Chủ nhật 25/10/2026 20:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về công tác theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam

Ngày 16 và 17/4/2013 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer Stiftung) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, đại diện Bộ Tư pháp

Ngày 16 và 17/4/2013 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer Stiftung) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, đại diện Bộ Tư pháp, đại diện pháp chế các bộ, ngành và đại biểu từ các địa phương tham dự. Một số nội dung cơ bản được quan tâm, bàn luận sôi nổi nhất tại hội thảo là quá trình triển khai Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp trên thực tiễn; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện; những kiến nghị, đề xuất. Các đại biểu cũng trao đổi về việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật; góp ý dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về công tác theo dõi thi hành pháp luật.

1. Về việc triển khai Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ

Theo quy định tại Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ, phạm vi trách nhiệm theo dõi thi hành pháp luật được giao cho Bộ Tư pháp, các bộ và cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ mình; có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia để làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Bộ và các cơ quan ngang bộ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ và có trách nhiệm xây dựng, ban hành Chỉ tiêu thống kê ngành để xem xét đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước ở địa phương, hàng năm có trách nhiệm báo cáo tình hình theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương mình.

Sau một thời gian thực hiện, về cơ bản việc triển khai thực hiện nghị định đem lại những hiệu quả nhất định. Ở các bộ, ngành cũng như ở các địa phương công tác ban hành văn bản quản lý; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, mức độ kịp thời, công khai minh bạch trong thực hiện pháp luật… được chú trọng và không ngừng hoàn thiện.

Điển hình tại TP. Đà Nẵng, năm 2012 Ủy ban nhân dân đã ban hành 03 văn bản quy phạm pháp luật nhằm phục vụ công tác quản lý điều hành về công tác tư pháp, ban hành 36 quyết định, trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành 09 nghị quyết. Công tác góp ý thẩm định văn bản, công tác kiểm tra và rà soát hệ thống hóa văn bản, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật... nhìn chung đi vào ổn định, nề nếp, việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân... cũng có nhiều chuyển biến tích cực.

Về pháp chế bộ, ngành, đại diện Vụ pháp chế, Kiểm toán nhà nước cho biết, đây là công tác tương đối mới nhưng đơn vị Kiểm toán nhà nước đã triển khai thực hiện tốt công tác này, đã ban hành được Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đến năm 2020. Từ khi triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật đơn vị kiểm toán đã có được hiệu quả rõ rệt như giảm bớt số ngày thực hiện kiểm toán, các hoạt động của đơn vị kiểm toán cũng được cải tiến...

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật vẫn còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc cần có biện pháp tháo gỡ, tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. Theo dõi thi hành pháp luật là một công tác phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chung tay các ngành, tổ chức. Điều này được quy định tại Điều 18 Nghị định số 59/NĐ-CP quy định về cơ chế phối hợp: "Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật". Việc triển khai sự phối hợp này trên thực tế lại gặp phải nhiều khó khăn, trách nhiệm phối hợp quy định trong nghị định vẫn chung chung, không được quy định một cách rõ ràng, cụ thể. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác này chỉ có quyền yêu cầu các đơn vị, tổ chức phối hợp. Nếu các cơ quan được yêu cầu phối hợp (như Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc...) không hợp tác thì cũng không có cơ chế để thực hiện, không có chế tài áp dụng cho hành vi này. Theo đại biểu đại diện Vụ pháp chế Bộ Công an, chúng ta có thể kiến nghị theo hướng đưa cơ quan công an vào cuộc, cơ quan công an sẽ là cơ quan trung gian của sự phối hợp. Nếu các cơ quan, tổ chức từ chối không hợp tác, các bộ, ngành, địa phương có thể thông qua cơ quan công an lấy thông tin thống kê...

TS. Trần Văn Đạt, Bộ Tư pháp cũng cho rằng về cơ chế phối hợp và sự tham gia của các tổ chức, cá nhân hiện tại là rất khó khăn. Do đó, chúng ta nên quy định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức (Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc...) để huy động nhiều nguồn lực khác nhau của nhiều cơ quan, tổ chức. Có như vậy việc theo dõi thi hành pháp luật mới thực sự được triển khai một cách toàn diện và có hiệu quả.

Một khó khăn nữa là về hoạt động kiểm tra, giám sát và kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật. Theo Điều 6 của Nghị định thì bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp huy động Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hội xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia, nhà khoa học có đủ điều kiện tham gia hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo cơ chế cộng tác viên. Trên thực tế cơ chế này vẫn còn bỏ ngỏ vì chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể về cách sử dụng, trả thù lao cho những người là cộng tác viên. Việc ký hợp đồng cộng tác viên thì ký với người đại diện cơ quan, tổ chức hay ký với người trực tiếp đảm nhận công việc, việc chi thù lao chưa có hướng dẫn cụ thể nên các bộ, ngành vẫn còn lúng túng trong việc triển khai áp dụng. Các đại biểu cũng đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu để có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Cũng tại hội thảo, đa số các đại biểu tham dự đều cho rằng việc ban hành Nghị định số 159/NĐ-CP là một bước ngoặt lớn trong công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn như luật hay pháp lệnh để công tác này được thực hiện hiệu quả hơn trên thực tiễn.

2. Về việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật

Các đại biểu tham dự hội thảo, các chuyên gia pháp lý đều thống nhất việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật là vô cùng cần thiết. Muốn đánh giá chính xác hiệu quả của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, việc thực hiện pháp luật, tuân thủ pháp luật... chúng ta phải có căn cứ khoa học, có tiêu chí rõ ràng, cụ thể, phản ánh đúng hiện thực khách quan, tránh tình trạng chung chung, phiến diện và đánh giá mang tính chủ quan cảm tính.

Theo Điều 7 Nghị định số 59/NĐ-CP thì nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật có 3 nội dung chính:

"Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên cơ sở xem xét, đánh giá các nội dung sau đây:

1. Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

2. Tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật;

3. Tình hình tuân thủ pháp luật".

Để đánh giá những nội dung này, mỗi nội dung lại có tiêu chí riêng để đánh giá, được quy định cụ thể tại Điều 8, 9, 10 của Nghị định số 59/NĐ-CP.

Điều 8 quy định về nội dung xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật:

"1. Tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết.

2. Tính thống nhất, đồng bộ của văn bản.

3. Tính khả thi của văn bản".

Điều 9 quy định nội dung xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật:

1. Tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật.

2. Tính phù hợp của tổ chức bộ máy; mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật.

3. Mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật.

Điều 10 quy định nội dung xem xét, đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật:

"1. Tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

2. Tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

3. Mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân".

Các tiêu chí đã đề ra là mục đích hướng tới khi theo dõi thi hành pháp luật. ThS. Đỗ Đình Lương, Bộ Tư pháp cho rằng chúng ta cần phải xây dựng bộ tiêu chí sát thực, phải mang tính cầm tay cho những người quản lý và cán bộ trực tiếp thực hiện việc theo dõi trong cơ quan hành chính ở các cấp thu thập, cập nhật và báo cáo số liệu thống kê từ cơ sở và được tổng hợp trong từng lĩnh vực và ở mỗi địa phương lên trung ương để báo cáo số liệu thống kê chính thức, phục vụ cho việc đánh giá định lượng bên cạnh đánh giá định tính. Theo ThS. Đỗ Đình Lương chúng ta phải nghiên cứu, xây dựng một khung logic hay khung theo dõi tình hình thi hành pháp luật (bộ tiêu chí) và có thể áp dụng khung theo dõi này để thu thập các thông tin, dữ liệu cần thiết. Cùng bàn về vấn đề này, TS. Nguyễn Văn Cương cho rằng bên cạnh việc nghiên cứu hoàn thiện bộ chỉ số, điều quan trọng tiếp theo là phải củng cố công tác đo lường, đánh giá để hệ thống thống kê không chỉ là con số, mà nó phải được vận hành trọn vẹn, phát huy tác dụng, hiệu lực của nó, để công tác thống kê phản ánh đúng hiện thực khách quan.

3. Về dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật

Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật đã được tổ soạn thảo nghiên cứu, xây dựng và bước đầu được hoàn thiện. Hiện tại, dự thảo Thông tư gồm có 3 chương và 13 điều. Chương I về xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật (từ Điều 1 đến Điều 3); Chương II về thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật (từ Điều 4 đến Điều 10); Chương III về điều khoản thi hành (từ Điều 11 đến Điều 13). Các đại biểu cũng nghiên cứu dự thảo và có những ý kiến đóng góp thiết thực để thông tư nhanh chóng được ban hành, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, những lúng túng mà các cơ quan, đơn vị gặp phải trong quá trình thực thi công tác này.

Những nội dung còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 59 trên thực tế vẫn là những nội dung được các đại biểu quan tâm nhất trong dự thảo Thông tư hướng dẫn. Theo đại biểu Nguyễn Quế Anh, Sở Tư pháp Nghệ An, dự thảo Thông tư hiện tại vẫn còn đơn giản, sơ sài, chưa rõ ràng để các bộ, ngành, địa phương làm căn cứ thực hiện. Những vướng mắc nhất trên thực tế như về cơ chế phối hợp thì dự thảo Thông tư vẫn quy định chung chung, cần bổ sung, cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước ở địa phương, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ chế phối hợp như thế nào? Bên cạnh đó, Điều 5 của dự thảo về tình hình kiểm tra thi hành pháp luật cũng cần phải quy định cụ thể hơn. Đại biểu cũng cho rằng hiện nay có quá nhiều báo cáo, Bộ nên nghiên cứu, quy định cơ chế phối hợp, yêu cầu báo cáo chung, tránh tình trạng báo cáo chồng chéo; phải thống nhất về thời điểm chốt số liệu.

Đại biểu của Sở Tư pháp Hải Dương cho rằng đây là thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP do đó phải bám sát Nghị định số 59. Hiện tại dự thảo quy định nhiều điểm chưa sát với Nghị định như các quy định liên quan về việc ban hành kế hoạch, về việc thành lập đoàn kiểm tra hay về vấn đề kinh phí. Việc ban hành thông tư phải được nghiên cứu nghiêm túc, cụ thể hơn nữa tránh tình trạng thông tư hướng dẫn không cụ thể lại phải có công văn hướng dẫn.

Có ý kiến cho rằng, Điều 1 Chương I quy định vẫn chưa cụ thể. Về vấn đề này nên quy định rõ cơ quan cấp dưới có được ủy quyền không? Về việc xây dựng chuyên mục về tình hình thi hành pháp luật trên Cổng thông tin điện tử, cần cân nhắc thêm về việc có nên quy định việc Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng chuyên mục này hay không. Trước khi quy định về vấn đề này cần phải có khảo sát và đánh giá rõ ràng.

Phát biểu tại hội thảo, theo bà Rabea Brauer, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam thì Bộ Tư pháp còn phải làm nhiều vấn đề để hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật. Do tính chất phức tạp của vấn đề này chúng ta phải có sự đồng thuận ngay từ ban đầu, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của cơ quan nhà nước, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có lợi nhất cho Nhà nước và cho xã hội. Đối tượng chịu sự tác động nhiều nhất là người dân, do đó việc nâng cao nhận thức của người dân là quan trọng. Phải đưa ra những quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước, phải cố gấng cụ thể hóa và đưa ra những giải pháp cụ thể nhất về vấn đề này.

Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến góp ý của các đại biểu. Tổ soạn thảo Thông tư sẽ nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh sửa dự thảo, cố gắng hoàn thiện và ban hành thông tư trong thời gian sớm nhất, để tháo gỡ những khó khăn đang gặp phải trên thực tiễn, để công tác theo dõi thi hành pháp luật thực sự có hiệu quả, hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật ở nước ta.

Với những gì đã và đang làm, chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng rằng trong một thời gian không xa chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ, ngắn gọn, thống nhất, lâu dài.

Nguyễn Thị Vinh

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: