Thứ sáu 06/03/2026 06:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hộ kinh doanh theo quy định pháp luật Việt Nam

Bài viết đi sâu phân tích các khía cạnh khái niệm hộ kinh doanh, đưa ra thực trạng hoạt động hộ kinh doanh tại Việt Nam và kiến nghị, giải pháp phát triển hộ kinh doanh.

Hộ kinh doanh là một loại hình kinh doanh đặc biệt, có tính đặc thù của hệ thống tổ chức kinh doanh ở nước ta. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cùng với các loại hình kinh doanh khác, hộ kinh doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tế hoạt động của hộ kinh doanh của Việt Nam hiện nay chưa phát huy được hết các tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh như: Quy mô nhỏ; vốn ít; công nghệ lạc hậu; sức cạnh của hàng hóa thấp... Nguyên nhân do hộ kinh doanh chưa có kinh nghiệm trong nền kinh tế thị trường; chưa năng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, cũng do chưa có một hệ thống khung pháp lý rõ ràng, ổn định từ phía Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho hộ kinh doanh phát huy hết khả năng của mình.

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay, kinh tế hộ kinh doanh là một lực lượng quan trọng, có vai trò đáng kể trong việc tạo ra của cải vật chất, hàng hóa, dịch vụ cho xã hội, trực tiếp đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người lao động và giải quyết các vấn đề xã hội khác. Dù hoạt động kinh tế dưới hình thức hộ kinh doanh trong thời gian qua đã đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước nhưng vẫn chưa tương xứng với quy mô phát triển. Do vậy, Nhà nước cần có những giải pháp nhằm thay đổi về cơ chế, chính sách quản lý đối với hình thức kinh doanh này để thúc đẩy sự phát triển, loại bỏ những bất cập trong công tác quản lý, giám sát, hạn chế tối đa sự thất thu cho nền kinh tế và ngân sách nhà nước.

1. Khái niệm hộ kinh doanh

Việc nghiên cứu kinh tế hộ gia đình bắt đầu từ hộ gia đình nông dân, sau đó mở rộng ra hộ gia đình nói chung. Có thể nói, người đầu tiên xây dựng lý thuyết về kinh tế gia đình nông dân là nhà kinh tế học người Nga Alexander Chayanov. Ông cho rằng hộ gia đình nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng. Hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình. Theo ông, đó là các khái niệm kinh tế thông thường không thể áp dụng cho hình thức kinh doanh hộ gia đình.

Ở Việt Nam, hộ kinh doanh được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: Tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa, hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ, hộ tiểu thủ công nghiệp… các tên gọi này cũng thay đổi theo từng thời kỳ và quan niệm hộ kinh doanh tồn tại như một hình thức kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ như hộ gia đình cũng dần bị thay đổi. Cụ thể:

Theo quy định của Nghị định số 27-HĐBT ngày 09/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải (Nghị định số 27-HĐBT), các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh được xem là các đơn vị kinh tế tự quản có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi. Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo hình thức: Hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp, xí nghiệp tư doanh.

Đặc biệt, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành thì “hộ cá thể” được đổi tên thành “hộ kinh doanh cá thể” và được ghi nhận tại Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Theo đó, hộ kinh doanh cá thể được định nghĩa: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.

Đến khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời thì một lần nữa sửa đổi tên “hộ kinh doanh cá thể” thành “hộ kinh doanh” và được định nghĩa tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh, sau đó được thay thế bằng Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 43/2010/Đ-CP). Theo đó: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Như vậy, so với quy định trước đây thì Nghị định số 43/2010/NĐ-CP đã thu hẹp phạm vi hộ kinh doanh, hộ kinh doanh nếu là cá nhân làm chủ thì phải là công dân Việt Nam.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời thay cho Luật Doanh nghiệp năm 2005 mặc dù vẫn dùng thuật ngữ “hộ kinh doanh” nhưng tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định số 78/2015/NĐ-CP) lại có một khái niệm khác hơn trước. Cụ thể, Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Như vậy, so với Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì Nghị định số 78/2015/NĐ-CP tiếp tục thu hẹp lại chủ thể của hộ kinh doanh. Chủ thể là cá nhân hay nhóm cá nhân đều phải là công dân Việt Nam và phải đủ 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi dân sự thì mới được phép đăng ký hộ kinh doanh. Từ định nghĩa có thể hiểu, hộ kinh doanh được chia thành ba loại căn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (i) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân này phải là công dân Việt Nam và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; (ii) Hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ, những người này phải là công dân Việt Nam và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; (iii) Hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ.

Như vậy, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014: “Hộ kinh doanh là cá nhân kinh doanh, cũng có thể là hộ gia đình kinh doanh hoặc là một nhóm người cùng nhau góp vốn, công sức để kinh doanh”. Bên cạnh đó, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP cũng quy định đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp mặc dù không đăng ký kinh doanh nhưng vẫn được xem là hộ kinh doanh.

2. Thực trạng hoạt động hộ kinh doanh tại Việt Nam

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 của Đảng ta xác định việc thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế là tất yếu, trong đó có thành phần kinh tế cá thể. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 tiếp tục khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ ở nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước…”. Các thành phần kinh tế này tồn tại khách quan tương ứng với tổ chức và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đặc biệt, kinh tế cá thể là những đơn vị kinh tế mà hoạt động sản xuất, kinh doanh dựa vào nguồn vốn và sức lao động của từng hộ là chủ yếu. Thành phần kinh tế cá thể tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng ngày càng phát triển, chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân.

Sau đổi mới, cùng với sự chuyển biến to lớn của nền kinh tế, các thành phần kinh tế nước ta từng bước phát triển và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí trong nền kinh tế nhiều thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, kinh tế cá thể không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này còn đóng góp vào ngân sách nhà nước chiếm một tỷ trọng tương đối lớn; đồng thời, thu hút được một lực lượng lớn lao động nhàn rỗi, đáp ứng các yêu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa bảo đảm hết; tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân thành thị và nông thôn.

Kinh tế cá thể phát triển và hoạt động trong mọi ngành nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ… Đặc điểm của thành phần kinh tế cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh có quyền tự quyết định quá trình hoạt động kinh doanh của mình từ khâu sản xuất, phân phối đến tiêu thụ sản phẩm. Nhìn chung, hoạt động kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động. Đặc biệt, thành phần kinh tế cá thể rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trường và nền kinh tế.

Ở nước ta, thành phần kinh tế cá thể phần lớn hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, hiện đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng và lâu dài. Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, thương mại và dịch vụ, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, hoạt động kinh tế dưới hình thức hộ kinh doanh được xác định là một trong những giải pháp thoát nghèo, tạo thu nhập cho những người không có việc làm, lao động nhàn rỗi. Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, năm 2019, cả nước có khoảng 5,5 triệu hộ kinh doanh, ước tính tổng tài sản khoảng trên 655 nghìn tỷ đồng, tạo ra doanh thu trên 2,2 triệu tỷ đồng, nộp thuế 12.362 tỷ đồng, giải quyết được 7,945 triệu lao động[1]. Qua đó cho thấy, hộ kinh doanh mặc dù có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế, nhất là trong khâu giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động nhưng so với tiềm năng đóng góp của khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với quy mô thực tế.

Chính vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XII) đã thống nhất quan điểm chỉ đạo phát triển hộ kinh doanh là: “Thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình hưởng ứng tích cực của nhân dân, hộ kinh doanh đã phát triển rộng khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Cùng với các loại hình kinh doanh khác, sự phát triển của hộ kinh doanh đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam, thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục…”.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, về mặt cơ chế, chính sách, những quy định pháp luật về hoạt động của hộ kinh doanh vẫn chưa thật sự rõ ràng, đầy đủ, chi tiết và hộ kinh doanh chưa được luật hóa thành những quy định pháp luật riêng. Trong quá trình hoạt động, hộ kinh doanh vẫn còn gặp khó khăn về cơ chế như: Hỗ trợ vay vốn, số lượng lao động, quyền và nghĩa vụ của các thành viên khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đa số hoạt động của các hộ kinh doanh đều dưới hình thức hoạt động kinh tế gia đình, đơn giản và nhỏ lẻ, chủ yếu là lao động thủ công, chưa ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu chế biến, sản xuất và tiêu dùng. Việc liên kết, hợp tác giữa các thành viên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ vẫn còn rời rạc, manh mún, đa phần các hộ đều tự thân vận động là chính. Mặt khác, trong công tác quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động hộ kinh doanh vẫn còn lỏng lẻo, chưa thật sự thường xuyên, liên tục và hiện nay đang xảy ra tình trạng quản lý “mỗi nơi một kiểu”… điều này gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời gây bất lợi cho các chủ thể trong xã hội khi tham gia sản xuất, kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh; làm hạn chế sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh, gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích nhà nước, lợi ích chung của toàn xã hội.

3. Một số giải pháp phát triển hộ kinh doanh

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của hộ kinh doanh, nhằm giúp các hộ kinh doanh phát triển với những điều kiện thuận lợi và giúp công tác quản lý nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn, cần quan tâm một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, hình thức hộ kinh doanh là một trong những hình thức kinh doanh phổ biến trong xã hội bởi sự đơn giản trong thủ tục thành lập và chi phí gia nhập thị trường thấp. Thành lập hộ kinh doanh cũng cho phép người thành lập được chủ động, độc lập hoàn toàn trong việc đưa ra các quyết định trong phạm vi hoạt động kinh doanh của mình. Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh. Như vậy, sự hình thành và phát triển mô hình hộ kinh doanh là tuân theo quy luật vận động tự nhiên của nền kinh tế, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của hoạt động đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thực tiễn hộ kinh doanh vẫn còn một số hạn chế nhất định về vốn, lao động, về quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh... Chính vì vậy, pháp luật Việt Nam cần ban hành những quy định pháp lý riêng về hoạt động hộ kinh doanh nhằm bảo đảm việc thực thi có hiệu quả các chính sách quản lý nhà nước đối với hình thức kinh doanh này.

Thứ hai, hoạt động kinh tế của hộ kinh doanh trong thực tế phát triển rất đa dạng, phong phú, đủ các ngành, nghề và cần phải được quy hoạch tổng thể, có kế hoạch phát triển lâu dài gắn với phát triển kinh tế tập thể và quốc doanh trên cơ sở sắp xếp, bố trí, điều chỉnh lao động một cách hợp lý nhằm khai thác tối đa các tiềm năng về tự nhiên (đất đai, ao hồ, biển, làng nghề…), lao động (lao động chính và nhàn rỗi), nguồn vốn trong gia đình và thành viên tham gia.

Thứ ba, hoạt động kinh tế hộ kinh doanh phải trở thành hoạt động kinh tế hàng hóa thị trường trên cơ sở triển khai và ứng dụng có hiệu quả những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gắn với thị trường tiêu thụ ở từng vùng, từng khu vực và phục vụ cho xuất khẩu.

Thứ tư, hình thức hộ kinh doanh không chỉ phát triển ở nông thôn mà còn ở cả thành phố, thị xã, thị trấn, đồng thời ở các khu vực quốc doanh, tập thể. Phát triển kinh tế hộ kinh doanh gắn với phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, phát triển tiểu thủ công nghiệp, phát triển các ngành nghề thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống ở địa phương từng vùng như: Dệt chiếu, đan lát, may mặc, thêu đan, nghề mộc…

Thứ năm, để hoạt động của hộ kinh doanh đạt hiệu quả thì các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh doanh cần có kế hoạch, phương hướng hoạt động hàng năm, lập sổ thu chi hàng tháng để theo dõi, dự phòng nguồn vốn sản xuất và tái sản xuất; tăng cường liên kết, hợp tác giữa các thành viên để hỗ trợ nhau về vốn, lao động và kỹ thuật trên tinh thần tương trợ xã hội chủ nghĩa, nhất là đầu tư hỗ trợ vốn, kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh đối với những hộ không có khả năng.

Thứ sáu, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động kinh tế hộ kinh doanh cũng như thường xuyên hướng dẫn và khuyến khích các hộ phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng phát triển kinh tế chung của Nhà nước. Qua đó, giúp Nhà nước kiểm tra, kiểm soát hiệu quả hoạt động các ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh trong thực tiễn; giúp các cơ quan quản lý kinh tế có những định hướng phát triển ngành, nghề kinh doanh phù hợp với từng địa phương, khu vực, bảo đảm sự công bằng xã hội và phát triển bền vững của nền kinh tế.

Trần Hữu Nghĩa

Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ

1. https://www.vcci.com.vn/vi-sao-5-trieu-ho-kinh-doanh-khong-chiu-lon.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: