Thứ tư 15/04/2026 04:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu lên các quan điểm khác nhau trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả nêu lên các quan điểm khác nhau trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The article raises different viewpoints in the practice of application of legal provisions on postponement of judgment execution at the request of a person having the competence to appeal. On that basis, the author makes proposals for law completion.

Trong quá trình tổ chức thi hành án, hoãn thi hành án là một thủ tục mà cơ quan thi hành án dân sự thường xuyên áp dụng, là việc cơ quan thi hành án dân sự quyết định tạm dừng việc tổ chức thi hành bản án, quyết định khi có căn cứ pháp luật quy định. Hoãn thi hành án tác động trực tiếp đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án và người phải thi hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng quy định hoãn thi hành án vẫn còn một số ý kiến khác nhau, đòi hỏi cần có hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất.

Khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) quy định:

“Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết.

Trường hợp vụ việc đã được thi hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.

Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.

Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án”.

Tại khoản 1 Điều 332 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng có quy định: “Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án bản án, quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm”.

Như vậy, khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự đã quy định cụ thể, đầy đủ về hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định này chưa có sự thống nhất. Cụ thể như sau:

Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang tổ chức thi hành Bản án số 39/2018/DSPT ngày 16/3/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh T về việc ông Nguyễn Văn A phải trả cho ông Trần Đắc N số tiền 5.890.000.000 đồng và lãi chậm thi hành án. Ngày 26/7/2018, ông Nguyễn Văn A và ông Trần Đắc N thỏa thuận hoãn thi hành trong thời gian 03 tháng (từ ngày 26/7/2018 đến ngày 26/10/2018), hai bên đương sự thỏa thuận trong thời gian hoãn thi hành án thì ông Nguyễn Văn A vẫn phải chịu lãi chậm thi hành án. Ngày 30/7/2018, Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đã ban hành quyết định hoãn thi hành án theo thỏa thuận của hai bên đương sự. Tuy nhiên, ngày 15/8/2018, Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nhận được Công văn số 09/2018/HTHA-DS ngày 14/8/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh về việc yêu cầu thủ trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện C hoãn thi hành Bản án trên trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được công văn để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Về Công văn của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh thì có hai quan điểm khác nhau về việc hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị.

Quan điểm thứ nhất: Vẫn giữ quyết định hoãn thi hành án theo thỏa thuận của hai bên đương sự. Trường hợp này do hai bên đương sự đã thỏa thuận với nhau về thời gian, phương thức, hậu quả pháp lý của việc hoãn thi hành án. Việc thỏa thuận giữa hai bên đương sự không vi phạm quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội tại thời điểm thỏa thuận, người phải thi hành án đã thống nhất chịu lãi suất phát sinh trong thời gian hoãn thi hành án nên tiếp tục giữ nguyên quyết định hoãn thi hành án này cho đến khi hết thời hạn hoãn. Sau khi hết thời gian hoãn thi hành án theo thỏa thuận của đương sự thì sẽ tiếp tục ra quyết định hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị.

Quan điểm thứ hai: Thu hồi quyết định hoãn thi hành án theo thỏa thuận của đương sự, ra quyết định hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị.

Tác giả thống nhất với quan điểm thứ hai, bởi lẽ: Việc hoãn thi hành án trong thời gian người có thẩm quyền kháng nghị xem xét để quyết định kháng nghị hay không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là cần thiết vì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu có sai lầm, vi phạm thủ tục tố tụng của Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự nếu đưa ra thi hành sẽ dẫn tới hậu quả, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, quyền và lợi ích của người thứ ba; việc hoãn thi hành bản án, quyết định để tránh hậu quả không thể khắc phục được, trường hợp không hoãn thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người phải thi hành án; việc hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị không phụ thuộc vào ý chí của người phải thi hành án nên họ không thể chịu lãi suất phát sinh thi hành án, đồng thời, tại thời điểm thỏa thuận hoãn thi hành án, người phải thi hành án không thể biết được trường hợp thi hành án của họ có được hoãn thi hành án theo khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự để xem xét thỏa thuận với người được thi hành án về việc chịu lãi suất phát sinh thi hành án.

Trường hợp trên nếu không hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị thì vi phạm khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự, còn nếu hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị thì ảnh hưởng đến quyền thỏa thuận thi hành án của đương sự, quyền lợi của người được thi hành án. Do đó, tác giả đề nghị xem xét bổ sung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự, cụ thể: Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp sau đây: “Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Thời hạn hoãn do các bên đương sự thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Qua vụ việc này, tác giả mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi của các đồng nghiệp và độc giả để việc thi hành án được giải quyết kịp thời, đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Trần Thị Thu Hiền

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: