không có nghĩa trao quyền mà không có sự giám sát. Quyền lực khi tập trung trong tay một cơ quan, thì luôn tiềm ẩn những nguy cơ tha hóa quyền lực, hay lạm dụng quyền lực. Do đó, với quy định hiện nay không có thiết chế nào làm nhiệm vụ chuyên trách giám sát tính hợp hiến đối với các hoạt động của Quốc hội - đây là một thiếu sót cần phải hoàn thiện trong thời gian tới.

Theo khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và khoản 6 Điều 6 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 thì “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội” là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với quy định đó, có thể nói cơ chế giám sát Hiến pháp và phán quyết vi phạm Hiến pháp ở nước ta trước hết và chủ yếu được giao cho Quốc hội bằng phương thức giám sát tối cao. Thực tiễn thực hiện phương thức giám sát này trong mối quan hệ với bảo vệ Hiến pháp còn bộc lộ một số điều bất hợp lý sau đây:

Một là, đối tượng giám sát tối cao nhằm bảo vệ Hiến pháp quy định không cụ thể. Vì thế, có người cho rằng với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có toàn quyền thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Người khác lại cho rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không có nghĩa Quốc hội có toàn quyền và do đó, giám sát tối cao không có nghĩa là giám sát đối với toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phân nhiệm rạch ròi trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội là các cơ quan do Quốc hội thành lập và cá nhân do Quốc hội bầu ra, phê chuẩn (hay nói cách khác là các cơ quan và cá nhân ở tầng cao nhất của bộ máy nhà nước) mới thuộc đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội. Đối tượng đó bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Bên cạnh đó, một thực tế ở Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể được trao quyền lực nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở lĩnh vực nhất định. Ví dụ: Việc ban hành Thông tư liên tịch giữa một Bộ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc đến nay vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Như vậy, đối tượng giám sát tối cao vẫn còn rất rộng so với tổ chức bộ máy, tính chất, chức năng và nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp của một quốc gia. Vì thế hiệu lực và hiệu quả giám sát Hiến pháp không cao.

Hai là, nội dung giám sát tối cao quy định cũng rất rộng và không rõ ràng. Hiến pháp cũng như Luật Tổ chức Quốc hội hiện hành quy định: “Quốc hội giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước”[3]. Và vì giám sát tối cao hoạt động của nhà nước, nên nội dung giám sát tối cao bao gồm: Giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát các hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này (giám sát việc tổ chức thực hiện Hiến pháp của các đối tượng giám sát này) và giám sát hành vi của các cá nhân có thẩm quyền do Quốc hội bầu và phê chuẩn bằng việc xem xét, đánh giá năng lực, trình độ và trách nhiệm của họ[4]. Như vậy, nội dung giám sát tối cao cũng quy định rất rộng, bất cập với tổ chức, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội nước ta làm cho giám sát tối cao của Quốc hội bị phân tán, cơ chế giám sát hiến pháp dàn trải kém hiệu quả;

Ba là, chế tài của giám sát tối cao quy định không được phân định rành mạch. Theo Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì chế tài giám sát tối cao thể hiện ý chí của Quốc hội bằng một hình thức văn bản gọi là nghị quyết. Nghị quyết đó có các nội dung sau đây:

- Căn cứ vào kết quả giám sát tối cao đối với các hoạt động của đối tượng giám sát tối cao, nội dung của Nghị quyết có thể là việc bổ sung, sửa đổi một hoặc một số điều luật nhằm khắc phục lỗ hổng về mặt pháp lý mà do bản thân lập pháp gây ra hoặc yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết một vụ việc nào đó để thi hành Hiến pháp;

- Căn cứ vào kết quả giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xem xét và thảo luận đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; nội dung của nghị quyết có thể tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp...

- Căn cứ vào kết quả trả lời chất vấn, chế tài giám sát tối cao có thể là một nghị quyết với nội dung thể hiện sự đánh giá của Quốc hội về trách nhiệm và năng lực của người bị chất vấn;

- Căn cứ vào kết quả giám sát, mà chế tài của giám sát tối cao có thể là một nghị quyết mà nội dung thể hiện kết quả bỏ phiếu tín nhiệm, miễn nhiệm đối với một hay một số chức danh thuộc đối tượng giám sát tối cao có hành vi vi phạm Hiến pháp.

Với việc quy định các chế tài nói trên làm cho hoạt động bảo hiến không được phân định rành mạch, còn có sự lẫn lộn giữa lập pháp và tư pháp, làm cho Quốc hội rất khó thực hiện trong thực tế, dẫn đến việc sử dụng các chế tài giám sát rất khó khăn. Cho đến nay, Quốc hội chưa ra được một nghị quyết nào tuyên bố bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp của cá nhân hay cơ quan thuộc đối tượng giám sát của mình.

Bốn là, các cơ quan của Quốc hội bao gồm Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban đều có chức năng giám sát đối với các cơ quan hành pháp và tư pháp nhằm bảo vệ Hiến pháp. Nhưng các hoạt động giám sát này đều mang tính chất kiến nghị. Chỉ trừ trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì mới có quyền đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội xem xét quyết định bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó. Thực tiễn hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội chỉ ra rằng các kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban chủ yếu là các kiến nghị về tổ chức thực hiện, không liên quan trực tiếp đến Hiến pháp. Vì thế, bảo vệ Hiến pháp bằng thiết chế các cơ quan của Quốc hội cũng không có hiệu lực và hiệu quả trực tiếp.

2. Kiến nghị một số hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay

Một là, xác định cụ thể đối tượng chịu giám sát Hiến pháp là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành pháp và tư pháp ở Trung ương và những người đứng đầu các cơ quan này bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những người đứng đầu cơ quan này và các thành viên của Chính phủ. Trong một số trường hợp, có thể bao gồm tổ chức chính trị - xã hội được trao quyền quản lý nhà nước ở lĩnh vực nhất định. Như vậy sẽ tránh được dàn trải trong hoạt động giám sát thực thi Hiến pháp của Quốc hội.

Hai là, quy định rõ ràng, cụ thể nội dung giám sát Hiến pháp của Quốc hội là các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp: Các luật, các văn bản dưới luật (nghị định, chỉ thị, thông tư…), các bản án, quyết định của cơ quan tư pháp, các văn bản của các tổ chức chính trị - xã hội được trao cho chức năng quản lý nhà nước: Điều lệ, nội quy; điều ước quốc tế trái với nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Dĩ nhiên, điều này đi kèm với cơ chế giải thích chính thức trong trường hợp những điều khoản của Hiến pháp có thể còn có những cách hiểu khác nhau.

Ba là, quy trình ban hành nghị quyết áp dụng chế tài xử lý hành vi, văn bản quy phạm pháp luật vi hiến của Quốc hội cần được quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đặc biệt, cần xác định rõ ràng thẩm quyền ra phán quyết, áp dụng chế tài đối với hành vi vi hiến thuộc về Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thể hiện tập trung nhất đại diện ý chí của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ trao cho Quốc hội quyền hạn giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, chứ không phải Ủy ban thường vụ Quốc hội, từ đó khắc phục một thực tế là nhiều khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội “tưởng mình là Quốc hội”.

Bốn là, thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp trực thuộc Quốc hội.

Ủy ban giám sát Hiến pháp sẽ giúp Quốc hội thực hiện việc giám sát đối với các văn bản luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chính quyền địa phương ban hành. Ủy ban này có trách nhiệm trình kết quả giám sát để Quốc hội xem xét, quyết định.

Ưu điểm của phương án này là không làm cồng kềnh thêm bộ máy nhà nước hiện hành, thành lập thêm Ủy ban giám sát Hiến pháp của Quốc hội cũng tương tự như việc Quốc hội thành lập thêm Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Tài chính - ngân sách được tách ra từ Ủy ban pháp luật, Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Ngân sách của Quốc hội. Thành lập cơ quan này không cần sửa đổi Hiến pháp, chỉ sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội vẫn giữa vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, vẫn thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, trong đó có giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương án này là các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành vẫn do chính Quốc hội tự giám sát tính hợp hiến của chúng. Trong trường hợp Quốc hội không bãi bỏ luật, nghị quyết trái với Hiến pháp của Quốc hội, không có biện pháp pháp lý nào xử lý được. Cơ chế Quốc hội tự kiểm tra, giám sát này không phải bao giờ cũng khách quan.

Có thể nói đây chỉ là phương án có tính chất trước mắt, nhưng là phương án có lẽ dễ được nhiều người chấp nhận, vì nó không có sự thay đổi gì nhiều so với hiện tại, Do đó, để khắc phục nhược điểm này, về lâu dài, Nhà nước cần đẩy mạnh việc nghiên cứu thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập, để thực hiện giám sát Hiến pháp, trên cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các nhánh quyền lực nhà nước[5].

Nguyễn Thanh Tùng
Viện Nhà nước và Pháp luật

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem Điều 50 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[2]. Xem Điều 69 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Xem Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014.

[4]. Xem thêm khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Điều 8 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.

[5]. Trong trật tự nhà nước pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước đều phải được kiểm soát và cân bằng, dù đó là cơ quan đại diện dân cử - Nghị viện/Quốc hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: