Thứ sáu 15/05/2026 00:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam góp phần tăng cường bảo vệ quyền con người

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả đề cập đến một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm các quyền cơ bản của con người được bảo vệ thông qua chế định miễn chấp hành hình phạt trong luật hình sự; phân tích bản chất nhân đạo của pháp luật thông qua chế định miễn chấp hành hình phạt và đưa ra những đề xuất định hướng hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt nhằm tăng cường hơn nữa việc bảo vệ các quyền con người.

1. Khái quát về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự trong việc bảo vệ quyền con người

Việc bảo vệ các quyền con người bằng chế định miễn chấp hành hình phạt (CHHP) trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) được thể hiện tại Điều 62 với nhiều điểm mới, đã phân định việc “miễn CHHP” đối với người bị kết án “cải tạo không giam giữ” hoặc bị kết án “tù có thời hạn đến 03 năm” và “tù có thời hạn trên 03 năm”. Theo đó, nếu một người sau khi bị kết án đã lập công hoặc nếu người đó mắc bệnh hiểm nghèo hoặc chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn CHHP đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa CHHP; hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nhưng chưa CHHP nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Bộ luật Hình sự năm 2015 còn sửa đổi trường hợp được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại và bổ sung quy định về thực hiện các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án vào chế định miễn CHHP. Theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ CHHP, nếu “trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn” và xét thấy “người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 thực hiện việc chuyển nội dung quy định miễn CHHP đối với người bị kết án phạt tiền từ chế định giảm mức hình phạt đã tuyên của Bộ luật Hình sự năm 1999 về chế định này nhằm bảo đảm tính khoa học và đúng với bản chất pháp lý của điều luật. Ngoài ra, các nội dung khác cơ bản được giữ nguyên như quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, đó là: Được miễn CHHP khi người bị kết án được đặc xá hoặc đại xá; nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thì Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

2. Những điểm mới và đặc điểm của miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Miễn CHHP được ghi nhận tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 (gồm 07 khoản). Quy phạm của nó cho thấy các điểm mới lần đầu tiên được ghi nhận bao gồm[1]: (i) Tại các khoản 2, 3 và 4 đã có sự phân biệt rõ ràng hơn 03 trường hợp miễn CHHP tù có thời hạn với sự ràng buộc bằng các điều kiện nhất định do luật định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể và tùy theo từng mức (khoảng) thời gian bị kết án là: Đến 03 năm chưa CHHP; trên 03 năm chưa CHHP; đến 03 năm đã được tạm đình chỉ CHHP. (ii) Tại khoản 5 đã bổ sung quy định mới (trước là thuộc điều luật về giảm mức hình phạt) đó là người bị kết án được miễn CHHP tiền nếu đáp ứng các điều kiện luật định. (iii) Tại khoản 6, hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế có 01 điểm mới là: Cơ quan đề nghị miễn chấp hành phần hình phạt còn lại là “cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện”. (iv) Quy định mới về “phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự” dành cho người được miễn CHHP, do Tòa án tuyên trong bản án cũng đã được bổ sung tại khoản 7 Điều 62.

Xuất phát từ định nghĩa khoa học của khái niệm về miễn CHHP trong luật hình sự[2], đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng miễn CHHP ở Việt Nam qua các thời kỳ (trước và sau khi pháp điển hóa pháp luật hình sự), có thể khẳng định nội hàm của miễn CHHP trong luật hình sự bao gồm 05 đặc điểm:

(i) Miễn CHHP - quy phạm mang tính nhân đạo mà trong Phần chung Bộ luật Hình sự đã ghi nhận các biểu hiện: Mức độ xử lý về hình sự được tha thứ hoặc/và giảm nhẹ; mức độ áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự tương ứng được giảm nhẹ; trong Nhà nước pháp quyền, những giá trị xã hội cao quý nhất như sự tôn trọng và tư tưởng bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự được thừa nhận chung.

(ii) Sự khoan hồng của Nhà nước đối với những người phạm tội hoặc/và những người bị kết án được phản ánh ở các mức độ khác nhau thông qua biện pháp tha miễn hình sự. Nhà nước quan tâm đến việc cải tạo, giáo dục, khuyến khích những người đó sửa chữa sai lầm, nhằm phòng tránh họ phạm tội và tạo điều kiện để họ trở về cuộc sống lương thiện và sớm tái hòa nhập cộng đồng.

(iii) Thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án - Cơ quan tư pháp hình sự đối với miễn CHHP (dành cho những người phạm tội hoặc/và người bị kết án).

(iv) Chỉ khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định một cách cụ thể thì việc quyết định miễn CHHP mới được phép áp dụng.

(v) Từ bản chất pháp lý nên miễn CHHP được quyết định đối với người bị kết án cũng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý bị coi là có án tích.

3. Một số tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân

3.1. Tồn tại, hạn chế, vướng mắc

Qua nghiên cứu việc áp dụng các quy định về miễn CHHP trong thực tiễn đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp ở vấn đề sau:

Thứ nhất, quy định về các trường hợp miễn CHHP chưa chặt chẽ của tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm, thiếu đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Quy phạm mang tính định nghĩa vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX Bộ luật Hình sự năm 2015 (thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: Án treo (Điều 65), tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), hoãn CHHP tù (Điều 67), tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68).

Thứ hai, chế định miễn CHHP đã được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự, đó chính là kết quả của việc tính đến căn cứ/điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt và bảo đảm không ảnh hưởng/tác động đến an ninh, trật tự xã hội hoặc lợi ích của các nạn nhân. Điều này là cần thiết, nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn đối với từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Từ cách hiểu trên, Điều 66 tha tù trước thời hạn có điều kiện thì ranh giới được nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia/tội phá hoại hòa bình, chống loài người/tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác... Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác đã nêu ở trên.

Thứ ba, chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền con người, trong đó có đối tượng thuộc nhóm người yếu thế dễ bị tổn thương như: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP. Các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 tập hợp hóa, pháp điển hóa. Lần đầu tiên, các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng trách nhiệm hình sự là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện - đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66). Tuy nhiên, quy định tại Điều 62, người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng được miễn CHHP cho loại hình phạt: Cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng); hoặc người bị kết án tù trên 03 năm. Việc không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp (với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu).

Thứ tư, chưa có sự đồng nhất trong quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm (theo phân loại tội phạm). Nếu có đủ điều kiện quy định, đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm, thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” (như khoản 3 Điều 62). Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62 với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.

Thứ năm, điều kiện áp dụng có sự trùng khớp nhau ở khoản 1 Điều 67 và Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc đặt chung một điều luật đối với điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù thể hiện sự không chặt chẽ (về mặt quy phạm), điều này là không tương thích về tình trạng pháp lý. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đỉnh chỉ CHHP tù).

Thứ sáu, có sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này khi phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP, cụ thể: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự “không liên quan đến trách nhiệm hình sự”, “không phải là một phương tiện để thực hiện” (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) “gắn liền với trách nhiệm hình sự”, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). Không có quy định về việc thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.

Thứ bảy, miễn CHHP tiền còn lại được áp dụng cho cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, quy định việc miễn CHHP tiền còn lại chỉ được quy định tại khoản 5 Điều 62 đã không phân định được loại hình phạt nào.

Thứ tám, việc phi tội phạm hóa do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình thể hiện trong chính sách hình sự - vốn được hiểu là một tội phạm được xóa bỏ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý được quy định trong một điều luật. Đó là khi người bị kết án chưa CHHP/đang được hoãn CHHP thì được quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc khi người này đang được tạm đình chỉ CHHP thì hình phạt còn lại được miễn chấp hành. Điều đó đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế...). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo”, vấn đề này Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định.

Bên cạnh đó, việc thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng nên cơ quan có thẩm quyền trên thực tế áp dụng dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP). Do đó, còn có một số vướng mắc như sau:

(i) Trường hợp người bị kết án “lập công lớn”.

Mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP có giải thích về lập công lớn, tuy nhiên còn mang tính trừu tượng ở khái niệm “có giá trị”. Phát minh có giá trị nghĩa là gì, sáng kiến có giá trị là thế nào và điều kiện nào để các cơ quan có thẩm quyền xác nhận, thời gian xác nhận là bao lâu, giá trị ở cấp độ nào?... vẫn chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể nên tạo ra tính tùy nghi khi áp dụng. Do vậy, thực tế còn tồn tại nhiều sai sót chủ quan khi nhận xét, đánh giá người bị kết án có đủ hoặc không đủ các điều kiện để được hưởng chính sách nhân đạo này.

(ii) Xác định trường hợp nào “bị phạt cấm cư trú” và trường hợp nào “quản chế” nếu một phần hai hình phạt đã được chấp hành và người đó cải tạo tốt.

Tại tiểu mục 2.3, mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP quy định: “Cải tạo tốt được chứng minh bằng việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập”. Việc xác định người bị kết án có cải tạo tốt hay không phụ thuộc vào sự đánh giá của các cơ quan, tổ chức như chính quyền địa phương, tổ dân phố hoặc Công an khu vực nên rất dễ dẫn đến việc đánh giá còn chưa hoàn toàn chính xác. Việc đánh giá như thế nào là thành thực, tích cực cũng gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào sự phối hợp của các cơ quan chức năng và cũng có thể trong ít trường hợp người bị kết án “giả vờ” thành thực, tích cực để được hưởng cơ chế khoan hồng.

(iii) Xác định điều kiện đồng thời (điều kiện kép).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người bị kết án ngoài thỏa mãn các điều kiện cần là lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì cần phải thỏa mãn điều kiện đủ là “không còn nguy hiểm cho xã hội”. Về trường hợp người bị kết án mắc bệnh hiểm nghèo và còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không sẽ là kẽ hở để các cơ quan có thẩm quyền dễ dàng đánh giá và thiếu chính xác. Ví dụ như căn cứ vào các bệnh lý hoặc/và thông qua thực tế nhìn nhận có thể khẳng định rằng người này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên, trường hợp người bị kết án lập công lớn thì việc đánh giá người này còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không còn gặp nhiều khó khăn.

3.2. Nguyên nhân

(i) Quy định về miễn CHHP theo Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn một số bất cập, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến có sự không thống nhất trong việc áp dụng các quy định đối với các trường hợp tha, miễn rất dễ tạo tâm lý ngại áp dụng của thẩm phán, từ đó dẫn đến việc giảm nhẹ ở một số vụ án còn chưa đúng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Qua thực tiễn áp dụng vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.

(ii) Có một số ít trường hợp xuất phát từ nguyên nhân là do trình độ nhận thức của thẩm phán, hội thẩm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu.

(iii) Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát của Tòa án nhân dân cấp trên đối với Tòa án nhân dân cấp dưới trong công tác xét xử chưa thường xuyên, liên tục.

4. Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về miễn chấp hành hình phạt

Sau khi nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn về miễn CHHP tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả đồng nhất với quan điểm của GS. TSKH. Lê Văn Cảm trong việc đề xuất hoàn thiện chế định miễn CHHP[3] với nội dung cụ thể:

Một là, cần bảo đảm thống nhất nội dung khi sử dụng thuật ngữ “lập công” trong khoản 2, khoản 4 với “lập công lớn” trong khoản 3 và khoản 5 Điều 62. Trong mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP khái niệm “lập công lớn” nên được hiểu là “có hành động giúp cơ quan nhà nước” nhằm phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm hay “cứu được người khác” khi người đó trong “tình thế hiểm nghèo” hoặc “mặc dù trong thiên tai, hỏa hoạn nhưng không để mất tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân”; hay được cơ quan xác nhận về “những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác” (điểm a tiểu mục 2.1 mục 2). Còn “đã lập công” là trường hợp lập công phải lớn hoặc thành tích xuất sắc mà người bị kết án có được trong cuộc sống/sản xuất/chiến đấu/học tập/công tác, đồng thời phải được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng/chứng nhận (tiểu mục 2.2, mục 2). Qua đó cho thấy “lập công” bao hàm trong đó cả “lập công lớn” và có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực. Để lập được thành tích xuất sắc đối với người bị kết án là một việc không hề dễ dàng, những người có được thành tích đó phải chấp hành tốt pháp luật, có nhiều tiến bộ, được tập thể nơi người đó sinh sống và làm việc đánh giá cao thì mới có thể lập được thành tích xuất sắc, được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận, những người có ý thức như vậy xứng đáng nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, để nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự đối với người bị kết án và mở rộng phạm vi áp dụng, nên quy định thống nhất ở các khoản của Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “đã lập công” (bỏ từ “lớn”).

Hai là, khoản 6 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho phép người bị phạt cấm cư trú/quản chế, nếu “đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt”, thì được “miễn chấp hành phần hình phạt còn lại”. Theo điều luật này thì chỉ có người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế mới là đối tượng có thể được xem xét miễn CHHP còn lại, còn các hình phạt bổ sung khác (bị tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm kinh doanh...) lại không được xem xét miễn CHHP còn lại. Điều này không thể hiện được tính công bằng, không động viên được những người đang chịu hình phạt bổ sung khác tích cực chấp hành và cải tạo tốt để được hưởng khoan hồng. Theo ý kiến của tác giả, đối tượng “có thể” được miễn CHHP phải được làm rõ “là người đang CHHP bổ sung” hay là “người bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế”; bổ sung đối tượng “là người phải chịu các hình phạt bổ sung khác (như người bị tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm kinh doanh)”. Cụ thể, Điều 62 cần phải được sửa đổi khoản 6, từ người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thành người bị áp dụng hình phạt bổ sung là “tước một số quyền công dân, cấm cư trú hoặc quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”, thêm vào “nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt”, thì Tòa án có thể quyết định miễn CHHP phạt còn lại, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó CHHP.

Trương Huy Huân

Giám đốc Sở Tư pháp Hà Giang

[1]. Lê Văn Cảm, Đỗ Tuấn Anh, Nhận thức khoa học về các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Kỳ 1), kiemsat.vn.

[2]. Xem Lê Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung) (Sách chuyên khảo Sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 790.

[3]. Trích theo Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 604 - 610.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: