Chủ nhật 14/06/2026 17:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

Trong phạm vi vài viết này, tác giả đề cập đến một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và đưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này của các cơ quan có thẩm quyền trong thời gian tới.

Trong những năm gần đây, tội phạm về đánh bạc ngày càng diễn biến phức tạp, có sự gia tăng cả về quy mô và số lượng đối tượng tham gia đánh bạc, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, từ đó gây ra nhiều hệ lụy xấu trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Việc các đối tượng thực hiện tội phạm về đánh bạc sẽ làm phát sinh các loại tội phạm hình sự khác, đặc biệt là các tội phạm xâm phạm về sở hữu, nhân thân… gây mất an ninh trật tự. Bên cạnh việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc dưới các hình thức truyền thống như bài lá, xóc đĩa, chọi gà, lô đề… cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, loại tội phạm này đã được các đối tượng thực hiện trái phép trên không gian mạng với các hình thức như cá cược bóng đá, lô đề online, game online đổi thưởng… Phạm vi hoạt động của các đối tượng không chỉ ở trong nước mà còn ở cả nước ngoài. Trước tình hình đó, các cơ quan có thẩm quyền cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp góp phần hạn chế loại tội phạm này, trong đó có việc hoàn thiện pháp luật hình sự quy định về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tạo ra hành lang pháp lý giúp công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này đạt hiệu quả cao.

1. Một số bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

Thứ nhất, xác định tài sản được dùng để đánh bạc.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, tài sản để xác định đánh bạc bao gồm “tiền hoặc hiện vật” là chưa bao quát được hết các tài sản mà các đối tượng có thể sử dụng để đánh bạc. Trong thực tiễn, có không ít trường hợp đối tượng sử dụng các loại giấy tờ có giá hoặc quyền sở hữu về tài sản để sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Bên cạnh việc dùng tiền mặt Việt Nam đồng để trực tiếp đánh bạc với nhau, có không ít vụ án, các đối tượng đánh bạc bằng tiền ngoại tệ, đánh bạc bằng điểm, phỉnh, kim khí quý, đá quý… Hoặc trong các vụ án đánh bạc trên không gian mạng thông qua các trang web đánh bạc có máy chủ đặt ở nước ngoài, các đối tượng đã sử dụng đồng tiền kỹ thuật số, phổ biến là Ethereum (ETH), Tether coin (USDT), Bitcoin (BTC) để thanh toán tiền trong quá trình tổ chức đánh bạc, đánh bạc[1]. Tại Việt Nam hiện nay, các loại tiền kỹ thuật số chưa được công nhận là tiền tệ, là phương tiện thanh toán nhưng thực tế lại có giá trị thanh toán tại các sàn giao dịch quốc tế trên không gian mạng và có thể quy đổi ra tiền Việt Nam đồng. Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về cách tính số tiền đánh bạc trong những trường hợp này để xác định trách nhiệm hình sự.

Về tiền và hiện vật được xác định dùng để đánh bạc, hiện tại chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc áp dụng Điều 321 và Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự) nên việc xác định tiền và hiện vật dùng để đánh bạc trong quá trình xử lý tội phạm về đánh bạc được vận dụng theo tinh thần quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự (Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP), bao gồm: Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc; tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc; tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc. Tuy nhiên, nếu chỉ xác định tiền và hiện vật dùng để đánh bạc nêu trên là chưa đầy đủ, vì thực tế, trong nhiều trường hợp, cơ quan chức năng có đủ căn cứ chứng minh đối tượng dùng tiền, hiện vật dùng để đánh bạc hoặc sẽ được dùng đánh bạc nhưng không thu giữ được số tiền, hiện vật này (do đối tượng đã sử dụng hết, bị mất).

Thứ hai, xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc.

Vấn đề này vận dụng theo tinh thần của quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét, cụ thể: Trường hợp đối tượng thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc với tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 5.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc; trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”. Việc xác định trách nhiệm hình sự nêu trên không thể hiện hết được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và không phù hợp với các quy định khác của pháp luật hình sự như trong trường hợp xác định trách nhiệm hình sự khi nhiều lần cùng thực hiện một loại hành vi xâm phạm sở hữu hay nhiều lần cùng thực hiện một loại hành vi các tội về tham nhũng và các tội khác về chức vụ[2].

Thứ ba, Điều 322 Bộ luật Hình sự quy định hai tội tổ chức đánh bạc và gá bạc trong cùng một điều luật là chưa phù hợp, chưa bảo đảm trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Việc quy định tội tổ chức đánh bạc và tội gá bạc trong cùng một điều luật là chưa phù hợp, bởi lẽ, dấu hiệu về mặt khách quan trong cấu thành tội phạm của tội tổ chức đánh bạc và tội gá bạc không giống nhau, mức độ nguy hiểm của tội tổ chức đánh bạc và gá bạc là rất khác nhau nên việc quy định hai tội phạm này chung trong cùng một điều luật để áp dụng chung một khung hình phạt là chưa bảo đảm trong việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm[3].

Thứ tư, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Điều 6 Bộ luật Hình sự đối với trường hợp người Việt Nam có hành vi phạm tội ở nước ngoài mà Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định là tội phạm.

Khoản 1 Điều 6 Bộ luật Hình sự quy định: “Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này”. Tại một số quốc gia, người nước ngoài tham gia đánh bạc trong các Casino do Chính phủ cấp phép là hợp pháp, do đó, không ít những trường hợp, đối tượng người Việt Nam tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc ở nước ngoài, đặc biệt là xuất cảnh sang nước bạn Campuchia (cả bằng con đường hợp pháp và bất hợp pháp) để tham gia đánh bạc trong các Casino hay tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà, gây mất an ninh trật tự và kéo theo các hệ lụy làm phát sinh các loại tội phạm khác[4], có trường hợp, đối tượng vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới từ Campuchia về Việt Nam, qua quá trình điều tra xác minh xác định nguồn gốc số tiền trên của đối tượng là tiền có được do thắng bạc khi tham gia đánh bạc ở Campuchia[5] nhưng hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để xử lý đối với những trường hợp đánh bạc này, các cơ quan chức năng thực hiện các giải pháp nhằm phòng ngừa tội phạm là chủ yếu.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung nội dung Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:

- Bổ sung quy định tài sản để xác định đánh bạc bao gồm “tiền, hiện vật hoặc tài sản khác” cho phù hợp với các loại tài sản mà đối tượng có thể sử dụng để thực hiện việc đánh bạc.

- Tách tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc được quy định tại Điều 322 thành 02 điều luật độc lập quy định về tội tổ chức đánh bạc, tội gá bạc, đồng thời quy định cụ thể hành vi khách quan của tội tổ chức đánh bạc, tội gá bạc để tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật, đặc biệt là vấn đề định tội danh được chính xác.

Thứ hai, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc thực hiện Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn việc thực hiện Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự. Quá trình xử lý đối với các tội phạm về đánh bạc của các cơ quan có thẩm quyền dựa trên việc vận dụng tinh thần của quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP (văn bản này đã hết hiệu lực thi hành). Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc giải quyết của cơ quan có thẩm quyền và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật[6], trong đó chú ý đến một số nội dung sau đây:

- Quy định hướng dẫn về cách quy đổi trong trường hợp đối tượng đánh bạc bằng tiền ngoại tệ, đánh bạc bằng điểm, phỉnh, kim khí quý, đá quý và hướng dẫn trong trường hợp cách tính số tiền đánh bạc khi đối tượng thực hiện đánh bạc qua mạng, sử dụng đồng tiền kỹ thuật số và tiến hành thanh toán tiền thông qua hệ thống thanh toán quốc tế.

- Quy định về “tiền, hiện vật hoặc tài sản khác” được xác định dùng để đánh bạc, ngoài 03 trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, bổ sung thêm trường hợp “tiền, hiện vật hoặc tài sản khác có căn cứ xác định đã dùng hoặc sẽ dùng để đánh bạc nhưng không thu giữ được”.

- Sửa đổi quy định về cách xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc có thể tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc. Cụ thể là:

+ Trường hợp đối tượng thực hiện nhiều lần hành vi đánh bạc với tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 5.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc, trừ trường hợp các lần đánh bạc được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian mà tổng số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên.

+ Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tổng số tiền, giá trị hiện vật của các lần đánh bạc và áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội từ 02 lần trở lên”.

Thứ ba, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Điều 6 Bộ luật Hình sự, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc xử lý đối với những trường hợp đối tượng người Việt Nam có hành vi phạm tội ở nước ngoài mà Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định là tội phạm để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, góp phần đấu tranh có hiệu quả trước tình trạng người Việt Nam xuất cảnh sang nước ngoài đánh bạc nói chung, đặc biệt là sang Campuchia đánh bạc nói riêng.

ThS. Vũ Trịnh Hải Việt

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. https://cand.com.vn/Ban-tin-113/de-nghi-truy-to-43-bi-can-danh-bac-qua-mang-gan-4-ty-usd-i650263/.

[2]. Điều 8 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ.

[3]. TS. Nguyễn Đức Hưng, Tội phạm đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 10/2022.

[4]. https://cand.com.vn/Ban-tin-113/trom-cap-tai-san-tri-gia-1-2-ty-dong-sang-campuchia-danh-bac-i684838/.

[5]. https://vnexpress.net/mang-ve-600-trieu-thang-bac-o-campuchia-nguoi-dan-ong-bi-bat-3393632.html.

[6]. Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 3687/VKSNDTC - Vụ 7 ngày 16/9/2021 gửi Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị về việc xây dựng Nghị quyết hướng dẫn các tội phạm về đánh bạc.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: