Thứ hai 24/08/2026 09:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện cách quy định về vi phạm hành chính trong các nghị định của Chính phủ

Hiện nay, xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực được quy định tại rất nhiều nghị định của Chính phủ dẫn đến sự thiếu nhất quán cả về nội dung và kỹ thuật văn bản. Bài viết này nêu một số ý kiến về vấn đề hoàn thiện cách quy định về vi phạm hành chính trong các nghị định xử phạt vi phạm hành chính của Chính phủ.


1. Nên ban hành các nghị định xử phạt trong từng lĩnh vực theo đúng yêu cầu của Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính và quy định mẫu biên bản, mẫu quyết định sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính”. Như vậy, theo Điều 4 của Luật thì Chính phủ phải ban hành các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính “trong từng lĩnh vực” chứ không phải “trong các lĩnh vực” như quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây. Vì vậy, cần thống nhất cách hiểu cụm từ “trong từng lĩnh vực”. Theo tác giả, có thể có hai cách hiểu sau đây:

Cách hiểu thứ nhất: “Trong từng lĩnh vực” có nghĩa là phải quy định từng lĩnh vực riêng rẽ, không chung với lĩnh vực khác. Lĩnh vực nói ở đây không đồng nghĩa với phạm vi quản lý của bộ, ngành nào đó mà gồm các lĩnh vực khác nhau thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành. Theo cách hiểu này thì đối với mỗi một lĩnh vực (mà bộ thì quản lý nhiều ngành, lĩnh vực), Chính phủ đều phải ban hành một nghị định xử phạt riêng (tạm gọi là “nghị định xử phạt đơn lĩnh vực”). Căn cứ để xác định các lĩnh vực là khoản 1 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Cụ thể, khoản 1 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 liệt kê các lĩnh vực rất rõ ràng, các lĩnh vực được phân biệt với nhau bằng các dấu chấm phẩy. Chẳng hạn, điểm a khoản 1 Điều 24 quy định 10 lĩnh vực: (i) Hôn nhân và gia đình; (ii) Bình đẳng giới; (iii) Bạo lực gia đình; (iv) Lưu trữ; (v) Tôn giáo; (vi) Thi đua khen thưởng; (vii) Hành chính tư pháp; (viii) Dân số; (ix) Vệ sinh môi trường; (x) Thống kê. Theo cách hiểu trên, cứ sau mỗi dấu chấm phẩy là một lĩnh vực thì chỉ riêng điểm a khoản 1 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã phải cần đến 10 nghị định để quy định xử phạt, còn nếu căn cứ khoản 1 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 với 10 điểm quy định 95 lĩnh vực[1] thì phải có 95 nghị định; chưa kể các lĩnh vực được quy định riêng trong các đạo luật chuyên ngành như thuế; đo lường; sở hữu trí tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; hạn chế cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng[2]. Nếu không ngụ ý như vậy thì Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã không cần ghi cụm từ “trong từng lĩnh vực” mà vẫn tiếp tục ghi “trong các lĩnh vực” như Điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi năm 2008). Như vậy, việc thay chữ “các” trong Điều 3 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi năm 2008) bằng chữ “từng” trong Điều 4 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thực sự mang một ý nghĩa mới, có tính bắt buộc chứ không chỉ là thay câu đổi chữ để đọc cho thuận. Hiện nay, phần lớn các nghị định ban hành theo dạng này.

Việc ban hành nghị định xử phạt đơn lĩnh vực có một số ưu điểm lớn sau đây:

Thứ nhất, phù hợp với Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, rõ ràng, rành mạch, nhất quán không chỉ về hành vi vi phạm mà còn về các vấn đề khác như nguyên tắc xử phạt, hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm, thẩm quyền xử phạt vì chỉ quy định cho một lĩnh vực.

Thứ hai, đặc biệt thuận tiện cho người dân vì mỗi lĩnh vực có nghị định cụ thể nên dễ tìm hiểu, nhờ đó, nâng cao hiệu quả giáo dục, phòng ngừa vi phạm. Còn đối với người có thẩm quyền xử phạt thì cũng rất thuận lợi vì tính rõ ràng, cụ thể, không nhầm lẫn về hành vi vi phạm cũng như thẩm quyền xử phạt.

Thứ ba, việc soạn thảo cũng như sửa đổi, bổ sung nghị định dễ dàng, nhanh gọn: Bộ quản lý ngành, lĩnh vực nào thì đề xuất quy định mới hoặc sửa đổi quy định về xử phạt hành vi vi phạm của ngành, lĩnh vực mình quản lý, không phụ thuộc hay phải chờ bộ, ngành khác.

Cách hiểu thứ hai: Linh hoạt hơn, tức ngoài các nghị định xử phạt riêng đối với từng lĩnh vực như đã nói trên thì Chính phủ vẫn có thể ban hành nghị định xử phạt nhiều lĩnh vực nhưng trong đó có sự phân biệt các lĩnh vực với nhau (tạm gọi là “nghị định xử phạt đa lĩnh vực”). Hiện nay, vẫn còn có nhiều nghị định dạng này.

Ví dụ: Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở (05 lĩnh vực); Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (04 lĩnh vực) (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP); Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (03 lĩnh vực); Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão (03 lĩnh vực) (Nghị định số 139/2013/NĐ-CP) và một số nghị định khác. Trong đó, có nghị định quy định về các lĩnh vực có tính chất gần nhau[3] nhưng cũng có nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực rất khác nhau về tính chất[4].

Trong các nghị định dạng này, các hành vi vi phạm cụ thể trong từng lĩnh vực, hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi được quy định thành các chương, mục riêng; phần còn lại là những chương, điều quy định về những vấn đề chung như nguyên tắc, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt.

Có thể nói, cách ban hành nghị định xử phạt đa lĩnh vực chỉ có được một lợi thế là giảm được số lượng văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính nhưng lại có nhiều nhược điểm:

Thứ nhất, không đúng nghĩa là xử phạt trong từng lĩnh vực như Điều 4 và Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định.

Thứ hai, trong số các các nghị định xử phạt đa lĩnh vực có những lĩnh vực không có mối liên quan với nhau (được nêu trong các điểm khác nhau của khoản 1 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012), có mức phạt tối đa rất khác nhau. Đây là một điểm không hợp lý.

Thứ ba, việc quy định xử phạt nhiều lĩnh vực trong cùng một nghị định chỉ rõ ràng, rành mạch ở phần hành vi vi phạm, hình thức và mức phạt cụ thể đối với hành vi (vì vẫn được quy định trong từng chương, mục hay điều khoản riêng) nhưng phần còn lại của nghị định là những chương, điều quy định về những vấn đề chung như nguyên tắc, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt thì rất khó phù hợp cho tất cả các lĩnh vực, có thể phù hợp với lĩnh vực này mà không phù hợp với lĩnh vực khác. Những quy định kiểu “vừa chung, vừa riêng” như vậy rất khó bảo đảm rành mạch, dễ nhầm lẫn khi áp dụng.

Ví dụ, tại Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì ngay trong Chương 1 (những quy định chung) đã cho thấy sự gượng ép khi tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này quy định chung về các biện pháp khắc phục hậu quả như “buộc giảm khối lượng, số lượng chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ theo định mức quy định; buộc di chuyển chất nguy hiểm về cháy, nổ do vi phạm hành chính gây ra đến kho, địa điểm theo quy định; buộc sắp xếp lại chất, hàng nguy hiểm về cháy, nổ theo quy định”. Có thể thấy, trong lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội và phòng chống bạo lực gia đình áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả mà rõ ràng là chỉ phù hợp đối với lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, vì nghị định không chỉ rõ biện pháp nào được áp dụng đối với lĩnh vực nào[5].

Thứ tư, trong các nghị định loại này có những quy định chung lặp lại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 một cách không cần thiết. Chẳng hạn, trong Nghị định số 139/2017/NĐ-CP quy định về mức tiền phạt (Điều 4), thời hiệu (Điều 5), thẩm quyền xử phạt (Điều 70) chủ yếu là sao chép lại quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Việc quy định lại như vậy trong Nghị định này là không cần thiết.

Thứ năm, về chấp hành và áp dụng pháp luật sẽ không thuận tiện trong việc người dân tìm hiểu quy định cũng như người có thẩm quyền áp dụng khi xử phạt. Chẳng hạn, thẩm quyền xử phạt được quy định chung trong một điều, trong đó, liệt kê thẩm quyền của các chức danh theo lĩnh vực nên rất phức tạp. Trong khi đó, nếu quy định riêng cho một lĩnh vực thì việc quy định thẩm quyền sẽ rất đơn giản.

Như vậy, với việc xác định cách hiểu về cụm từ “trong từng lĩnh vực” và từ những ưu điểm, hạn chế của hai cách hiểu, tác giả cho rằng, Chính phủ chỉ nên ban hành các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực một cách riêng biệt đúng như khoản 1 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 yêu cầu. Nếu khoản 1 Điều 24 của Luật chưa thực sự thuyết phục trong việc phân định các lĩnh vực cụ thể thì cần xem xét sửa đổi.

2. Nên quy định riêng từng hành vi vi phạm, không gộp chung nhiều hành vi trong một điểm (hoặc một khoản) của một điều trong các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính

Hiện nay, theo điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “hành vi vi phạm hành chính phải được mô tả rõ ràng, cụ thể để có thể xác định và xử phạt được trong thực tiễn”. Khác với trước đây thì nhìn chung các nghị định xử phạt vi phạm hành chính hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu này. Ví dụ: Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Không tổ chức lập dự án đầu tư xây dựng đối với công trình theo quy định phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình; b) Lập dự án đầu tư xây dựng công trình không đầy đủ nội dung theo quy định; c) Không trình cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định dự án theo quy định; d) Không tổ chức phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình theo quy định.

Như vậy, tuy bốn hành vi trên đều có một khung tiền phạt chung từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nhưng được ghi riêng thành các hành vi vi phạm độc lập, người nào thực hiện hai hành vi trở lên sẽ xác định là thực hiện nhiều hành vi và mỗi hành vi sẽ bị phạt theo một mức riêng (nhất là trường hợp hành vi này có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ nhưng hành vi khác lại không), sau đó, cộng lại thành mức phạt chung.

Tuy vậy, đến nay, vẫn còn một số nghị định quy định theo cách gộp chung nhiều hành vi vi phạm vào trong một điểm hoặc một khoản của điều luật. Ví dụ: Theo điểm n khoản 1 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thì phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe có hành vi “bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định”. Như vậy, ở đây có hai hành vi khác nhau nhưng lại được quy định trong cùng một điểm, đó là “bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau” và “sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư”. Không rõ “bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau” và “sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư” thì có liên quan gì với nhau? Tại sao lại không tách ra thành hai hành vi và quy định vào hai điểm khác nhau vì đây là hai hành vi riêng biệt? Vì nếu vừa “chiếu sáng... “vừa “bấm còi...” là hai hành vi vi phạm độc lập và phải áp dụng nguyên tắc xử phạt đối với từng hành vi và tổng hợp thành mức phạt chung. Trong trường hợp này, nên quy định tách ra như sau: “Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi: a) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau; b) Sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư”.

Tóm lại, trong các nghị định xử phạt vi phạm hành chính vẫn còn những quy định gộp chung các hành vi khác nhau vào trong một điều (hoặc khoản, điểm) dẫn đễn việc khó phân định rạch ròi đối với trường hợp cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi được quy định trong một khoản hay một điểm. Vì vậy, cần thống nhất cách quy định sao cho từng hành vi vi phạm phải được phân biệt với nhau, tương tự như các cấu thành tội phạm cụ thể trong Bộ luật Hình sự, bảo đảm rành mạch, rõ ràng, dễ áp dụng.

3. Nên thống nhất quy định mức phạt trong các nghị định là đối với cá nhân, còn đối với với tổ chức thì mức phạt gấp đôi như khoản 2 Điều 24 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định

Hiện nay, cách quy định mức phạt trong các nghị định rất khác nhau. Có nghị định quy định mức phạt đối với cá nhân, sau đó, quy định đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt đối với cá nhân (như khoản 2 Điều 4 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP); nhưng lại có nghị định quy định mức phạt đối với tổ chức sau đó quy định mức phạt đối với cá nhân bằng ½ mức phạt đối với tổ chức (khoản 3 Điều 4 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP). Ví dụ, trong lĩnh vực xây dựng, Luật quy định mức phạt cao nhất là 500.000.000 đồng đối với cá nhân (điểm i khoản 1 Điều 24) nhưng tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP nói trên, Chính phủ lại quy định mức phạt trong lĩnh vực xây dựng cao nhất là 1.000.000.000 đồng đối với tổ chức, sau đó quy định mức phạt đối với cá nhân bằng ½ mức phạt đối với tổ chức.

Rất khó giải thích vì sao lại có cách quy định khác nhau như vậy. Tại sao không quy định “thuận chiều” như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (đối với cá nhân trước, sau đó đến tổ chức)? Phải chăng lĩnh vực nào vi phạm do tổ chức thực hiện phổ biến thì Chính phủ quy định mức phạt đối với tổ chức trước sau đó mới đến mức phạt đối với cá nhân, ngược lại, lĩnh vực nào vi phạm do cá nhân thực hiện là chủ yếu thì Chính phủ quy định mức phạt đối với cá nhân trước sau đó mới quy định mức phạt đối với tổ chức, trong khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định mức phạt tối đa trong từng lĩnh vực là đối với cá nhân, còn đối với tổ chức thì gấp hai lần. Quy định đảo ngược như vậy để làm gì, vừa không thực sự phù hợp về mặt kỹ thuật lập pháp vừa gây nên sự rối rắm không cần thiết. Vì vậy, nên thống nhất quy định mức phạt “thuận chiều” như Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 là cá nhân trước, tổ chức sau.

PGS.TS. Nguyễn Cảnh Hợp

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Cụ thể, điểm a: 10 lĩnh vực; điểm b: 07 lĩnh vực; điểm c: 29 lĩnh vực; điểm d: 07 lĩnh vực; điểm đ: 25 lĩnh vực; điểm e: 07 lĩnh vực; điểm g: 01 lĩnh vực; điểm h: 01 lĩnh vực; điểm i: 03 lĩnh vực; điểm k: 05 lĩnh vực.

[2] Khoản 3 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[3] Như Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở; Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng..

[4] Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

[5] Xem khoản 3 Điều 3 Nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: