Thứ tư 04/03/2026 10:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

Trong phạm vi vài viết này, tác giả đề cập đến một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này của các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới.

Trong những năm gần đây, tội phạm về đánh bạc ngày càng diễn biến phức tạp, có sự gia tăng cả về quy mô và số lượng đối tượng tham gia đánh bạc, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, từ đó gây ra nhiều hệ lụy xấu trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Việc các đối tượng thực hiện tội phạm về đánh bạc sẽ làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác, đặc biệt là các tội phạm xâm phạm về sở hữu, nhân thân… gây mất an ninh trật tự. Bên cạnh việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc dưới các hình thức truyền thống như bài lá, xóc đĩa, chọi gà, lô đề… cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, loại tội phạm này đã được các đối tượng thực hiện trái phép trên không gian mạng với các hình thức như cá cược bóng đá, lô đề online, game online đổi thưởng… Phạm vi hoạt động của các đối tượng không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài. Trước tình hình đó, các cơ quan có thẩm quyền cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp góp phần hạn chế loại tội phạm này, trong đó có việc hoàn thiện pháp luật hình sự quy định về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tạo ra hành lang pháp lý giúp công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này đạt hiệu quả cao.

1. Một số bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

Thứ nhất, xác định tài sản được dùng để đánh bạc.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản để xác định đánh bạc bao gồm “tiền hoặc hiện vật” là chưa bao quát được hết các tài sản mà các đối tượng có thể sử dụng để đánh bạc. Trong thực tiễn, có không ít trường hợp đối tượng sử dụng các loại giấy tờ có giá hoặc quyền sở hữu về tài sản để sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Bên cạnh việc dùng tiền mặt Việt Nam đồng để trực tiếp đánh bạc với nhau, có không ít vụ án, các đối tượng đánh bạc bằng tiền ngoại tệ, đánh bạc bằng điểm, phỉnh, kim khí quý, đá quý… Hoặc trong các vụ án đánh bạc trên không gian mạng thông qua các trang web đánh bạc có máy chủ đặt ở nước ngoài, các đối tượng đã sử dụng đồng tiền kỹ thuật số, phổ biến là Ethereum (ETH), Tether coin (USDT), Bitcoin (BTC) để thanh toán tiền trong quá trình tổ chức đánh bạc, đánh bạc[1]. Tại Việt Nam hiện nay, các loại tiền kỹ thuật số chưa được công nhận là tiền tệ, là phương tiện thanh toán nhưng thực tế lại có giá trị thanh toán tại các sàn giao dịch quốc tế trên không gian mạng và có thể quy đổi ra tiền Việt Nam đồng. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về cách tính số tiền đánh bạc trong những trường hợp này để xác định trách nhiệm hình sự.

Về tiền và hiện vật được xác định dùng để đánh bạc, hiện tại chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc áp dụng Điều 321 và Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) nên việc xác định tiền và hiện vật dùng để đánh bạc trong quá trình xử lý tội phạm về đánh bạc được vận dụng theo tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP), bao gồm: Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc; tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc; tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. Tuy nhiên, nếu chỉ xác định tiền và hiện vật dùng để đánh bạc nêu trên là chưa đầy đủ, vì thực tế, trong nhiều trường hợp, cơ quan chức năng có đủ căn cứ chứng minh đối tượng dùng tiền, hiện vật dùng để đánh bạc hoặc sẽ được dùng đánh bạc nhưng không thu giữ được số tiền, hiện vật này (do đối tượng đã sử dụng hết, bị mất).

Thứ hai, xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc.

Vấn đề này vận dụng theo tinh thần của quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét, cụ thể: Trường hợp đối tượng thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc với tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 5.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc; trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”. Việc xác định trách nhiệm hình sự nêu trên không thể hiện hết được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và không phù hợp với các quy định khác của pháp luật hình sự như trong trường hợp xác định trách nhiệm hình sự khi nhiều lần cùng thực hiện một loại hành vi xâm phạm sở hữu hay nhiều lần cùng thực hiện một loại hành vi các tội về tham nhũng và các tội khác về chức vụ[2].

Thứ ba, Điều 322 Bộ luật Hình sự quy định hai tội tổ chức đánh bạc và gá bạc trong cùng một điều luật là chưa phù hợp, chưa bảo đảm trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Việc quy định tội tổ chức đánh bạc và tội gá bạc trong cùng một điều luật là chưa phù hợp, bởi lẽ, dấu hiệu về mặt khách quan trong cấu thành tội phạm của tội tổ chức đánh bạc và tội gá bạc không giống nhau, mức độ nguy hiểm của tội tổ chức đánh bạc và gá bạc là rất khác nhau nên việc quy định hai tội phạm này chung trong cùng một điều luật để áp dụng chung một khung hình phạt là chưa bảo đảm trong việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm[3].

Thứ tư, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Điều 6 Bộ luật Hình sự đối với trường hợp người Việt Nam có hành vi phạm tội ở nước ngoài mà Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định là tội phạm.

Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Hình sự quy định: “Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này”. Tại một số quốc gia, người nước ngoài tham gia đánh bạc trong các Casino do Chính phủ cấp phép là hợp pháp, do đó, không ít những trường hợp, đối tượng người Việt Nam tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc ở nước ngoài, đặc biệt là xuất cảnh sang nước bạn Campuchia (cả bằng con đường hợp pháp và bất hợp pháp) để tham gia đánh bạc trong các Casino hay tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà, gây mất an ninh trật tự và kéo theo các hệ lụy làm phát sinh các loại tội phạm khác[4], có trường hợp, đối tượng vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới từ Campuchia về Việt Nam, qua quá trình điều tra xác minh xác định nguồn gốc số tiền trên của đối tượng là tiền có được do thắng bạc khi tham gia đánh bạc ở Campuchia[5] nhưng hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để xử lý đối với những trường hợp đánh bạc này, các cơ quan chức năng thực hiện các giải pháp nhằm phòng ngừa tội phạm là chủ yếu.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

- Bổ sung quy định tài sản để xác định đánh bạc bao gồm “tiền, hiện vật hoặc tài sản khác” cho phù hợp với các loại tài sản mà đối tượng có thể sử dụng để thực hiện việc đánh bạc.

- Tách tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 322 thành 02 điều luật độc lập quy định về tội tổ chức đánh bạc, tội gá bạc, đồng thời quy định cụ thể hành vi khách quan của tội tổ chức đánh bạc, tội gá bạc để tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật, đặc biệt là vấn đề định tội danh được chính xác.

Thứ hai, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc thực hiện Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn việc thực hiện Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Quá trình xử lý đối với các tội phạm về đánh bạc của các cơ quan có thẩm quyền dựa trên việc vận dụng tinh thần của quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP (văn bản này đã hết hiệu lực thi hành). Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc giải quyết của cơ quan có thẩm quyền và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật[6], trong đó chú ý đến một số nội dung sau đây:

- Quy định hướng dẫn về cách quy đổi trong trường hợp đối tượng đánh bạc bằng tiền ngoại tệ, đánh bạc bằng điểm, phỉnh, kim khí quý, đá quý và hướng dẫn trong trường hợp cách tính số tiền đánh bạc khi đối tượng thực hiện đánh bạc qua mạng, sử dụng đồng tiền kỹ thuật số và tiến hành thanh toán tiền thông qua hệ thống thanh toán quốc tế.

- Quy định về “tiền, hiện vật hoặc tài sản khác” được xác định dùng để đánh bạc, ngoài 03 trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, bổ sung thêm trường hợp “tiền, hiện vật hoặc tài sản khác có căn cứ xác định đã dùng hoặc sẽ dùng để đánh bạc nhưng không thu giữ được”.

- Sửa đổi quy định về cách xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc có thể tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc. Cụ thể là:

+ Trường hợp đối tượng thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc với tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 5.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc, trừ trường hợp các lần đánh bạc được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian mà tổng số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên.

+ Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tổng số tiền, giá trị hiện vật của các lần đánh bạc và áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên”.

Thứ ba, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Điều 6 Bộ luật Hình sự, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý đối với những trường hợp đối tượng người Việt Nam có hành vi phạm tội ở nước ngoài mà Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định là tội phạm để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, góp phần đấu tranh có hiệu quả trước tình trạng người Việt Nam xuất cảnh sang nước ngoài đánh bạc nói chung, đặc biệt là sang Campuchia đánh bạc nói riêng.

ThS. Vũ Trịnh Hải Việt

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. https://cand.com.vn/Ban-tin-113/de-nghi-truy-to-43-bi-can-danh-bac-qua-mang-gan-4-ty-usd-i650263/.

[2]. Điều 8 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ.

[3]. TS. Nguyễn Đức Hưng, Tội phạm đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 10/2022.

[4]. https://cand.com.vn/Ban-tin-113/trom-cap-tai-san-tri-gia-1-2-ty-dong-sang-campuchia-danh-bac-i684838/.

[5]. https://vnexpress.net/mang-ve-600-trieu-thang-bac-o-campuchia-nguoi-dan-ong-bi-bat-3393632.html.

[6]. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 3687/VKSNDTC - Vụ 7 ngày 16/9/2021 gửi Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị về việc xây dựng Nghị quyết hướng dẫn các tội phạm về đánh bạc.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: