Thứ năm 15/10/2026 20:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giáo dục đại học - Một số vấn đề cần sửa đổi trong Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học

Giáo dục đại học là nền tảng không thể thiếu để tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng ở mỗi quốc gia. Luật Giáo dục đại học được ban hành năm 2012 đã có những quy định cụ thể để điều chỉnh về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở giáo dục đại học, hoạt động đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học...

Tuy nhiên, trước những đòi hỏi về đổi mới hoạt động giáo dục đại học nhằm “đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” trong điều kiện hội nhập ở nước ta hiện nay khiến cho những quy định của Luật Giáo dục năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật Giáo dục) và Luật Giáo dục đại học không còn phù hợp. Chính vì vậy, trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả sẽ phân tích tính cấp thiết của việc sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học đồng thời nêu lên những kiến nghị, đề xuất sửa đổi quy định của pháp luật hiện hành để phù hợp với những yêu cầu của xã hội đối với giáo dục đại học hiện nay.

1. Tính cấp thiết của việc sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học

1.1. Sửa đối để phù hợp với đường lối, chính sách và pháp luật hiện hành

Việc sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học phải phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Hiện nay, đường lối, quan điểm của Đảng và chủ trương, chính sách về giáo dục đã được xác định trong các văn bản như: Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X; Thông báo Kết luận số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020; Kết luận số 51/KL-TW ngày 29/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Những đường lối, chính sách này đều xác định giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Giáo dục đại học tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học; hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế; đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học để phù hợp, đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp năm 2013 (Điều 61) và các luật có liên quan mới được ban hành trong thời gian gần đây như: Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014; Luật Đầu tư năm 2014 và Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư năm 2016… Chẳng hạn, thực tiễn áp dụng cho thấy, nội dung các văn bản này còn nhiều điểm chồng chéo, thiếu thống nhất liên quan đến phạm vi điều chỉnh của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014; thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quy định điều kiện thành lập, cho phép hoạt động giáo dục đại học mâu thuẫn với thẩm quyền mà Luật Đầu tư năm 2014 trao cho Chính phủ; những vấn đề liên quan tới chương trình đào tạo, thời gian đào tạo, cấp văn bằng... cũng chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn hiện nay.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh Việt Nam mở cửa, tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào các quan hệ kinh tế thế giới, việc sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học là cần thiết để phù hợp với các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên.

1.2. Sửa đổi để phù hợp với yêu cầu của xã hội

Việc sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học xuất phát từ đòi hỏi khách quan để tạo cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề bức xúc trong thực tiễn, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức, quản lý và đổi mới giáo dục.

1.2.1. Những thay đổi trong môi trường, bối cảnh của giáo dục

Một số thay đổi của môi trường và bối cảnh thế giới cũng như Việt Nam hiện tại có ảnh hưởng mang tính cách mạng đối với giáo dục và giáo dục đại học của Việt Nam như: (i) Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, yêu cầu về năng lực con người để đáp ứng công việc trong thời kỳ mới đang đổi khác từng ngày. Việc đào tạo và đánh giá khả năng của người học nhanh chóng chuyển đổi từ chú trọng khả năng hiểu biết, ghi nhớ kiến thức sang chú trọng khả năng vận dụng, phân tích và tiến tới đánh giá, kết hợp, sáng tạo ra tri thức mới (chuyển đổi từ cấp độ tư duy 1, 2 sang 3, 4, sang 5, 6 trong thang đo cấp dộ tư duy Bloom). Yêu cầu đối với giáo viên dựa trên đó cũng được nâng cao; (ii) Trong bối cảnh mới, vai trò là nguồn kiến thức của giáo viên đã giảm đi (và ngày càng giảm) thay vào đó, giáo viên đóng vai trò là nguồn cảm hứng, là người định hướng, dẫn dắt để học sinh, sinh viên biết tự tiếp thu kiến thức, là người cung cấp, tạo lập môi trường thực hành kỹ năng, rèn luyện kỷ luật và phát huy thái độ. Học sinh, sinh viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người tiếp thu kiến thức, họ vừa là một đối tượng được dạy học vừa là nguyên liệu đầu vào và là người tham gia góp phần chính (ngày càng nhiều hơn) tạo nên sản phẩm giáo dục; (iii) Việc hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế dẫn tới nhu cầu nhân lực với trình độ quốc tế, sự tham gia của các cơ sở đào tạo quốc tế tại Việt Nam, nhu cầu về chứng thực, chuyển đổi bằng cấp, liên thông các cấp học giữa Việt Nam với các nước trên thế giới ngày càng nhiều thêm.

1.2.2. Một số bất cập trong thực tiễn

Thực tiễn hoạt động giáo dục tại Việt Nam vẫn có nhiều bất cập, gây bức xúc cần phải giải quyết như:

- Bất cập về chất lượng giáo dục, đào tạo thể hiện rõ nhất ở việc sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm không đúng ngành nghề, thậm chí phải làm những công việc không cần bằng cấp.

- Tình trạng thiếu định hướng của học sinh, sinh viên, dẫn đến học sai ngành nghề, gây lãng phí rất lớn.

- Tiêu chuẩn, chất lượng giáo dục hay chuẩn đầu ra chưa được xác định rõ ràng. Các trường đại học chưa xác định được chính xác đối tượng khách hàng sử dụng sản phẩm giáo dục cũng như cơ chế, cách thức để tìm hiểu/thu thập/tổng hợp nhu cầu của những đối tượng khách hàng này (ở đây khách hàng của dịch vụ giáo dục đại học là sinh viên, người sử dụng lao động, xã hội) đối với từng ngành học/dịch vụ giáo dục. Điều này dẫn đến hệ quả của việc thiết kế mục tiêu sai trong hoạt động giáo dục, cụ thể, hiện tại vẫn còn nhiều trường tập trung chủ yếu vào kiến thức - bằng cấp, đầu tư chưa đủ cho kỹ năng - năng lực và mục tiêu về thái độ được thiết kế một cách mơ hồ.

- Công tác đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục và đảm bảo công bằng cho người học chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Đánh giá chất lượng giáo dục không hiệu quả và không công bằng dẫn đến việc không nhận thức đúng về hiện trạng chất lượng giáo dục. Điều đó cũng một phần “cổ xúy” cho bệnh thành tích - việc bằng cấp được đánh giá cao hơn năng lực. Tình trạng học thì học, lấy bằng thì lấy bằng, nhưng năng lực làm việc không được đảm bảo so với nhu cầu của thực tiễn vẫn được duy trì và chấp nhận trong xã hội. Thực trạng bằng giả, bằng kém chất lượng, “thừa thầy, thiếu thợ” hay “thừa thợ kém, thiếu thợ giỏi”, “đại học tràn lan” là những biểu hiện chính cho vấn đề này.

2. Một số yêu cầu và kiến nghị đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học

2.1. Đổi mới về phát triển giáo dục gắn với yêu cầu đảm bảo nhu cầu tổng thể của xã hội

Điều 9 Luật Giáo dục về phát triển giáo dục quy định:

“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng”.

Tuy nhiên, mục đích và yêu cầu của phát triển giáo dục nếu xác định theo nội dung của điều luật trên thì chưa đầy đủ. Nhận định này xuất phát từ việc sản phẩm của hệ thống giáo dục quốc dân phải đáp ứng được: Một là, nhu cầu nguồn nhân lực để phát triển và đạt các mục tiêu về kinh tế - xã hội; hai là, nhu cầu học tập và phát triển nghề nghiệp của nhân dân theo chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.

Để đạt được điều đó cần có pháp luật quy định về: (i) Công tác dự báo nhu cầu tổng thể của cả nước cũng như từng địa phương trong từng giai đoạn phát triển; (ii) Quy hoạch hệ thống giáo dục bao gồm cả việc quy định các chỉ tiêu của từng ngành nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu này; (iii) Thực hiện công tác quy hoạch về định hướng phát triển nghề nghiệp cho từng vùng, từng ngành nghề đào tạo.

Từ những yêu cầu trên, theo tác giả, Điều 9 Luật Giáo dục cần sửa đổi như sau:

“Điều 9. Phát triển giáo dục

Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học... kết hợp giữa đào tạo và sử dụng.

Phát triển giáo dục phải gắn với khả năng dự báo nhu cầu tổng thể của cả nước cũng như từng địa phương trong từng giai đoạn phát triển; gắn với quy hoạch hệ thống giáo dục bao gồm định hướng phát triển nghề nghiệp cho từng vùng trên cả nước và chỉ tiêu cho từng ngành nghề đào tạo”.

Điều 14 Luật Giáo dục về quản lý nhà nước về giáo dục cũng chỉ mới đề cập tới nội dung Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục, chứ chưa gắn nội dung quản lý nhà nước với khả năng dự báo nhu cầu về nguồn nhân lực. Trong khi đó, việc không đánh giá hoặc không đánh giá chính xác nhu cầu về nguồn nhân lực quốc gia khiến cho sản phẩm giáo dục chính là người học không đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội. Nhận thức rõ vai trò của việc đánh giá nhu cầu nguồn nhân lực nên Chính phủ đã giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lập đề án Trung tâm dự báo nguồn nhân lực quốc gia để phát triển thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Trung tâm này hoạt động chưa đủ mạnh và chưa tạo ra các dữ liệu thông tin mang tính khoa học, tổng thể về thị trường lao động cả nước cũng như dự báo về xu hướng, nhu cầu đào tạo nhân lực sát với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Do đó, Luật Giáo dục cần chỉ rõ trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong công tác dự báo này.

Chính vì vậy, Điều 14 Luật Giáo dục cần sửa đổi như sau:

“Điều 14. Quản lý nhà nước về giáo dục

Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân... tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thực hiện công tác dự báo nhu cầu nguồn nhân lực quốc gia. Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy hoạch hệ thống giáo dục bao gồm cả việc quy định các chỉ tiêu và định hướng phát triển giáo dục của từng vùng, từng ngành nghề đào tạo”.

2.2. Đổi mới về phát triển giáo dục gắn với yêu cầu về năng lực đầu ra của người học

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, người học sau khi tốt nghiệp phải có năng lực đáp ứng được yêu cầu thực tiễn công việc bao gồm: (i) Yêu cầu về mặt kiến thức, khả năng tư duy, thái độ và kỹ năng, khả năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết công việc; (ii) Khả năng học tập (trong và ngoài nước) nâng cao trình độ và phát triển nghề nghiệp trong lĩnh vực được đào tạo; (iii) Khả năng cạnh tranh với lao động của các nước trong khu vực và thế giới.

Để đạt được điều đó cần có pháp luật quy định về: (i) Thực hiện công tác nghiên cứu thị trường để xác định chính xác yêu cầu của từng ngành nghề công việc; (ii) Xây dựng khung trình độ quốc gia, chuẩn quốc gia cho các đơn vị đào tạo và chuẩn đầu ra dựa trên năng lực cho các cấp học và từng ngành nghề đáp ứng nhu cầu công việc phù hợp với chuẩn đào tạo quốc tế; (iii) Xây dựng chương trình học hướng chuẩn đầu ra phù hợp với khung trình độ quốc gia; (iv) Thực hiện công tác đánh giá chất lượng đào tạo dựa trên chuẩn đầu ra; (v) Thực hiện công tác đánh giá chất lượng, đánh giá tín nhiệm bằng cấp, xếp hạng các trường đại học; (vi) Thực hiện công tác xác nhận văn bằng và chống tiêu cực, bằng giả trong giáo dục đại học.

2.2.1. Về khung trình độ quốc gia

Hiện nay, khung trình độ quốc gia được quy định trong Quyết định số 1982/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Khung trình độ quốc gia chính là căn cứ để xây dựng quy hoạch cơ sở giáo dục, chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cho các ngành, nghề. Trên cơ sở Khung trình độ quốc gia này, nội dung chương trình được xây dựng và triển khai theo hướng mở sẽ cho phép các trường chủ động trong việc tiếp cận học liệu, kiến thức trong và ngoài nước phù hợp với yêu cầu đào tạo gắn với chuẩn đầu ra, gắn với nhu cầu xã hội. Khung trình độ quốc gia Việt Nam được xây dựng dựa trên Khung trình độ châu Âu (EQF) và Khung tham chiếu trình độ Asean (AQRF) tạo điều kiện cho người học được tiếp cận với các môi trường giáo dục hiện đại từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta, tạo thuận lợi cho quá trình dịch chuyển lao động quốc tế. Sau khi có Khung trình độ quốc gia, các cơ sở giáo dục sẽ phải rà soát, điều chỉnh cấu trúc, nội dung, phương pháp thực hiện chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động và cam kết thực hiện chương trình theo chuẩn đầu ra và các minh chứng kèm theo.

Tuy nhiên, hiện nay, chúng ta chưa có khái niệm thống nhất để định nghĩa như thế nào là Khung trình độ quốc gia và chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện việc tham chiếu, trao đổi văn bằng giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Vì vậy, tác giả đề nghị bổ sung vào Luật Giáo dục điều khoản về xây dựng Khung trình độ quốc gia, cụ thể: “Khung trình độ quốc gia là cấu trúc chính thức trong đó mô tả các trình độ học vấn của một quốc gia. Khung trình độ này cho phép người học, nhà cung cấp dịch vụ đào tạo và người sử dụng lao động có thông tin về sự tương đương giữa các trình độ và là cơ sở để chuyển đổi và công nhận bằng cấp giữa các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Chính phủ quy định chi tiết về Khung trình độ quốc gia”.

2.2.2. Về quy định chuẩn đầu ra

Hiện nay, Luật Giáo dục không quy định về chuẩn đầu ra của các ngành mà để các trường đại học tự xây dựng. Luật Giáo dục đại học thì chỉ quy định chung về chuẩn đầu ra chung cho tất cá các ngành nghề đào tạo là sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo và đáp ứng chuẩn đầu ra thì được cấp văn bằng tốt nghiệp (Điều 38). Thông tư số 07/2015/TT-BGDĐT ngày 16/4/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban hành quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Tuy nhiên, những nội dung liên quan tới chuẩn đầu ra trong Thông tư này vẫn chưa rõ ràng khiến cho các trường đại học hiện nay khó có cơ sở để xác định chuẩn đầu ra cho ngành đào tạo của mình.

Trong khi đó, theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg, chuẩn đầu ra chung cho các ngành nghề đào tạo phải được xây dựng trên Khung trình độ quốc gia. Bên cạnh đó, yêu cầu về chuẩn đầu ra cho từng ngành nghề đang là vấn đề cấp thiết hiện nay vì việc chưa có chuẩn chung cho các trường đại học làm cho việc xây dựng các chương trình đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của xã hội.

Hiện nay, trên thế giới, việc đánh giá chuẩn đầu ra cho các ngành nghề do các đơn vị độc lập thực hiện. Tại Mỹ, có 03 tổ chức kiểm định phổ biến nhất là: Hội đồng Kiểm định đối với trường và các chương trình kinh doanh (ACBSP), Hiệp hội Phát triển giảng dạy doanh thương bậc đại học (AACSB), Hiệp hội Quốc tế các trường đại học đào tạo ngành kinh doanh (IACBE). Các trường công thường hướng đến kiểm định của AACSB, trong khi các trường tư thường thiên về ACBSP hoặc IACBE. Các trường theo đuổi kiểm định của ACBSP thường nằm ở giữa các nhóm trường do AACSB và IACBE kiểm định, xét về tổng tài sản, doanh thu, số lượng và mức lương cho cán bộ, giảng viên, số lượng sinh viên và học phí.

Qua việc nghiên cứu chuẩn đầu ra của các ngành nghề đào tạo trên thế giới, các trường đại học của Việt Nam cũng nên xây dựng chuẩn đầu ra cho ngành nghề mà trường được phép đào tạo để phù hợp với các chuẩn mực chung của thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi văn bằng và công nhận năng lực giữa các quốc gia.

Chính vì vậy, tác giả đề xuất Luật Giáo dục đại học nên bổ sung quy định về chuẩn đầu ra tại khoản 3 Điều 68 như sau: “3. Quy định khối lượng, cấu trúc chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra tối thiểu của người học sau khi tốt nghiệp phù hợp với chuẩn mực quốc tế đối với từng chuyên ngành đào tạo; tiêu chuẩn giảng viên; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị của cơ sở giáo dục đại học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành giáo trình, tài liệu giảng dạy; quy chế thi và cấp văn bằng, chứng chỉ. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn đầu ra làm căn cứ để các cơ sở giáo dục đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra cho các ngành nghề được phép đào tạo”.

2.2.3. Về việc phân tầng đại học gắn với công tác đánh giá chất lượng, xếp hạng các trường đại học

Theo quy định của Điều 9 Luật Giáo dục đại học về phân tầng cơ sở giáo dục đại học thì cơ sở giáo dục đại học được phân tầng thành: Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng; cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành. Tuy nhiên, cả Quyết định số 1981/QĐ-TTg ngày 18/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân (khoản 4 Điều 2) và Nghị định số 69/2017/NĐ-CP 25/5/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đều xác định việc phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học thành hai định hướng là định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng (điểm a khoản 12 Điều 2).

Định hướng mới trong các văn bản pháp luật được ban hành sau này đã mâu thuẫn với quy định trong Luật Giáo dục đại học về phân tầng cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, các trường đại học cũng chỉ phân thành định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng chứ không phân thành định hướng thực hành dù đã có quy định trong Luật Giáo dục đại học.

Bên cạnh đó, quy định về phân tầng và xếp hạng các trường đại học hiện nay đang gây khó khăn cho quá trình áp dụng, bởi chẳng hạn nếu chúng ta phân tầng thành đại học định hướng nghiên cứu mà không xếp hạng theo các chuyên ngành đào tạo thì lấy cơ sở nào để đánh giá hai trường cùng định hướng nghiên cứu nhưng trường này xếp thứ hạng cao hơn trường kia dù hai ngành nghề đào tạo là khác nhau. Do đó, tác giả thiết nghĩ, trước khi tiến hành xếp hạng các trường đại học thì cần phải thực hiện công việc xếp loại các trường đại học theo ngành nghề đào tạo.

Thực tiễn cũng cho thấy, việc hoàn thành và công bố kết quả xếp hạng các trường đại học trong cả nước để xã hội và người học có điều kiện đánh giá được uy tín và chất lượng của các trường đại học đang trở thành vấn đề quan trọng nhất là đối với các trường tự chủ để thu học phí tương ứng với xếp hạng trường. Chính vì vậy, luật cũng nên bổ sung quy định về công bố kết quả xếp hạng các trường đại học.

Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất sửa đổi Điều 9 Luật Giáo dục đại học bằng cách bổ sung nội dung xếp hạng cơ sở giáo dục đào tạo đại học vào tên điều luật vì khoản 2 Điều luật có nội dung riêng về xếp hạng. Bên cạnh đó, bỏ điểm c khoản 4 về phân tầng thành cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành và bổ sung vào khoản 5 của điều luật, cụ thể như sau:

“Điều 9. Phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục đại học

...

4. Cơ sở giáo dục đại học được phân tầng thành:

a) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu;

b) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng;

5. Chính phủ quy định tiêu chuẩn phân tầng cơ sở giáo dục đại học; ban hành khung xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học theo mỗi tầng và tiêu chuẩn của từng hạng trong khung phục vụ công tác quản lý nhà nước và ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học.

Thủ tướng Chính phủ công nhận xếp hạng đối với đại học, trường đại học; căn cứ kết quả xếp hạng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định kế hoạch ưu tiên đầu tư, giao nhiệm vụ và cơ chế quản lý đặc thù đối với các cơ sở giáo dục đại học phù hợp với nhu cầu nhân lực và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong từng giai đoạn. Việc công bố kết quả xếp hạng các trường đại học được thực hiện theo định kỳ 3 năm/lần.

...”

2.3. Đổi mới quy định về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học

2.3.1. Quy định tự chủ đối với hoạt động đào tạo

Theo đó, luật nên điều chỉnh theo hướng giao quyền tự chủ cho các trường trong việc xây dựng khung chương trình đào tạo trình độ đại học, trình độ cao đẳng, trường trung cấp thông qua thẩm định của Hội đồng khoa học và đào tạo các trường có sự tham gia phản biện của các chuyên gia chuyên ngành và các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, đảm bảo tính linh hoạt khi nhu cầu về trình độ chuyên môn cần có sự thay đổi nhanh cũng như xu thế hội nhập đào tạo. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo không quy định quá chi tiết đến cả cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập.

2.3.2. Quy định tự chủ về mức thu học phí

Việc quy định một khung học phí như hiện nay là thiếu bình đẳng, hạn chế năng lực cạnh tranh của các trường đại học công lập. Trong một hệ thống giáo dục có các trường tư thục, các trường có vốn đầu tư nước ngoài thì một thị trường giáo dục có cơ chế cạnh tranh lành mạnh không những hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên, phù hợp với xu thế thời đại, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của cả hệ thống. Tuy nhiên, với việc áp dụng một khung học phí áp dụng chung cho tất cả các trường đại học công lập tự đảm bảo 100% chi thường xuyên cũng như đảm bảo một phần chi thường xuyên thì những trường đại học công lập có uy tín và truyền thống sẽ gặp rất nhiều khó khăn để tồn tại và phát triển. Mức học phí quy định chung cho các trường đại học công lập như hiện nay còn nặng về tính chất cào bằng, chưa gắn với chất lượng đào tạo của các trường, do vậy chưa tạo ra động lực để các trường đột phá trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.

Nguồn thu hiện nay của các trường đại học công lập chủ yếu vẫn là nguồn thu học phí. Nguồn thu này được quyết định bởi hai yếu tố: Chỉ tiêu đào tạo và mức thu. Tuy nhiên, do bị khống chế chỉ tiêu đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và mức thu học phí, lệ phí bị giới hạn theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến 2020 - 2021 nên thu học phí, lệ phí không đủ chi, do đó phải sử dụng các nguồn thu sự nghiệp để bù đắp chi. Việc Nhà nước giao quyền tự chủ tài chính nhưng không được quyền tự chủ về thu học phí cho các trường tự chủ trong khi các khoản chi lương, phụ cấp thâm niên nhà giáo, các khoản chi thường xuyên như điện, nước... và các chính sách của Chính phủ ban hành đều phải chi từ nguồn thu học phí nên nguồn thu không bù đắp đủ chi phí hoạt động thường xuyên, vì vậy việc thực hiện tự chủ tài chính không thực chất.

2.3.3. Tự chủ trong việc huy động nguồn lực tài chính

Luật Giáo dục chưa trao cho các trường quyền chủ động tìm kiếm, huy động nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, thu hút nhân tài, xây dựng cơ sở vật chất nâng cao chất lượng đào tạo, trong khi ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo hàng năm tăng không đáng kể. Điều này gây cản trở khi các trường thực hiện vấn đề tự chủ về tài chính. Ngày 15/5/2017, Ban Giám đốc điều hành của Ngân hàng Thế giới đã phê duyệt khoản tín dụng 155 triệu đô la Mỹ để tăng cường năng lực nghiên cứu, giảng dạy và thể chế của ba trường đại học tự chủ và cải thiện quản lý hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam. Như vậy, nếu các trường có thể khai thác hiệu quả nguồn hỗ trợ tài chính này cũng như tự huy động được các nguồn lực tài chính khác từ xã hội thì chất lượng của các cơ sở giáo dục đào tạo sẽ được nâng cao mà không cần quá phụ thuộc vào ngân sách nhà nước như trước đây.

Từ những phân tích trên, tác giả kiến nghị sửa khoản 1, khoản 4 Điều 60 Luật Giáo dục như sau:

“Điều 60. Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học

Trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các hoạt động sau đây:

1. Xây dựng khung chương trình đào tạo, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập phù hợp đối với các ngành nghề được phép đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội;

...

4. Chủ động mức thu học phí, huy động các nguồn lực tài chính khác, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực;

...”

2.4. Đổi mới về việc cấp văn bằng

Nghiên cứu quy định của khoản 4 Điều 38 Luật Giáo dục đại học và Điều 38 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 1, khoản 6 Điều 43 Luật Giáo dục như sau:

“1. Sinh viên học hết chương trình cao đẳng thi được cấp văn bằng theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

...

6. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định văn bằng công nhận trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng cho những người được đào tạo chuyên sâu sau khi tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc biệt”.

2.5. Đổi mới về thẩm quyền quy định điều kiện thành lập, cho phép hoạt động giáo dục

Theo quy định của khoản 3 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 thì “điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại khoản 2 Điều này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Chính vì vậy, chúng ta cần sửa đổi Điều 50, Điều 51 Luật Giáo dục để phù hợp với quy định của Luật Đầu tư năm 2014, cụ thể:

- Sửa đổi, bổ sung Điều 50 về thẩm quyền quy định điều kiện thành lập, cho phép hoạt động giáo dục từ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ (đối với đại học), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (đối với nhà trường ở các cấp học và cơ sở giáo dục khác) thành thẩm quyền của Chính phủ.

- Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 51 về thẩm quyền quy định thủ tục thành lập, cho phép thành lập, cho phép hoạt động giáo dục, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học từ thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ (đối với đại học), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (đối với nhà trường ở các cấp học và cơ sở giáo dục khác) thành thẩm quyền của Chính phủ.

ThS. Vũ Thị Ngọc Dung & ThS. Nguyễn Quốc Ninh

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: