Thứ sáu 16/01/2026 10:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam góp phần tăng cường bảo vệ quyền con người

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả đề cập đến một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm các quyền cơ bản của con người được bảo vệ thông qua chế định miễn chấp hành hình phạt trong luật hình sự; phân tích bản chất nhân đạo của pháp luật thông qua chế định miễn chấp hành hình phạt và đưa ra những đề xuất định hướng hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt nhằm tăng cường hơn nữa việc bảo vệ các quyền con người.

1. Khái quát về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự trong việc bảo vệ quyền con người

Việc bảo vệ các quyền con người bằng chế định miễn chấp hành hình phạt (CHHP) trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) được thể hiện tại Điều 62 với nhiều điểm mới, đã phân định việc “miễn CHHP” đối với người bị kết án “cải tạo không giam giữ” hoặc bị kết án “tù có thời hạn đến 03 năm” và “tù có thời hạn trên 03 năm”. Theo đó, nếu một người sau khi bị kết án đã lập công hoặc nếu người đó mắc bệnh hiểm nghèo hoặc chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn CHHP đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa CHHP; hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nhưng chưa CHHP nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Bộ luật Hình sự năm 2015 còn sửa đổi trường hợp được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại và bổ sung quy định về thực hiện các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án vào chế định miễn CHHP. Theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ CHHP, nếu “trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn” và xét thấy “người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 thực hiện việc chuyển nội dung quy định miễn CHHP đối với người bị kết án phạt tiền từ chế định giảm mức hình phạt đã tuyên của Bộ luật Hình sự năm 1999 về chế định này nhằm bảo đảm tính khoa học và đúng với bản chất pháp lý của điều luật. Ngoài ra, các nội dung khác cơ bản được giữ nguyên như quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, đó là: Được miễn CHHP khi người bị kết án được đặc xá hoặc đại xá; nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thì Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

2. Những điểm mới và đặc điểm của miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Miễn CHHP được ghi nhận tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 (gồm 07 khoản). Quy phạm của nó cho thấy các điểm mới lần đầu tiên được ghi nhận bao gồm[1]: (i) Tại các khoản 2, 3 và 4 đã có sự phân biệt rõ ràng hơn 03 trường hợp miễn CHHP tù có thời hạn với sự ràng buộc bằng các điều kiện nhất định do luật định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể và tùy theo từng mức (khoảng) thời gian bị kết án là: Đến 03 năm chưa CHHP; trên 03 năm chưa CHHP; đến 03 năm đã được tạm đình chỉ CHHP. (ii) Tại khoản 5 đã bổ sung quy định mới (trước là thuộc điều luật về giảm mức hình phạt) đó là người bị kết án được miễn CHHP tiền nếu đáp ứng các điều kiện luật định. (iii) Tại khoản 6, hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế có 01 điểm mới là: Cơ quan đề nghị miễn chấp hành phần hình phạt còn lại là “cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện”. (iv) Quy định mới về “phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự” dành cho người được miễn CHHP, do Tòa án tuyên trong bản án cũng đã được bổ sung tại khoản 7 Điều 62.

Xuất phát từ định nghĩa khoa học của khái niệm về miễn CHHP trong luật hình sự[2], đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng miễn CHHP ở Việt Nam qua các thời kỳ (trước và sau khi pháp điển hóa pháp luật hình sự), có thể khẳng định nội hàm của miễn CHHP trong luật hình sự bao gồm 05 đặc điểm:

(i) Miễn CHHP - quy phạm mang tính nhân đạo mà trong Phần chung Bộ luật Hình sự đã ghi nhận các biểu hiện: Mức độ xử lý về hình sự được tha thứ hoặc/và giảm nhẹ; mức độ áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự tương ứng được giảm nhẹ; trong Nhà nước pháp quyền, những giá trị xã hội cao quý nhất như sự tôn trọng và tư tưởng bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự được thừa nhận chung.

(ii) Sự khoan hồng của Nhà nước đối với những người phạm tội hoặc/và những người bị kết án được phản ánh ở các mức độ khác nhau thông qua biện pháp tha miễn hình sự. Nhà nước quan tâm đến việc cải tạo, giáo dục, khuyến khích những người đó sửa chữa sai lầm, nhằm phòng tránh họ phạm tội và tạo điều kiện để họ trở về cuộc sống lương thiện và sớm tái hòa nhập cộng đồng.

(iii) Thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án - Cơ quan tư pháp hình sự đối với miễn CHHP (dành cho những người phạm tội hoặc/và người bị kết án).

(iv) Chỉ khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định một cách cụ thể thì việc quyết định miễn CHHP mới được phép áp dụng.

(v) Từ bản chất pháp lý nên miễn CHHP được quyết định đối với người bị kết án cũng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý bị coi là có án tích.

3. Một số tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân

3.1. Tồn tại, hạn chế, vướng mắc

Qua nghiên cứu việc áp dụng các quy định về miễn CHHP trong thực tiễn đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp ở vấn đề sau:

Thứ nhất, quy định về các trường hợp miễn CHHP chưa chặt chẽ của tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm, thiếu đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Quy phạm mang tính định nghĩa vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX Bộ luật Hình sự năm 2015 (thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: Án treo (Điều 65), tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), hoãn CHHP tù (Điều 67), tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68).

Thứ hai, chế định miễn CHHP đã được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự, đó chính là kết quả của việc tính đến căn cứ/điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt và bảo đảm không ảnh hưởng/tác động đến an ninh, trật tự xã hội hoặc lợi ích của các nạn nhân. Điều này là cần thiết, nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn đối với từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Từ cách hiểu trên, Điều 66 tha tù trước thời hạn có điều kiện thì ranh giới được nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia/tội phá hoại hòa bình, chống loài người/tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác... Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác đã nêu ở trên.

Thứ ba, chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền con người, trong đó có đối tượng thuộc nhóm người yếu thế dễ bị tổn thương như: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP. Các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 tập hợp hóa, pháp điển hóa. Lần đầu tiên, các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng trách nhiệm hình sự là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện - đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66). Tuy nhiên, quy định tại Điều 62, người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng được miễn CHHP cho loại hình phạt: Cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng); hoặc người bị kết án tù trên 03 năm. Việc không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp (với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu).

Thứ tư, chưa có sự đồng nhất trong quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm (theo phân loại tội phạm). Nếu có đủ điều kiện quy định, đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm, thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” (như khoản 3 Điều 62). Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62 với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.

Thứ năm, điều kiện áp dụng có sự trùng khớp nhau ở khoản 1 Điều 67 và Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc đặt chung một điều luật đối với điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù thể hiện sự không chặt chẽ (về mặt quy phạm), điều này là không tương thích về tình trạng pháp lý. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đỉnh chỉ CHHP tù).

Thứ sáu, có sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này khi phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP, cụ thể: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự “không liên quan đến trách nhiệm hình sự”, “không phải là một phương tiện để thực hiện” (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) “gắn liền với trách nhiệm hình sự”, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). Không có quy định về việc thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.

Thứ bảy, miễn CHHP tiền còn lại được áp dụng cho cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, quy định việc miễn CHHP tiền còn lại chỉ được quy định tại khoản 5 Điều 62 đã không phân định được loại hình phạt nào.

Thứ tám, việc phi tội phạm hóa do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình thể hiện trong chính sách hình sự - vốn được hiểu là một tội phạm được xóa bỏ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý được quy định trong một điều luật. Đó là khi người bị kết án chưa CHHP/đang được hoãn CHHP thì được quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc khi người này đang được tạm đình chỉ CHHP thì hình phạt còn lại được miễn chấp hành. Điều đó đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế...). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo”, vấn đề này Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định.

Bên cạnh đó, việc thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng nên cơ quan có thẩm quyền trên thực tế áp dụng dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP). Do đó, còn có một số vướng mắc như sau:

(i) Trường hợp người bị kết án “lập công lớn”.

Mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP có giải thích về lập công lớn, tuy nhiên còn mang tính trừu tượng ở khái niệm “có giá trị”. Phát minh có giá trị nghĩa là gì, sáng kiến có giá trị là thế nào và điều kiện nào để các cơ quan có thẩm quyền xác nhận, thời gian xác nhận là bao lâu, giá trị ở cấp độ nào?... vẫn chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể nên tạo ra tính tùy nghi khi áp dụng. Do vậy, thực tế còn tồn tại nhiều sai sót chủ quan khi nhận xét, đánh giá người bị kết án có đủ hoặc không đủ các điều kiện để được hưởng chính sách nhân đạo này.

(ii) Xác định trường hợp nào “bị phạt cấm cư trú” và trường hợp nào “quản chế” nếu một phần hai hình phạt đã được chấp hành và người đó cải tạo tốt.

Tại tiểu mục 2.3, mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP quy định: “Cải tạo tốt được chứng minh bằng việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập”. Việc xác định người bị kết án có cải tạo tốt hay không phụ thuộc vào sự đánh giá của các cơ quan, tổ chức như chính quyền địa phương, tổ dân phố hoặc Công an khu vực nên rất dễ dẫn đến việc đánh giá còn chưa hoàn toàn chính xác. Việc đánh giá như thế nào là thành thực, tích cực cũng gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào sự phối hợp của các cơ quan chức năng và cũng có thể trong ít trường hợp người bị kết án “giả vờ” thành thực, tích cực để được hưởng cơ chế khoan hồng.

(iii) Xác định điều kiện đồng thời (điều kiện kép).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người bị kết án ngoài thỏa mãn các điều kiện cần là lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì cần phải thỏa mãn điều kiện đủ là “không còn nguy hiểm cho xã hội”. Về trường hợp người bị kết án mắc bệnh hiểm nghèo và còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không sẽ là kẽ hở để các cơ quan có thẩm quyền dễ dàng đánh giá và thiếu chính xác. Ví dụ như căn cứ vào các bệnh lý hoặc/và thông qua thực tế nhìn nhận có thể khẳng định rằng người này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên, trường hợp người bị kết án lập công lớn thì việc đánh giá người này còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không còn gặp nhiều khó khăn.

3.2. Nguyên nhân

(i) Quy định về miễn CHHP theo Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn một số bất cập, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến có sự không thống nhất trong việc áp dụng các quy định đối với các trường hợp tha, miễn rất dễ tạo tâm lý ngại áp dụng của thẩm phán, từ đó dẫn đến việc giảm nhẹ ở một số vụ án còn chưa đúng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Qua thực tiễn áp dụng vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.

(ii) Có một số ít trường hợp xuất phát từ nguyên nhân là do trình độ nhận thức của thẩm phán, hội thẩm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu.

(iii) Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát của Tòa án nhân dân cấp trên đối với Tòa án nhân dân cấp dưới trong công tác xét xử chưa thường xuyên, liên tục.

4. Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về miễn chấp hành hình phạt

Sau khi nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn về miễn CHHP tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả đồng nhất với quan điểm của GS. TSKH. Lê Văn Cảm trong việc đề xuất hoàn thiện chế định miễn CHHP[3] với nội dung cụ thể:

Một là, cần bảo đảm thống nhất nội dung khi sử dụng thuật ngữ “lập công” trong khoản 2, khoản 4 với “lập công lớn” trong khoản 3 và khoản 5 Điều 62. Trong mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP khái niệm “lập công lớn” nên được hiểu là “có hành động giúp cơ quan nhà nước” nhằm phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm hay “cứu được người khác” khi người đó trong “tình thế hiểm nghèo” hoặc “mặc dù trong thiên tai, hỏa hoạn nhưng không để mất tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân”; hay được cơ quan xác nhận về “những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác” (điểm a tiểu mục 2.1 mục 2). Còn “đã lập công” là trường hợp lập công phải lớn hoặc thành tích xuất sắc mà người bị kết án có được trong cuộc sống/sản xuất/chiến đấu/học tập/công tác, đồng thời phải được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng/chứng nhận (tiểu mục 2.2, mục 2). Qua đó cho thấy “lập công” bao hàm trong đó cả “lập công lớn” và có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực. Để lập được thành tích xuất sắc đối với người bị kết án là một việc không hề dễ dàng, những người có được thành tích đó phải chấp hành tốt pháp luật, có nhiều tiến bộ, được tập thể nơi người đó sinh sống và làm việc đánh giá cao thì mới có thể lập được thành tích xuất sắc, được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận, những người có ý thức như vậy xứng đáng nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, để nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự đối với người bị kết án và mở rộng phạm vi áp dụng, nên quy định thống nhất ở các khoản của Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “đã lập công” (bỏ từ “lớn”).

Hai là, khoản 6 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho phép người bị phạt cấm cư trú/quản chế, nếu “đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt”, thì được “miễn chấp hành phần hình phạt còn lại”. Theo điều luật này thì chỉ có người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế mới là đối tượng có thể được xem xét miễn CHHP còn lại, còn các hình phạt bổ sung khác (bị tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm kinh doanh...) lại không được xem xét miễn CHHP còn lại. Điều này không thể hiện được tính công bằng, không động viên được những người đang chịu hình phạt bổ sung khác tích cực chấp hành và cải tạo tốt để được hưởng khoan hồng. Theo ý kiến của tác giả, đối tượng “có thể” được miễn CHHP phải được làm rõ “là người đang CHHP bổ sung” hay là “người bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế”; bổ sung đối tượng “là người phải chịu các hình phạt bổ sung khác (như người bị tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm kinh doanh)”. Cụ thể, Điều 62 cần phải được sửa đổi khoản 6, từ người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thành người bị áp dụng hình phạt bổ sung là “tước một số quyền công dân, cấm cư trú hoặc quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”, thêm vào “nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt”, thì Tòa án có thể quyết định miễn CHHP phạt còn lại, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó CHHP.

Trương Huy Huân

Giám đốc Sở Tư pháp Hà Giang

[1]. Lê Văn Cảm, Đỗ Tuấn Anh, Nhận thức khoa học về các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Kỳ 1), kiemsat.vn.

[2]. Xem Lê Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung) (Sách chuyên khảo Sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 790.

[3]. Trích theo Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 604 - 610.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: