Thứ tư 24/06/2026 11:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về công tác theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam

Ngày 16 và 17/4/2013 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer Stiftung) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, đại diện Bộ Tư pháp

Ngày 16 và 17/4/2013 tại Hà Nội, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Viện KAS (Konrad Adenauer Stiftung) tại Việt Nam tổ chức hội thảo Hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật tại Việt Nam. Đại biểu tham dự hội thảo là các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, đại diện Bộ Tư pháp, đại diện pháp chế các bộ, ngành và đại biểu từ các địa phương tham dự. Một số nội dung cơ bản được quan tâm, bàn luận sôi nổi nhất tại hội thảo là quá trình triển khai Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp trên thực tiễn; những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện; những kiến nghị, đề xuất. Các đại biểu cũng trao đổi về việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật; góp ý dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về công tác theo dõi thi hành pháp luật.

1. Về việc triển khai Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ

Theo quy định tại Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ, phạm vi trách nhiệm theo dõi thi hành pháp luật được giao cho Bộ Tư pháp, các bộ và cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm theo dõi chung tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ mình; có trách nhiệm xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ tiêu thống kê quốc gia để làm cơ sở xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Bộ và các cơ quan ngang bộ theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ và có trách nhiệm xây dựng, ban hành Chỉ tiêu thống kê ngành để xem xét đánh giá tình hình thi hành pháp luật. Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi quản lý nhà nước ở địa phương, hàng năm có trách nhiệm báo cáo tình hình theo dõi thi hành pháp luật ở địa phương mình.

Sau một thời gian thực hiện, về cơ bản việc triển khai thực hiện nghị định đem lại những hiệu quả nhất định. Ở các bộ, ngành cũng như ở các địa phương công tác ban hành văn bản quản lý; công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; mức độ tuân thủ, chấp hành pháp luật, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, mức độ kịp thời, công khai minh bạch trong thực hiện pháp luật… được chú trọng và không ngừng hoàn thiện.

Điển hình tại TP. Đà Nẵng, năm 2012 Ủy ban nhân dân đã ban hành 03 văn bản quy phạm pháp luật nhằm phục vụ công tác quản lý điều hành về công tác tư pháp, ban hành 36 quyết định, trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành 09 nghị quyết. Công tác góp ý thẩm định văn bản, công tác kiểm tra và rà soát hệ thống hóa văn bản, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật... nhìn chung đi vào ổn định, nề nếp, việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân... cũng có nhiều chuyển biến tích cực.

Về pháp chế bộ, ngành, đại diện Vụ pháp chế, Kiểm toán nhà nước cho biết, đây là công tác tương đối mới nhưng đơn vị Kiểm toán nhà nước đã triển khai thực hiện tốt công tác này, đã ban hành được Kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đến năm 2020. Từ khi triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật đơn vị kiểm toán đã có được hiệu quả rõ rệt như giảm bớt số ngày thực hiện kiểm toán, các hoạt động của đơn vị kiểm toán cũng được cải tiến...

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật vẫn còn gặp phải những khó khăn, vướng mắc cần có biện pháp tháo gỡ, tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện. Theo dõi thi hành pháp luật là một công tác phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chung tay các ngành, tổ chức. Điều này được quy định tại Điều 18 Nghị định số 59/NĐ-CP quy định về cơ chế phối hợp: "Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác có liên quan trong việc thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật". Việc triển khai sự phối hợp này trên thực tế lại gặp phải nhiều khó khăn, trách nhiệm phối hợp quy định trong nghị định vẫn chung chung, không được quy định một cách rõ ràng, cụ thể. Do vậy, các cơ quan quản lý nhà nước về công tác này chỉ có quyền yêu cầu các đơn vị, tổ chức phối hợp. Nếu các cơ quan được yêu cầu phối hợp (như Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc...) không hợp tác thì cũng không có cơ chế để thực hiện, không có chế tài áp dụng cho hành vi này. Theo đại biểu đại diện Vụ pháp chế Bộ Công an, chúng ta có thể kiến nghị theo hướng đưa cơ quan công an vào cuộc, cơ quan công an sẽ là cơ quan trung gian của sự phối hợp. Nếu các cơ quan, tổ chức từ chối không hợp tác, các bộ, ngành, địa phương có thể thông qua cơ quan công an lấy thông tin thống kê...

TS. Trần Văn Đạt, Bộ Tư pháp cũng cho rằng về cơ chế phối hợp và sự tham gia của các tổ chức, cá nhân hiện tại là rất khó khăn. Do đó, chúng ta nên quy định rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức (Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Mặt trận Tổ quốc...) để huy động nhiều nguồn lực khác nhau của nhiều cơ quan, tổ chức. Có như vậy việc theo dõi thi hành pháp luật mới thực sự được triển khai một cách toàn diện và có hiệu quả.

Một khó khăn nữa là về hoạt động kiểm tra, giám sát và kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật. Theo Điều 6 của Nghị định thì bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp huy động Hội luật gia Việt Nam, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các hội xã hội, nghề nghiệp, tổ chức nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia, nhà khoa học có đủ điu kiện tham gia hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo cơ chế cộng tác viên. Trên thực tế cơ chế này vẫn còn bỏ ngỏ vì chưa có hướng dẫn, quy định cụ thể về cách sử dụng, trả thù lao cho những người là cộng tác viên. Việc ký hợp đồng cộng tác viên thì ký với người đại diện cơ quan, tổ chức hay ký với người trực tiếp đảm nhận công việc, việc chi thù lao chưa có hướng dẫn cụ thể nên các bộ, ngành vẫn còn lúng túng trong việc triển khai áp dụng. Các đại biểu cũng đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu để có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Cũng tại hội thảo, đa số các đại biểu tham dự đều cho rằng việc ban hành Nghị định số 159/NĐ-CP là một bước ngoặt lớn trong công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhưng chúng ta vẫn phải tiếp tục nghiên cứu, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn như luật hay pháp lệnh để công tác này được thực hiện hiệu quả hơn trên thực tiễn.

2. Về việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật

Các đại biểu tham dự hội thảo, các chuyên gia pháp lý đều thống nhất việc xây dựng Bộ chỉ tiêu quốc gia về tình hình thi hành pháp luật là vô cùng cần thiết. Muốn đánh giá chính xác hiệu quả của việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, việc thực hiện pháp luật, tuân thủ pháp luật... chúng ta phải có căn cứ khoa học, có tiêu chí rõ ràng, cụ thể, phản ánh đúng hiện thực khách quan, tránh tình trạng chung chung, phiến diện và đánh giá mang tính chủ quan cảm tính.

Theo Điều 7 Nghị định số 59/NĐ-CP thì nội dung theo dõi tình hình thi hành pháp luật có 3 nội dung chính:

"Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên cơ sở xem xét, đánh giá các nội dung sau đây:

1. Tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

2. Tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật;

3. Tình hình tuân thủ pháp luật".

Để đánh giá những nội dung này, mỗi nội dung lại có tiêu chí riêng để đánh giá, được quy định cụ thể tại Điều 8, 9, 10 của Nghị định số 59/NĐ-CP.

Điều 8 quy định về nội dung xem xét, đánh giá tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành văn bản quy phạm pháp luật:

"1. Tính kịp thời, đầy đủ của việc ban hành văn bản quy định chi tiết.

2. Tính thống nhất, đồng bộ của văn bản.

3. Tính khả thi của văn bản".

Điều 9 quy định nội dung xem xét, đánh giá tình hình bảo đảm các điều kiện cho thi hành pháp luật:

1. Tính kịp thời, đầy đủ, phù hợp và hiệu quả của hoạt động tập huấn, phổ biến pháp luật.

2. Tính phù hợp của tổ chức bộ máy; mức độ đáp ứng về nguồn nhân lực cho thi hành pháp luật.

3. Mức độ đáp ứng về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho thi hành pháp luật.

Điều 10 quy định nội dung xem xét, đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật:

"1. Tính kịp thời, đầy đủ trong thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

2. Tính chính xác, thống nhất trong hướng dẫn áp dụng pháp luật và trong áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.

3. Mức độ tuân thủ pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân".

Các tiêu chí đã đề ra là mục đích hướng tới khi theo dõi thi hành pháp luật. ThS. Đỗ Đình Lương, Bộ Tư pháp cho rằng chúng ta cần phải xây dựng bộ tiêu chí sát thực, phải mang tính cầm tay cho những người quản lý và cán bộ trực tiếp thực hiện việc theo dõi trong cơ quan hành chính ở các cấp thu thập, cập nhật và báo cáo số liệu thống kê từ cơ sở và được tổng hợp trong từng lĩnh vực và ở mỗi địa phương lên trung ương để báo cáo số liệu thống kê chính thức, phục vụ cho việc đánh giá định lượng bên cạnh đánh giá định tính. Theo ThS. Đỗ Đình Lương chúng ta phải nghiên cứu, xây dựng một khung logic hay khung theo dõi tình hình thi hành pháp luật (bộ tiêu chí) và có thể áp dụng khung theo dõi này để thu thập các thông tin, dữ liệu cần thiết. Cùng bàn về vấn đề này, TS. Nguyễn Văn Cương cho rằng bên cạnh việc nghiên cứu hoàn thiện bộ chỉ số, điều quan trọng tiếp theo là phải củng cố công tác đo lường, đánh giá để hệ thống thống kê không chỉ là con số, mà nó phải được vận hành trọn vẹn, phát huy tác dụng, hiệu lực của nó, để công tác thống kê phản ánh đúng hiện thực khách quan.

3. Về dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật

Dự thảo Thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP về theo dõi thi hành pháp luật đã được tổ soạn thảo nghiên cứu, xây dựng và bước đầu được hoàn thiện. Hiện tại, dự thảo Thông tư gồm có 3 chương và 13 điều. Chương I về xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật (từ Điều 1 đến Điều 3); Chương II về thực hiện hoạt động theo dõi tình hình thi hành pháp luật (từ Điều 4 đến Điều 10); Chương III về điều khoản thi hành (từ Điều 11 đến Điều 13). Các đại biểu cũng nghiên cứu dự thảo và có những ý kiến đóng góp thiết thực để thông tư nhanh chóng được ban hành, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, những lúng túng mà các cơ quan, đơn vị gặp phải trong quá trình thực thi công tác này.

Những nội dung còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 59 trên thực tế vẫn là những nội dung được các đại biểu quan tâm nhất trong dự thảo Thông tư hướng dẫn. Theo đại biểu Nguyễn Quế Anh, Sở Tư pháp Nghệ An, dự thảo Thông tư hiện tại vẫn còn đơn giản, sơ sài, chưa rõ ràng để các bộ, ngành, địa phương làm căn cứ thực hiện. Những vướng mắc nhất trên thực tế như về cơ chế phối hợp thì dự thảo Thông tư vẫn quy định chung chung, cần bổ sung, cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước ở địa phương, vai trò của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ chế phối hợp như thế nào? Bên cạnh đó, Điều 5 của dự thảo về tình hình kiểm tra thi hành pháp luật cũng cần phải quy định cụ thể hơn. Đại biểu cũng cho rằng hiện nay có quá nhiều báo cáo, Bộ nên nghiên cứu, quy định cơ chế phối hợp, yêu cầu báo cáo chung, tránh tình trạng báo cáo chồng chéo; phải thống nhất về thời điểm chốt số liệu.

Đại biểu của Sở Tư pháp Hải Dương cho rằng đây là thông tư hướng dẫn Nghị định số 59/NĐ-CP do đó phải bám sát Nghị định số 59. Hiện tại dự thảo quy định nhiều điểm chưa sát với Nghị định như các quy định liên quan về việc ban hành kế hoạch, về việc thành lập đoàn kiểm tra hay về vấn đề kinh phí. Việc ban hành thông tư phải được nghiên cứu nghiêm túc, cụ thể hơn nữa tránh tình trạng thông tư hướng dẫn không cụ thể lại phải có công văn hướng dẫn.

Có ý kiến cho rằng, Điều 1 Chương I quy định vẫn chưa cụ thể. Về vấn đề này nên quy định rõ cơ quan cấp dưới có được ủy quyền không? Về việc xây dựng chuyên mục về tình hình thi hành pháp luật trên Cổng thông tin điện tử, cần cân nhắc thêm về việc có nên quy định việc Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng chuyên mục này hay không. Trước khi quy định về vấn đề này cần phải có khảo sát và đánh giá rõ ràng.

Phát biểu tại hội thảo, theo bà Rabea Brauer, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam thì Bộ Tư pháp còn phải làm nhiều vấn đề để hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật. Do tính chất phức tạp của vấn đề này chúng ta phải có sự đồng thuận ngay từ ban đầu, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của cơ quan nhà nước, ban hành văn bản quy phạm pháp luật có lợi nhất cho Nhà nước và cho xã hội. Đối tượng chịu sự tác động nhiều nhất là người dân, do đó việc nâng cao nhận thức của người dân là quan trọng. Phải đưa ra những quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước, phải cố gấng cụ thể hóa và đưa ra những giải pháp cụ thể nhất về vấn đề này.

Phát biểu kết luận, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long ghi nhận và đánh giá cao các ý kiến góp ý của các đại biểu. Tổ soạn thảo Thông tư sẽ nghiên cứu, tiếp thu và chỉnh sửa dự thảo, cố gắng hoàn thiện và ban hành thông tư trong thời gian sớm nhất, để tháo gỡ những khó khăn đang gặp phải trên thực tiễn, để công tác theo dõi thi hành pháp luật thực sự có hiệu quả, hoàn thiện thể chế về theo dõi thi hành pháp luật ở nước ta.

Với những gì đã và đang làm, chúng ta có đủ cơ sở để tin tưởng rằng trong một thời gian không xa chúng ta sẽ xây dựng được một hệ thống pháp luật đầy đủ, ngắn gọn, thống nhất, lâu dài.

Nguyễn Thị Vinh

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: