Thứ ba 10/03/2026 21:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hiệu quả của hình phạt và các hướng nghiên cứu hiện nay

Tóm tắt: Hiệu quả của hình phạt không phải là một lĩnh vực mới trong khoa học pháp lý hình sự, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về chủ đề này ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn khiêm tốn, trong khi nhu cầu tìm hiểu lý luận để đánh giá hiệu quả của từng loại hình phạt trong thực tiễn là rất cấp thiết. Với những nhận thức cơ bản về hiệu quả của hình phạt, bài viết đề xuất một số hướng nghiên cứu cấp bách về chủ đề này.

Abstract: Effect of punishment is not a new area in the criminal science. Research works about this subject in our country, however, have been modest in recent time while the demand for studying theory of assessing effect of each type of punishment is urgent in the practice. From fundamental knowledge of effect of punishment, the paper proposes some urgent research orientations relating to this subject.

1. Nhận thức cơ bản về hiệu quả của hình phạt

Tính quyết định xã hội của hình phạt đã chỉ ra rằng, các xu hướng phát triển của hình phạt được quyết định bởi những cơ sở, điều kiện và biến đổi xã hội trong thực tiễn[1]. Trong chiều ngược lại, khi hình phạt tác động vào đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nó, đó chính là lúc vấn đề hiệu quả của hình phạt (HQCHP) được nảy sinh và cần được đánh giá. HQCHP được phản ánh thông qua sự phù hợp một cách thực tế trên nhiều phương diện khác nhau của hình phạt với các quan hệ xã hội đã quy định ra sự tồn tại của chế tài hình sự này. Sự phù hợp đó cao hay thấp tương ứng sẽ phản ánh các mức độ khác nhau về HQCHP. Để đánh giá sự phù hợp đó, cần phải làm sáng tỏ khách thể của các quan hệ xã hội đã quy định sự tồn tại và xu hướng phát triển của hình phạt, nghĩa là trả lời cho câu hỏi hình phạt phải phù hợp với cái gì? Các khách thể của những quan hệ xã hội đó phản ánh những lợi ích xã hội lý tưởng mà hình phạt cần đạt được trong thực tiễn. Như vậy, tất yếu cần phải đánh giá những lợi ích xã hội mà hình phạt đem lại thông qua các tác động xã hội của nó, tiếp đó so sánh những lợi ích xã hội thực tế này với những lợi ích xã hội lý tưởng mà hình phạt cần phải đạt được, từ đó, chúng ta có thể tìm kiếm các lời giải đáp, đánh giá về mức độ HQCHP hiện có.

Các lợi ích xã hội lý tưởng được đề cập trên đây chính là những mục đích của hình phạt được đề ra. Hình phạt có nhiều mục đích, tùy thuộc vào cách tiếp cận và nhiệm vụ mà hình phạt đặt ra trong những bối cảnh, thời điểm hay tình thế khác nhau. Đòi hỏi hình phạt thực sự có hiệu quả trong thực tiễn nghĩa là tối đa hóa việc đạt được và giải quyết các mục đích của hình phạt. Thực tế, việc giải quyết được đồng thời và có hệ thống các mục đích của hình phạt là rất nan giải, do đó, trong đánh giá HQCHP, cần đánh giá tính thứ bậc của các mục đích cụ thể đã đề ra để định hình các chiến lược khác nhau của việc hướng tới và đạt được những hiệu quả thực tế của hình phạt.

Cần phải thấy rằng, mục đích của hình phạt chỉ là một tiểu hệ thống các nhiệm vụ xã hội cần được giải quyết, vì vậy, trong quá trình sử dụng hình phạt, cần cân nhắc việc giải quyết các mục đích đó trong mối quan hệ hài hòa không phương hại nghiêm trọng tới các vấn đề xã hội khác. Hình phạt vốn dĩ là chế tài nghiêm khắc của Nhà nước, do đó, trong quá trình áp dụng, thi hành tất yếu sẽ để lại những hệ quả nhất định. Các hệ quả này là không thể tránh khỏi, vì vậy, điều quan trọng là làm giảm thiểu các xu hướng tiêu cực của những hệ quả đó ở những chỉ số được chấp nhận trong quan điểm HQCHP. Chẳng hạn, việc áp dụng hình phạt tiền để đẩy người chấp hành vào trạng thái khánh kiệt tài sản thì không phải là mục đích của hình phạt tiền; hình phạt tiền chỉ được coi là có hiệu quả khi nó tịch thu một khối lượng tài sản vừa đủ, tương đương với hậu quả xã hội từ hành vi phạm tội, để người chấp hành hình phạt cảm nhận độ sâu của sự trừng trị và hình thành thái độ tích cực trong tự giáo dục, tự cải tạo. Rõ ràng, nếu hình phạt bất chấp các hậu quả tiêu cực khác cho xã hội để đạt được những mục đích của mình thì vấn đề hiệu quả của nó cần được xem xét lại.

Việc tính toán các chi phí xã hội của pháp luật nói chung và các đạo luật nói riêng đang là vấn đề được quan tâm, nhất là trong bối cảnh việc sử dụng ngân sách nhà nước trong xây dựng, áp dụng pháp luật ở nước ta thời gian qua còn nhiều bất cập, lãng phí. Hình phạt là biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất, chính vì vậy, việc tổ chức triển khai hình phạt trong thực tiễn luôn tiêu tốn những nguồn lực xã hội lớn hơn so với việc tổ chức triển khai các chế tài pháp lý khác. Chẳng hạn, việc tổ chức triển khai hình phạt tù làm nảy sinh việc vận hành và quản lý các hệ thống trại giam luôn tiêu tốn rất nhiều nguồn lực của hệ thống các cơ quan tư pháp.

Các chi phí xã hội lớn trong sử dụng hình phạt là không thể tránh khỏi, vì vậy điều quan trọng là cân nhắc việc tiêu tốn các nguồn lực xã hội đến đâu, trong mức độ tương quan với những điều kiện xã hội cụ thể nào, để nhằm giải quyết các mục đích của hình phạt trên cơ sở nguyên tắc tiết kiệm các chi phí xã hội[2]. Nguyên tắc tiết kiệm các chi phí xã hội không cổ súy cho việc càng ít chi phí xã hội được tiêu tốn thì HQCHP càng cao. Giới hạn các chi phí xã hội được quyết định bởi những điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách hình sự, quản lý hành chính - tư pháp và sự phát triển của các thành tựu khoa học kĩ thuật… Mối quan hệ giữa HQCHP với các chi phí xã hội dành cho nó cần phải tuân thủ nguyên tắc: Khả năng lớn nhất giải quyết các mục đích xã hội đi đôi với việc tiết kiệm nhất các chi phí xã hội của việc sử dụng hình phạt.

Để hình phạt phát huy khả năng của mình, tất yếu đòi hỏi cần có những điều kiện, yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện thuận lợi các chức năng của nó. Không có những điều kiện thuận lợi, hình phạt khó lòng bảo đảm tính hiệu quả của nó trong hoạt động xã hội. Bên cạnh đó, để đánh giá chính xác mức độ HQCHP, cần xuất phát từ những cơ sở hợp lý có tính căn cứ. Do đó, mức độ HQCHP chỉ có thể được đánh giá trên cơ sở các tiêu chí cụ thể. Chung quy lại có thể thấy, đánh giá mức độ HQCHP cần thiết phải được tiến hành trên cơ sở đánh giá mức độ đạt được các tiêu chí và khả năng, triển vọng của các yếu tố bảo đảm. Khi nói đến HQCHP, cần phải làm rõ mức độ hiệu quả của từng khía cạnh cụ thể của hình phạt. Xét ở khía cạnh quá trình, mức độ HQCHP được hợp thành từ mức độ hiệu quả của quá trình xây dựng, áp dụng và thi hành hình phạt. Xét ở cấu trúc hình thức bên trong, mức độ HQCHP được hợp thành từ mức độ hiệu quả của hệ thống hình phạt nói chung, cụ thể là của từng loại hình phạt nói riêng.

Tính hiệu quả phải được bảo đảm xuyên suốt cả quá trình của hình phạt. Việc xây dựng, thiết kế nội dung, quy định, loại và hệ thống hình phạt chặt chẽ, khoa học, phù hợp với nhu cầu đấu tranh tội phạm, thuận tiện trong áp dụng và thi hành là xuất phát điểm quan trọng để hình phạt có khả năng đạt được những hiệu quả cao trong thực tiễn. Dĩ nhiên, mỗi quá trình của hình phạt có những vai trò cụ thể góp phần hình thành các mức độ hiệu quả khác nhau, cho nên không thể vì lẽ đó mà tuyệt đối hóa vai trò của bất kì giai đoạn, quá trình riêng lẻ nào của hình phạt. Bởi lẽ, việc có được các quy định pháp luật hình sự về hình phạt chất lượng nhưng việc áp dụng và thi hành chúng trong thực tiễn lại tùy tiện, không theo những nguyên tắc, thể hiện quan điểm chính sách hình sự thì HQCHP vẫn không được bảo đảm xét từ khía cạnh tổng thể.

Dưới góc độ là một chế định pháp luật hình sự, hình phạt bao gồm trong nó các loại hình phạt cụ thể, tạo nên một chỉnh thể hệ thống hình phạt. Do đó, cần phải bảo đảm các điều kiện phát huy hiệu quả của từng loại hình phạt trong hệ thống hình phạt. Mỗi hình phạt có những vai trò thuyết phục, cưỡng chế, khối lượng trừng trị riêng và hướng tới việc tác động vào những nhóm đối tượng cụ thể và giải quyết những nhiệm vụ khác nhau trong chỉnh thể mục đích chung của cả hệ thống hình phạt. Điều này cho thấy, trong đánh giá mức độ HQCHP, không thể chỉ chú trọng vào những hình phạt này mà quên đi vai trò của những hình phạt khác. Hiệu quả của hệ thống hình phạt được bảo đảm bởi sự đồng đều trong hiệu quả của từng loại hình phạt. Căn cứ vào từng đặc thù khác nhau, mỗi loại hình phạt có những tiêu chí đánh giá và yếu tố bảo đảm cụ thể.

Đánh giá HQCHP cần có những phương pháp cụ thể, bao gồm các phương pháp định tính và định lượng. Các phương pháp định tính và định lượng được áp dụng một cách hài hòa trong việc xử lí các thông tin phản ánh mức độ đạt được các kết quả thực tế của hình phạt. Các phương pháp định tính, định lượng được sử dụng nhiều trong việc phân tích các thông số cụ thể của từng chỉ số, chỉ báo trong các tiêu chí và yếu tố bảo đảm HQCHP. Các phương pháp này có vai trò cụ thể hóa, tiêu chuẩn hóa các chỉ số, chỉ báo để đánh giá từng tiêu chí và yếu tố bảo đảm HQCHP.

Có thể thấy rằng, nhận thức về HQCHP là một chỉnh thể các vấn đề có tính liên hoàn, hệ thống. Bản chất của đánh giá HQCHP chính là mức độ đạt được các kết quả xã hội của nó trong mối tương quan các chi phí bỏ ra, cân nhắc tỉ mỉ ở từng quá trình, từng loại hình phạt. Với nhận thức đó, có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của HQCHP thông qua khái niệm: “Hiệu quả của hình phạt là sự hiện thực hóa và thỏa mãn các lợi ích xã hội trong quá trình tác động vào thực tiễn của từng loại, hệ thống hình phạt tương xứng với mục đích đã đề ra và khả năng chi phí xã hội cho phép”.

2. Hướng nghiên cứu về hiệu quả của hình phạt trong giai đoạn hiện nay

Giá trị của việc nghiên cứu HQCHP không chỉ làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản, mà còn là cơ sở triển khai đánh giá thực tiễn hiệu quả của từng loại hình phạt, của hệ thống hình phạt trong đời sống xã hội, phù hợp với chính sách hình sự của quốc gia đang theo đuổi. Để phát triển chủ đề này thành một xu hướng nghiên cứu trong khoa học pháp lý hình sự, cần phải quan tâm những khía cạnh cơ bản như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu mối quan hệ giữa các lợi ích xã hội và hậu quả xã hội của hình phạt. Lợi ích và hậu quả là hai mặt cơ bản của hình phạt, bởi lẽ, chế tài hình sự này vừa đem đến những kết quả và hậu quả khi chúng được áp dụng trong thực tiễn. Quan điểm về HQCHP phụ thuộc rất lớn vào việc đề ra như thế nào các mục đích của hình phạt, trong khi đó, mục đích của hình phạt là kết quả của sự điều tiết giữa những lợi ích xã hội và hậu quả xã hội của hình phạt. Do đó, việc tìm hiểu để nhận diện, đánh giá và định hướng các lợi ích xã hội, hậu quả xã hội của hình phạt có giá trị cơ bản nhất trong mọi nghiên cứu về HQCHP[3].

Thứ hai, các chi phí xã hội của hình phạt. Các nghiên cứu về chi phí xã hội của hình phạt cần phân tích những vấn đề cơ bản như: Nhận diện các chi phí xã hội hiện hữu trong quá trình xây dựng, áp dụng, thi hành hình phạt; phương thức tính toán các chi phí xã hội đó; nguyên tắc và các giải pháp tiết kiệm chi phí xã hội của hình phạt… Chủ đề này có thể mở ra các hướng nghiên cứu để đánh giá các chi phí xã hội của từng quá trình xây dựng, áp dụng, thi hành hình phạt hoặc chi phí xã hội của từng loại hình phạt. Cần phải thấy rằng, đây là hướng nghiên cứu mới và vô cùng phức tạp khi phải sử dụng tổng hợp các kiến thức liên ngành và thu thập đánh giá một khối lượng lớn các số liệu thực tiễn khác nhau chứ không chỉ là việc phân tích các quy phạm thuần túy.

Thứ ba, mức độ hiệu quả của từng quá trình của hình phạt. Hình phạt trong đạo luật hình sự là những quy phạm nhưng việc vận dụng chúng trong thực tiễn lại là một quá trình xã hội. Như đã đề cập, HQCHP được quyết định bởi một yếu tố vô cùng quan trọng là hiệu quả của từng quá trình của hình phạt, từ khi xây dựng, áp dụng cho đến lúc thi hành. Mỗi quá trình có những đặc thù cụ thể, có những điều kiện và các yếu tố riêng để đánh giá và bảo đảm hiệu quả của từng quá trình đó trong yêu cầu chung về HQCHP. Từ đó cho thấy, việc hình thành các xu hướng nghiên cứu chung về hiệu quả của từng quá trình của hình phạt là vô cùng cần thiết.

Thứ tư, mức độ hiệu quả của từng loại hình phạt. Nghiên cứu về hiệu quả của từng loại hình phạt không phải là chưa từng được nêu ra trong giới nghiên cứu pháp lý hình sự. Tuy nhiên, các mối quan tâm về chủ đề này thường được lồng ghép trong các nghiên cứu quy phạm thực định về hình phạt, mà chưa được tách biệt ra thành một đối tượng nghiên cứu riêng. Nghiên cứu về hiệu quả của từng loại hình phạt có những lý thuyết và giá trị thực tiễn riêng của nó.

Thứ năm, các tiêu chí đánh giá HQCHP. Các tiêu chí là những căn cứ định tính, định lượng cụ thể nhằm đánh giá mức độ HQCHP, hay nói cách khác, chúng ta không thể đánh giá mức độ HQCHP mà không có các công cụ, tiêu chí trong tay. Vì vậy, định hướng nghiên cứu này là cần thiết với tư cách là một vấn đề cơ bản của lý luận về HQCHP. Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá HQCHP phải làm sáng tỏ các vấn đề về khái niệm các tiêu chí, phân loại các tiêu chí, cơ sở của tiêu chí, mối quan hệ của các tiêu chí, các chỉ số, chỉ báo, tiêu chuẩn của tiêu chí…

Thứ sáu, các yếu tố bảo đảm HQCHP. Các nghiên cứu về yếu tố bảo đảm HQCHP phải làm sáng tỏ các vấn đề về khái niệm các yếu tố bảo đảm, phân loại các yếu tố bảo đảm, cơ sở của các yếu bảo đảm, mối quan hệ của các yếu tố bảo đảm, các chỉ số, chỉ báo, tiêu chuẩn của các yếu tố bảo đảm. Tùy theo cách tiếp cận, có thể phân loại các yếu tố bảo đảm HQCHP theo các nhóm như sau: Nhóm các yếu tố chung (chính sách, pháp lý, thiết chế, tổ chức thực hiện, nhân thân con người), các yếu tố bảo đảm theo từng loại hình phạt cụ thể, các yếu tố bảo đảm theo từng quá trình cụ thể của hình phạt.

Thứ bảy, các phương hướng và giải pháp nâng cao HQCHP. Mọi nghiên cứu sẽ trở nên vô nghĩa nếu đích đến cuối cùng của chúng không phải là đề xuất các phương hướng, giải pháp. Nghiên cứu về HQCHP không chỉ nhằm trang bị nhận thức nội hàm về hiệu quả của chế tài hình sự này mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả của chúng. Phương hướng và giải pháp nâng cao HQCHP chỉ có căn cứ khi xuất phát từ nền tảng kết quả của ít nhất sáu hướng nghiên cứu nêu trên.

Các định hướng nêu trên có sự độc lập trong đối tượng nghiên cứu, nhưng khi triển khai có thể thấy rõ mối quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Vì vậy, về mặt giả thuyết, đó là những hướng nghiên cứu độc lập nhưng khi lựa chọn một chủ đề để theo đuổi, các tác giả không thể không cân nhắc và sử dụng những kết quả của các hướng nghiên cứu còn lại. Chẳng hạn, khi nghiên cứu hiệu quả của hình phạt tù, nhất thiết phải đề cập tới hậu quả xã hội và các chi phí xã hội của hình phạt tù, các tiêu chí và yếu tố bảo đảm trong quá trình xây dựng, áp dụng, thi hành của hình phạt tù, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt này. Một trong những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 là quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, từ đó xây dựng một hệ thống hình phạt dành riêng cho nhóm chủ thể này. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội được dự đoán có thể là một xu hướng nghiên cứu mới trong thời gian tới. Do đó, cần thiết phải triển khai đồng bộ các nghiên cứu về HQCHP được sử dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội trên cơ sở các lý thuyết về HQCHP nói chung đang có hiện nay.

TS. Võ Khánh Linh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Võ Khánh Linh, “Tính quyết định xã hội của hình phạt: Một số khía cạnh lý luận”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 10(41)/2016, tr. 30 - 36.

[2]. Xem thêm: Nguyễn Minh Khuê, “Hiệu quả của các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Việt Nam - đánh giá dưới góc độ chi phí xã hội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2014, tr. 57 - 64.

[3]. Đối với hướng nghiên cứu này, cần tham khảo thêm cuốn “Lợi ích xã hội và pháp luật” của GS.TS. Võ Khánh Vinh được công bố năm 2003 Nhà xuất bản Công an nhân dân.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: