Thứ năm 15/01/2026 09:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về công tác theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam

Ngày 16 và 17/4/2013 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer Stiftung) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, đại diện Bộ Tư pháp

Ngày 16 và 17/4/2013 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer Stiftung) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, đại diện Bộ Tư pháp, đại diện pháp chế các bộ, ngành và đại biểu từ các địa phương tham dự. Một số nội dung cơ bản được quan tâm, bàn luận sôi nổi nhất tại hội thảo là quá trình triển khai Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp trên thực tiễn; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện; những kiến nghị, đề xuất. Các đại biểu cũng trao đổi về việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật; góp ý dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về công tác theo dõi thi hành pháp luật.

1. Về việc triển khai Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ

Theo quy định tại Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ, phạm vi trách nhiệm theo dõi thi hành pháp luật được giao cho Bộ Tư pháp, các bộ và cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ mình; có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia để làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Bộ và các cơ quan ngang bộ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ và có trách nhiệm xây dựng, ban hành Chỉ tiêu thống kê ngành để xem xét đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước ở địa phương, hàng năm có trách nhiệm báo cáo tình hình theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương mình.

Sau một thời gian thực hiện, về cơ bản việc triển khai thực hiện nghị định đem lại những hiệu quả nhất định. Ở các bộ, ngành cũng như ở các địa phương công tác ban hành văn bản quản lý; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, mức độ kịp thời, công khai minh bạch trong thực hiện pháp luật… được chú trọng và không ngừng hoàn thiện.

Điển hình tại TP. Đà Nẵng, năm 2012 Ủy ban nhân dân đã ban hành 03 văn bản quy phạm pháp luật nhằm phục vụ công tác quản lý điều hành về công tác tư pháp, ban hành 36 quyết định, trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành 09 nghị quyết. Công tác góp ý thẩm định văn bản, công tác kiểm tra và rà soát hệ thống hóa văn bản, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật... nhìn chung đi vào ổn định, nề nếp, việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân... cũng có nhiều chuyển biến tích cực.

Về pháp chế bộ, ngành, đại diện Vụ pháp chế, Kiểm toán nhà nước cho biết, đây là công tác tương đối mới nhưng đơn vị Kiểm toán nhà nước đã triển khai thực hiện tốt công tác này, đã ban hành được Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đến năm 2020. Từ khi triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật đơn vị kiểm toán đã có được hiệu quả rõ rệt như giảm bớt số ngày thực hiện kiểm toán, các hoạt động của đơn vị kiểm toán cũng được cải tiến...

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật vẫn còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc cần có biện pháp tháo gỡ, tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. Theo dõi thi hành pháp luật là một công tác phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chung tay các ngành, tổ chức. Điều này được quy định tại Điều 18 Nghị định số 59/NĐ-CP quy định về cơ chế phối hợp: "Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật". Việc triển khai sự phối hợp này trên thực tế lại gặp phải nhiều khó khăn, trách nhiệm phối hợp quy định trong nghị định vẫn chung chung, không được quy định một cách rõ ràng, cụ thể. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác này chỉ có quyền yêu cầu các đơn vị, tổ chức phối hợp. Nếu các cơ quan được yêu cầu phối hợp (như Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc...) không hợp tác thì cũng không có cơ chế để thực hiện, không có chế tài áp dụng cho hành vi này. Theo đại biểu đại diện Vụ pháp chế Bộ Công an, chúng ta có thể kiến nghị theo hướng đưa cơ quan công an vào cuộc, cơ quan công an sẽ là cơ quan trung gian của sự phối hợp. Nếu các cơ quan, tổ chức từ chối không hợp tác, các bộ, ngành, địa phương có thể thông qua cơ quan công an lấy thông tin thống kê...

TS. Trần Văn Đạt, Bộ Tư pháp cũng cho rằng về cơ chế phối hợp và sự tham gia của các tổ chức, cá nhân hiện tại là rất khó khăn. Do đó, chúng ta nên quy định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức (Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc...) để huy động nhiều nguồn lực khác nhau của nhiều cơ quan, tổ chức. Có như vậy việc theo dõi thi hành pháp luật mới thực sự được triển khai một cách toàn diện và có hiệu quả.

Một khó khăn nữa là về hoạt động kiểm tra, giám sát và kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật. Theo Điều 6 của Nghị định thì bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp huy động Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hội xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia, nhà khoa học có đủ điu kiện tham gia hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo cơ chế cộng tác viên. Trên thực tế cơ chế này vẫn còn bỏ ngỏ vì chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể về cách sử dụng, trả thù lao cho những người là cộng tác viên. Việc ký hợp đồng cộng tác viên thì ký với người đại diện cơ quan, tổ chức hay ký với người trực tiếp đảm nhận công việc, việc chi thù lao chưa có hướng dẫn cụ thể nên các bộ, ngành vẫn còn lúng túng trong việc triển khai áp dụng. Các đại biểu cũng đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu để có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Cũng tại hội thảo, đa số các đại biểu tham dự đều cho rằng việc ban hành Nghị định số 159/NĐ-CP là một bước ngoặt lớn trong công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn như luật hay pháp lệnh để công tác này được thực hiện hiệu quả hơn trên thực tiễn.

2. Về việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật

Các đại biểu tham dự hội thảo, các chuyên gia pháp lý đều thống nhất việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật là vô cùng cần thiết. Muốn đánh giá chính xác hiệu quả của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, việc thực hiện pháp luật, tuân thủ pháp luật... chúng ta phải có căn cứ khoa học, có tiêu chí rõ ràng, cụ thể, phản ánh đúng hiện thực khách quan, tránh tình trạng chung chung, phiến diện và đánh giá mang tính chủ quan cảm tính.

Theo Điều 7 Nghị định số 59/NĐ-CP thì nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật có 3 nội dung chính:

"Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên cơ sở xem xét, đánh giá các nội dung sau đây:

1. Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

2. Tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật;

3. Tình hình tuân thủ pháp luật".

Để đánh giá những nội dung này, mỗi nội dung lại có tiêu chí riêng để đánh giá, được quy định cụ thể tại Điều 8, 9, 10 của Nghị định số 59/NĐ-CP.

Điều 8 quy định về nội dung xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật:

"1. Tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết.

2. Tính thống nhất, đồng bộ của văn bản.

3. Tính khả thi của văn bản".

Điều 9 quy định nội dung xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật:

1. Tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật.

2. Tính phù hợp của tổ chức bộ máy; mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật.

3. Mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật.

Điều 10 quy định nội dung xem xét, đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật:

"1. Tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

2. Tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

3. Mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân".

Các tiêu chí đã đề ra là mục đích hướng tới khi theo dõi thi hành pháp luật. ThS. Đỗ Đình Lương, Bộ Tư pháp cho rằng chúng ta cần phải xây dựng bộ tiêu chí sát thực, phải mang tính cầm tay cho những người quản lý và cán bộ trực tiếp thực hiện việc theo dõi trong cơ quan hành chính ở các cấp thu thập, cập nhật và báo cáo số liệu thống kê từ cơ sở và được tổng hợp trong từng lĩnh vực và ở mỗi địa phương lên trung ương để báo cáo số liệu thống kê chính thức, phục vụ cho việc đánh giá định lượng bên cạnh đánh giá định tính. Theo ThS. Đỗ Đình Lương chúng ta phải nghiên cứu, xây dựng một khung logic hay khung theo dõi tình hình thi hành pháp luật (bộ tiêu chí) và có thể áp dụng khung theo dõi này để thu thập các thông tin, dữ liệu cần thiết. Cùng bàn về vấn đề này, TS. Nguyễn Văn Cương cho rằng bên cạnh việc nghiên cứu hoàn thiện bộ chỉ số, điều quan trọng tiếp theo là phải củng cố công tác đo lường, đánh giá để hệ thống thống kê không chỉ là con số, mà nó phải được vận hành trọn vẹn, phát huy tác dụng, hiệu lực của nó, để công tác thống kê phản ánh đúng hiện thực khách quan.

3. Về dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật

Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật đã được tổ soạn thảo nghiên cứu, xây dựng và bước đầu được hoàn thiện. Hiện tại, dự thảo Thông tư gồm có 3 chương và 13 điều. Chương I về xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật (từ Điều 1 đến Điều 3); Chương II về thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật (từ Điều 4 đến Điều 10); Chương III về điều khoản thi hành (từ Điều 11 đến Điều 13). Các đại biểu cũng nghiên cứu dự thảo và có những ý kiến đóng góp thiết thực để thông tư nhanh chóng được ban hành, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, những lúng túng mà các cơ quan, đơn vị gặp phải trong quá trình thực thi công tác này.

Những nội dung còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 59 trên thực tế vẫn là những nội dung được các đại biểu quan tâm nhất trong dự thảo Thông tư hướng dẫn. Theo đại biểu Nguyễn Quế Anh, Sở Tư pháp Nghệ An, dự thảo Thông tư hiện tại vẫn còn đơn giản, sơ sài, chưa rõ ràng để các bộ, ngành, địa phương làm căn cứ thực hiện. Những vướng mắc nhất trên thực tế như về cơ chế phối hợp thì dự thảo Thông tư vẫn quy định chung chung, cần bổ sung, cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước ở địa phương, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ chế phối hợp như thế nào? Bên cạnh đó, Điều 5 của dự thảo về tình hình kiểm tra thi hành pháp luật cũng cần phải quy định cụ thể hơn. Đại biểu cũng cho rằng hiện nay có quá nhiều báo cáo, Bộ nên nghiên cứu, quy định cơ chế phối hợp, yêu cầu báo cáo chung, tránh tình trạng báo cáo chồng chéo; phải thống nhất về thời điểm chốt số liệu.

Đại biểu của Sở Tư pháp Hải Dương cho rằng đây là thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP do đó phải bám sát Nghị định số 59. Hiện tại dự thảo quy định nhiều điểm chưa sát với Nghị định như các quy định liên quan về việc ban hành kế hoạch, về việc thành lập đoàn kiểm tra hay về vấn đề kinh phí. Việc ban hành thông tư phải được nghiên cứu nghiêm túc, cụ thể hơn nữa tránh tình trạng thông tư hướng dẫn không cụ thể lại phải có công văn hướng dẫn.

Có ý kiến cho rằng, Điều 1 Chương I quy định vẫn chưa cụ thể. Về vấn đề này nên quy định rõ cơ quan cấp dưới có được ủy quyền không? Về việc xây dựng chuyên mục về tình hình thi hành pháp luật trên Cổng thông tin điện tử, cần cân nhắc thêm về việc có nên quy định việc Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng chuyên mục này hay không. Trước khi quy định về vấn đề này cần phải có khảo sát và đánh giá rõ ràng.

Phát biểu tại hội thảo, theo bà Rabea Brauer, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam thì Bộ Tư pháp còn phải làm nhiều vấn đề để hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật. Do tính chất phức tạp của vấn đề này chúng ta phải có sự đồng thuận ngay từ ban đầu, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của cơ quan nhà nước, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có lợi nhất cho Nhà nước và cho xã hội. Đối tượng chịu sự tác động nhiều nhất là người dân, do đó việc nâng cao nhận thức của người dân là quan trọng. Phải đưa ra những quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước, phải cố gấng cụ thể hóa và đưa ra những giải pháp cụ thể nhất về vấn đề này.

Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến góp ý của các đại biểu. Tổ soạn thảo Thông tư sẽ nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh sửa dự thảo, cố gắng hoàn thiện và ban hành thông tư trong thời gian sớm nhất, để tháo gỡ những khó khăn đang gặp phải trên thực tiễn, để công tác theo dõi thi hành pháp luật thực sự có hiệu quả, hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật ở nước ta.

Với những gì đã và đang làm, chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng rằng trong một thời gian không xa chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ, ngắn gọn, thống nhất, lâu dài.

Nguyễn Thị Vinh

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: