Thứ ba 06/10/2026 15:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hiệu quả của hình phạt và các hướng nghiên cứu hiện nay

Tóm tắt: Hiệu quả của hình phạt không phải là một lĩnh vực mới trong khoa học pháp lý hình sự, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về chủ đề này ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn khiêm tốn, trong khi nhu cầu tìm hiểu lý luận để đánh giá hiệu quả của từng loại hình phạt trong thực tiễn là rất cấp thiết. Với những nhận thức cơ bản về hiệu quả của hình phạt, bài viết đề xuất một số hướng nghiên cứu cấp bách về chủ đề này.

Abstract: Effect of punishment is not a new area in the criminal science. Research works about this subject in our country, however, have been modest in recent time while the demand for studying theory of assessing effect of each type of punishment is urgent in the practice. From fundamental knowledge of effect of punishment, the paper proposes some urgent research orientations relating to this subject.

1. Nhận thức cơ bản về hiệu quả của hình phạt

Tính quyết định xã hội của hình phạt đã chỉ ra rằng, các xu hướng phát triển của hình phạt được quyết định bởi những cơ sở, điều kiện và biến đổi xã hội trong thực tiễn[1]. Trong chiều ngược lại, khi hình phạt tác động vào đời sống xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nó, đó chính là lúc vấn đề hiệu quả của hình phạt (HQCHP) được nảy sinh và cần được đánh giá. HQCHP được phản ánh thông qua sự phù hợp một cách thực tế trên nhiều phương diện khác nhau của hình phạt với các quan hệ xã hội đã quy định ra sự tồn tại của chế tài hình sự này. Sự phù hợp đó cao hay thấp tương ứng sẽ phản ánh các mức độ khác nhau về HQCHP. Để đánh giá sự phù hợp đó, cần phải làm sáng tỏ khách thể của các quan hệ xã hội đã quy định sự tồn tại và xu hướng phát triển của hình phạt, nghĩa là trả lời cho câu hỏi hình phạt phải phù hợp với cái gì? Các khách thể của những quan hệ xã hội đó phản ánh những lợi ích xã hội lý tưởng mà hình phạt cần đạt được trong thực tiễn. Như vậy, tất yếu cần phải đánh giá những lợi ích xã hội mà hình phạt đem lại thông qua các tác động xã hội của nó, tiếp đó so sánh những lợi ích xã hội thực tế này với những lợi ích xã hội lý tưởng mà hình phạt cần phải đạt được, từ đó, chúng ta có thể tìm kiếm các lời giải đáp, đánh giá về mức độ HQCHP hiện có.

Các lợi ích xã hội lý tưởng được đề cập trên đây chính là những mục đích của hình phạt được đề ra. Hình phạt có nhiều mục đích, tùy thuộc vào cách tiếp cận và nhiệm vụ mà hình phạt đặt ra trong những bối cảnh, thời điểm hay tình thế khác nhau. Đòi hỏi hình phạt thực sự có hiệu quả trong thực tiễn nghĩa là tối đa hóa việc đạt được và giải quyết các mục đích của hình phạt. Thực tế, việc giải quyết được đồng thời và có hệ thống các mục đích của hình phạt là rất nan giải, do đó, trong đánh giá HQCHP, cần đánh giá tính thứ bậc của các mục đích cụ thể đã đề ra để định hình các chiến lược khác nhau của việc hướng tới và đạt được những hiệu quả thực tế của hình phạt.

Cần phải thấy rằng, mục đích của hình phạt chỉ là một tiểu hệ thống các nhiệm vụ xã hội cần được giải quyết, vì vậy, trong quá trình sử dụng hình phạt, cần cân nhắc việc giải quyết các mục đích đó trong mối quan hệ hài hòa không phương hại nghiêm trọng tới các vấn đề xã hội khác. Hình phạt vốn dĩ là chế tài nghiêm khắc của Nhà nước, do đó, trong quá trình áp dụng, thi hành tất yếu sẽ để lại những hệ quả nhất định. Các hệ quả này là không thể tránh khỏi, vì vậy, điều quan trọng là làm giảm thiểu các xu hướng tiêu cực của những hệ quả đó ở những chỉ số được chấp nhận trong quan điểm HQCHP. Chẳng hạn, việc áp dụng hình phạt tiền để đẩy người chấp hành vào trạng thái khánh kiệt tài sản thì không phải là mục đích của hình phạt tiền; hình phạt tiền chỉ được coi là có hiệu quả khi nó tịch thu một khối lượng tài sản vừa đủ, tương đương với hậu quả xã hội từ hành vi phạm tội, để người chấp hành hình phạt cảm nhận độ sâu của sự trừng trị và hình thành thái độ tích cực trong tự giáo dục, tự cải tạo. Rõ ràng, nếu hình phạt bất chấp các hậu quả tiêu cực khác cho xã hội để đạt được những mục đích của mình thì vấn đề hiệu quả của nó cần được xem xét lại.

Việc tính toán các chi phí xã hội của pháp luật nói chung và các đạo luật nói riêng đang là vấn đề được quan tâm, nhất là trong bối cảnh việc sử dụng ngân sách nhà nước trong xây dựng, áp dụng pháp luật ở nước ta thời gian qua còn nhiều bất cập, lãng phí. Hình phạt là biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất, chính vì vậy, việc tổ chức triển khai hình phạt trong thực tiễn luôn tiêu tốn những nguồn lực xã hội lớn hơn so với việc tổ chức triển khai các chế tài pháp lý khác. Chẳng hạn, việc tổ chức triển khai hình phạt tù làm nảy sinh việc vận hành và quản lý các hệ thống trại giam luôn tiêu tốn rất nhiều nguồn lực của hệ thống các cơ quan tư pháp.

Các chi phí xã hội lớn trong sử dụng hình phạt là không thể tránh khỏi, vì vậy điều quan trọng là cân nhắc việc tiêu tốn các nguồn lực xã hội đến đâu, trong mức độ tương quan với những điều kiện xã hội cụ thể nào, để nhằm giải quyết các mục đích của hình phạt trên cơ sở nguyên tắc tiết kiệm các chi phí xã hội[2]. Nguyên tắc tiết kiệm các chi phí xã hội không cổ súy cho việc càng ít chi phí xã hội được tiêu tốn thì HQCHP càng cao. Giới hạn các chi phí xã hội được quyết định bởi những điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách hình sự, quản lý hành chính - tư pháp và sự phát triển của các thành tựu khoa học kĩ thuật… Mối quan hệ giữa HQCHP với các chi phí xã hội dành cho nó cần phải tuân thủ nguyên tắc: Khả năng lớn nhất giải quyết các mục đích xã hội đi đôi với việc tiết kiệm nhất các chi phí xã hội của việc sử dụng hình phạt.

Để hình phạt phát huy khả năng của mình, tất yếu đòi hỏi cần có những điều kiện, yếu tố bảo đảm cho việc thực hiện thuận lợi các chức năng của nó. Không có những điều kiện thuận lợi, hình phạt khó lòng bảo đảm tính hiệu quả của nó trong hoạt động xã hội. Bên cạnh đó, để đánh giá chính xác mức độ HQCHP, cần xuất phát từ những cơ sở hợp lý có tính căn cứ. Do đó, mức độ HQCHP chỉ có thể được đánh giá trên cơ sở các tiêu chí cụ thể. Chung quy lại có thể thấy, đánh giá mức độ HQCHP cần thiết phải được tiến hành trên cơ sở đánh giá mức độ đạt được các tiêu chí và khả năng, triển vọng của các yếu tố bảo đảm. Khi nói đến HQCHP, cần phải làm rõ mức độ hiệu quả của từng khía cạnh cụ thể của hình phạt. Xét ở khía cạnh quá trình, mức độ HQCHP được hợp thành từ mức độ hiệu quả của quá trình xây dựng, áp dụng và thi hành hình phạt. Xét ở cấu trúc hình thức bên trong, mức độ HQCHP được hợp thành từ mức độ hiệu quả của hệ thống hình phạt nói chung, cụ thể là của từng loại hình phạt nói riêng.

Tính hiệu quả phải được bảo đảm xuyên suốt cả quá trình của hình phạt. Việc xây dựng, thiết kế nội dung, quy định, loại và hệ thống hình phạt chặt chẽ, khoa học, phù hợp với nhu cầu đấu tranh tội phạm, thuận tiện trong áp dụng và thi hành là xuất phát điểm quan trọng để hình phạt có khả năng đạt được những hiệu quả cao trong thực tiễn. Dĩ nhiên, mỗi quá trình của hình phạt có những vai trò cụ thể góp phần hình thành các mức độ hiệu quả khác nhau, cho nên không thể vì lẽ đó mà tuyệt đối hóa vai trò của bất kì giai đoạn, quá trình riêng lẻ nào của hình phạt. Bởi lẽ, việc có được các quy định pháp luật hình sự về hình phạt chất lượng nhưng việc áp dụng và thi hành chúng trong thực tiễn lại tùy tiện, không theo những nguyên tắc, thể hiện quan điểm chính sách hình sự thì HQCHP vẫn không được bảo đảm xét từ khía cạnh tổng thể.

Dưới góc độ là một chế định pháp luật hình sự, hình phạt bao gồm trong nó các loại hình phạt cụ thể, tạo nên một chỉnh thể hệ thống hình phạt. Do đó, cần phải bảo đảm các điều kiện phát huy hiệu quả của từng loại hình phạt trong hệ thống hình phạt. Mỗi hình phạt có những vai trò thuyết phục, cưỡng chế, khối lượng trừng trị riêng và hướng tới việc tác động vào những nhóm đối tượng cụ thể và giải quyết những nhiệm vụ khác nhau trong chỉnh thể mục đích chung của cả hệ thống hình phạt. Điều này cho thấy, trong đánh giá mức độ HQCHP, không thể chỉ chú trọng vào những hình phạt này mà quên đi vai trò của những hình phạt khác. Hiệu quả của hệ thống hình phạt được bảo đảm bởi sự đồng đều trong hiệu quả của từng loại hình phạt. Căn cứ vào từng đặc thù khác nhau, mỗi loại hình phạt có những tiêu chí đánh giá và yếu tố bảo đảm cụ thể.

Đánh giá HQCHP cần có những phương pháp cụ thể, bao gồm các phương pháp định tính và định lượng. Các phương pháp định tính và định lượng được áp dụng một cách hài hòa trong việc xử lí các thông tin phản ánh mức độ đạt được các kết quả thực tế của hình phạt. Các phương pháp định tính, định lượng được sử dụng nhiều trong việc phân tích các thông số cụ thể của từng chỉ số, chỉ báo trong các tiêu chí và yếu tố bảo đảm HQCHP. Các phương pháp này có vai trò cụ thể hóa, tiêu chuẩn hóa các chỉ số, chỉ báo để đánh giá từng tiêu chí và yếu tố bảo đảm HQCHP.

Có thể thấy rằng, nhận thức về HQCHP là một chỉnh thể các vấn đề có tính liên hoàn, hệ thống. Bản chất của đánh giá HQCHP chính là mức độ đạt được các kết quả xã hội của nó trong mối tương quan các chi phí bỏ ra, cân nhắc tỉ mỉ ở từng quá trình, từng loại hình phạt. Với nhận thức đó, có thể khái quát những đặc điểm cơ bản của HQCHP thông qua khái niệm: “Hiệu quả của hình phạt là sự hiện thực hóa và thỏa mãn các lợi ích xã hội trong quá trình tác động vào thực tiễn của từng loại, hệ thống hình phạt tương xứng với mục đích đã đề ra và khả năng chi phí xã hội cho phép”.

2. Hướng nghiên cứu về hiệu quả của hình phạt trong giai đoạn hiện nay

Giá trị của việc nghiên cứu HQCHP không chỉ làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản, mà còn là cơ sở triển khai đánh giá thực tiễn hiệu quả của từng loại hình phạt, của hệ thống hình phạt trong đời sống xã hội, phù hợp với chính sách hình sự của quốc gia đang theo đuổi. Để phát triển chủ đề này thành một xu hướng nghiên cứu trong khoa học pháp lý hình sự, cần phải quan tâm những khía cạnh cơ bản như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu mối quan hệ giữa các lợi ích xã hội và hậu quả xã hội của hình phạt. Lợi ích và hậu quả là hai mặt cơ bản của hình phạt, bởi lẽ, chế tài hình sự này vừa đem đến những kết quả và hậu quả khi chúng được áp dụng trong thực tiễn. Quan điểm về HQCHP phụ thuộc rất lớn vào việc đề ra như thế nào các mục đích của hình phạt, trong khi đó, mục đích của hình phạt là kết quả của sự điều tiết giữa những lợi ích xã hội và hậu quả xã hội của hình phạt. Do đó, việc tìm hiểu để nhận diện, đánh giá và định hướng các lợi ích xã hội, hậu quả xã hội của hình phạt có giá trị cơ bản nhất trong mọi nghiên cứu về HQCHP[3].

Thứ hai, các chi phí xã hội của hình phạt. Các nghiên cứu về chi phí xã hội của hình phạt cần phân tích những vấn đề cơ bản như: Nhận diện các chi phí xã hội hiện hữu trong quá trình xây dựng, áp dụng, thi hành hình phạt; phương thức tính toán các chi phí xã hội đó; nguyên tắc và các giải pháp tiết kiệm chi phí xã hội của hình phạt… Chủ đề này có thể mở ra các hướng nghiên cứu để đánh giá các chi phí xã hội của từng quá trình xây dựng, áp dụng, thi hành hình phạt hoặc chi phí xã hội của từng loại hình phạt. Cần phải thấy rằng, đây là hướng nghiên cứu mới và vô cùng phức tạp khi phải sử dụng tổng hợp các kiến thức liên ngành và thu thập đánh giá một khối lượng lớn các số liệu thực tiễn khác nhau chứ không chỉ là việc phân tích các quy phạm thuần túy.

Thứ ba, mức độ hiệu quả của từng quá trình của hình phạt. Hình phạt trong đạo luật hình sự là những quy phạm nhưng việc vận dụng chúng trong thực tiễn lại là một quá trình xã hội. Như đã đề cập, HQCHP được quyết định bởi một yếu tố vô cùng quan trọng là hiệu quả của từng quá trình của hình phạt, từ khi xây dựng, áp dụng cho đến lúc thi hành. Mỗi quá trình có những đặc thù cụ thể, có những điều kiện và các yếu tố riêng để đánh giá và bảo đảm hiệu quả của từng quá trình đó trong yêu cầu chung về HQCHP. Từ đó cho thấy, việc hình thành các xu hướng nghiên cứu chung về hiệu quả của từng quá trình của hình phạt là vô cùng cần thiết.

Thứ tư, mức độ hiệu quả của từng loại hình phạt. Nghiên cứu về hiệu quả của từng loại hình phạt không phải là chưa từng được nêu ra trong giới nghiên cứu pháp lý hình sự. Tuy nhiên, các mối quan tâm về chủ đề này thường được lồng ghép trong các nghiên cứu quy phạm thực định về hình phạt, mà chưa được tách biệt ra thành một đối tượng nghiên cứu riêng. Nghiên cứu về hiệu quả của từng loại hình phạt có những lý thuyết và giá trị thực tiễn riêng của nó.

Thứ năm, các tiêu chí đánh giá HQCHP. Các tiêu chí là những căn cứ định tính, định lượng cụ thể nhằm đánh giá mức độ HQCHP, hay nói cách khác, chúng ta không thể đánh giá mức độ HQCHP mà không có các công cụ, tiêu chí trong tay. Vì vậy, định hướng nghiên cứu này là cần thiết với tư cách là một vấn đề cơ bản của lý luận về HQCHP. Các nghiên cứu về tiêu chí đánh giá HQCHP phải làm sáng tỏ các vấn đề về khái niệm các tiêu chí, phân loại các tiêu chí, cơ sở của tiêu chí, mối quan hệ của các tiêu chí, các chỉ số, chỉ báo, tiêu chuẩn của tiêu chí…

Thứ sáu, các yếu tố bảo đảm HQCHP. Các nghiên cứu về yếu tố bảo đảm HQCHP phải làm sáng tỏ các vấn đề về khái niệm các yếu tố bảo đảm, phân loại các yếu tố bảo đảm, cơ sở của các yếu bảo đảm, mối quan hệ của các yếu tố bảo đảm, các chỉ số, chỉ báo, tiêu chuẩn của các yếu tố bảo đảm. Tùy theo cách tiếp cận, có thể phân loại các yếu tố bảo đảm HQCHP theo các nhóm như sau: Nhóm các yếu tố chung (chính sách, pháp lý, thiết chế, tổ chức thực hiện, nhân thân con người), các yếu tố bảo đảm theo từng loại hình phạt cụ thể, các yếu tố bảo đảm theo từng quá trình cụ thể của hình phạt.

Thứ bảy, các phương hướng và giải pháp nâng cao HQCHP. Mọi nghiên cứu sẽ trở nên vô nghĩa nếu đích đến cuối cùng của chúng không phải là đề xuất các phương hướng, giải pháp. Nghiên cứu về HQCHP không chỉ nhằm trang bị nhận thức nội hàm về hiệu quả của chế tài hình sự này mà còn hướng tới nâng cao hiệu quả của chúng. Phương hướng và giải pháp nâng cao HQCHP chỉ có căn cứ khi xuất phát từ nền tảng kết quả của ít nhất sáu hướng nghiên cứu nêu trên.

Các định hướng nêu trên có sự độc lập trong đối tượng nghiên cứu, nhưng khi triển khai có thể thấy rõ mối quan hệ hữu cơ và bổ trợ lẫn nhau. Vì vậy, về mặt giả thuyết, đó là những hướng nghiên cứu độc lập nhưng khi lựa chọn một chủ đề để theo đuổi, các tác giả không thể không cân nhắc và sử dụng những kết quả của các hướng nghiên cứu còn lại. Chẳng hạn, khi nghiên cứu hiệu quả của hình phạt tù, nhất thiết phải đề cập tới hậu quả xã hội và các chi phí xã hội của hình phạt tù, các tiêu chí và yếu tố bảo đảm trong quá trình xây dựng, áp dụng, thi hành của hình phạt tù, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt này. Một trong những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 là quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, từ đó xây dựng một hệ thống hình phạt dành riêng cho nhóm chủ thể này. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội được dự đoán có thể là một xu hướng nghiên cứu mới trong thời gian tới. Do đó, cần thiết phải triển khai đồng bộ các nghiên cứu về HQCHP được sử dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội trên cơ sở các lý thuyết về HQCHP nói chung đang có hiện nay.

TS. Võ Khánh Linh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Võ Khánh Linh, “Tính quyết định xã hội của hình phạt: Một số khía cạnh lý luận”, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số 10(41)/2016, tr. 30 - 36.

[2]. Xem thêm: Nguyễn Minh Khuê, “Hiệu quả của các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của Việt Nam - đánh giá dưới góc độ chi phí xã hội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2014, tr. 57 - 64.

[3]. Đối với hướng nghiên cứu này, cần tham khảo thêm cuốn “Lợi ích xã hội và pháp luật” của GS.TS. Võ Khánh Vinh được công bố năm 2003 Nhà xuất bản Công an nhân dân.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: