Thứ ba 22/09/2026 07:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam góp phần tăng cường bảo vệ quyền con người

Trong khuôn khổ bài viết, tác giả đề cập đến một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm các quyền cơ bản của con người được bảo vệ thông qua chế định miễn chấp hành hình phạt trong luật hình sự; phân tích bản chất nhân đạo của pháp luật thông qua chế định miễn chấp hành hình phạt và đưa ra những đề xuất định hướng hoàn thiện chế định miễn chấp hành hình phạt nhằm tăng cường hơn nữa việc bảo vệ các quyền con người.

1. Khái quát về miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự trong việc bảo vệ quyền con người

Việc bảo vệ các quyền con người bằng chế định miễn chấp hành hình phạt (CHHP) trong Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015) được thể hiện tại Điều 62 với nhiều điểm mới, đã phân định việc “miễn CHHP” đối với người bị kết án “cải tạo không giam giữ” hoặc bị kết án “tù có thời hạn đến 03 năm” và “tù có thời hạn trên 03 năm”. Theo đó, nếu một người sau khi bị kết án đã lập công hoặc nếu người đó mắc bệnh hiểm nghèo hoặc chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn CHHP đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa CHHP; hoặc miễn chấp hành toàn bộ hình phạt đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm nhưng chưa CHHP nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Bộ luật Hình sự năm 2015 còn sửa đổi trường hợp được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại và bổ sung quy định về thực hiện các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án vào chế định miễn CHHP. Theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại đối với người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ CHHP, nếu “trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn” và xét thấy “người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 thực hiện việc chuyển nội dung quy định miễn CHHP đối với người bị kết án phạt tiền từ chế định giảm mức hình phạt đã tuyên của Bộ luật Hình sự năm 1999 về chế định này nhằm bảo đảm tính khoa học và đúng với bản chất pháp lý của điều luật. Ngoài ra, các nội dung khác cơ bản được giữ nguyên như quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, đó là: Được miễn CHHP khi người bị kết án được đặc xá hoặc đại xá; nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thì Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

2. Những điểm mới và đặc điểm của miễn chấp hành hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Miễn CHHP được ghi nhận tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 (gồm 07 khoản). Quy phạm của nó cho thấy các điểm mới lần đầu tiên được ghi nhận bao gồm[1]: (i) Tại các khoản 2, 3 và 4 đã có sự phân biệt rõ ràng hơn 03 trường hợp miễn CHHP tù có thời hạn với sự ràng buộc bằng các điều kiện nhất định do luật định tương ứng trong từng trường hợp cụ thể và tùy theo từng mức (khoảng) thời gian bị kết án là: Đến 03 năm chưa CHHP; trên 03 năm chưa CHHP; đến 03 năm đã được tạm đình chỉ CHHP. (ii) Tại khoản 5 đã bổ sung quy định mới (trước là thuộc điều luật về giảm mức hình phạt) đó là người bị kết án được miễn CHHP tiền nếu đáp ứng các điều kiện luật định. (iii) Tại khoản 6, hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế có 01 điểm mới là: Cơ quan đề nghị miễn chấp hành phần hình phạt còn lại là “cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện”. (iv) Quy định mới về “phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự” dành cho người được miễn CHHP, do Tòa án tuyên trong bản án cũng đã được bổ sung tại khoản 7 Điều 62.

Xuất phát từ định nghĩa khoa học của khái niệm về miễn CHHP trong luật hình sự[2], đồng thời phân tích thực tiễn áp dụng miễn CHHP ở Việt Nam qua các thời kỳ (trước và sau khi pháp điển hóa pháp luật hình sự), có thể khẳng định nội hàm của miễn CHHP trong luật hình sự bao gồm 05 đặc điểm:

(i) Miễn CHHP - quy phạm mang tính nhân đạo mà trong Phần chung Bộ luật Hình sự đã ghi nhận các biểu hiện: Mức độ xử lý về hình sự được tha thứ hoặc/và giảm nhẹ; mức độ áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự tương ứng được giảm nhẹ; trong Nhà nước pháp quyền, những giá trị xã hội cao quý nhất như sự tôn trọng và tư tưởng bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự được thừa nhận chung.

(ii) Sự khoan hồng của Nhà nước đối với những người phạm tội hoặc/và những người bị kết án được phản ánh ở các mức độ khác nhau thông qua biện pháp tha miễn hình sự. Nhà nước quan tâm đến việc cải tạo, giáo dục, khuyến khích những người đó sửa chữa sai lầm, nhằm phòng tránh họ phạm tội và tạo điều kiện để họ trở về cuộc sống lương thiện và sớm tái hòa nhập cộng đồng.

(iii) Thẩm quyền quyết định thuộc về Tòa án - Cơ quan tư pháp hình sự đối với miễn CHHP (dành cho những người phạm tội hoặc/và người bị kết án).

(iv) Chỉ khi có đầy đủ các căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định một cách cụ thể thì việc quyết định miễn CHHP mới được phép áp dụng.

(v) Từ bản chất pháp lý nên miễn CHHP được quyết định đối với người bị kết án cũng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý bị coi là có án tích.

3. Một số tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân

3.1. Tồn tại, hạn chế, vướng mắc

Qua nghiên cứu việc áp dụng các quy định về miễn CHHP trong thực tiễn đã bộc lộ bất cập về tính hợp lý, căn cứ khoa học và kỹ thuật lập pháp ở vấn đề sau:

Thứ nhất, quy định về các trường hợp miễn CHHP chưa chặt chẽ của tính hợp lý về mặt cấu trúc của quy phạm, thiếu đồng nhất bản chất pháp lý giữa sự liên kết của các biện pháp này. Quy phạm mang tính định nghĩa vẫn chưa được xây dựng, cách sắp xếp chế định này trong Chương IX Bộ luật Hình sự năm 2015 (thời hiệu thi hành bản án, miễn CHHP, giảm thời hạn CHHP) với các chế định khác có liên quan đến miễn CHHP nhưng chưa phản ánh hết nội hàm đã liệt kê như: Án treo (Điều 65), tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66), hoãn CHHP tù (Điều 67), tạm đình chỉ CHHP tù (Điều 68).

Thứ hai, chế định miễn CHHP đã được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự, đó chính là kết quả của việc tính đến căn cứ/điều kiện được miễn khỏi sự trừng phạt và bảo đảm không ảnh hưởng/tác động đến an ninh, trật tự xã hội hoặc lợi ích của các nạn nhân. Điều này là cần thiết, nhằm tăng cường tính hiệu quả trong việc tha miễn đối với từng nhóm tội phạm (kể cả trường hợp tiếp nhận người bị kết án về Việt Nam CHHP tù). Từ cách hiểu trên, Điều 66 tha tù trước thời hạn có điều kiện thì ranh giới được nhà làm luật hạn chế và không áp dụng đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia/tội phá hoại hòa bình, chống loài người/tội phạm chiến tranh hoặc các tội phạm cụ thể khác... Tuy nhiên, căn cứ để miễn CHHP theo Điều 62 về hình phạt tù có thời hạn đến 30 năm thì theo chiều hướng ngược lại, không giới hạn về một trong các tội thuộc nhóm tội này là chưa tương thích với những chế định khác đã nêu ở trên.

Thứ ba, chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền con người, trong đó có đối tượng thuộc nhóm người yếu thế dễ bị tổn thương như: Phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật trong chế định CHHP hay miễn CHHP. Các hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong thực tiễn xét xử đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 tập hợp hóa, pháp điển hóa. Lần đầu tiên, các quy phạm không chỉ phản ánh sự gia tăng trách nhiệm hình sự là đối tượng tác động của tội phạm hoặc giảm nhẹ chúng khi thực hiện hành vi phạm tội đối với người từ 70 tuổi trở lên mà còn là điều kiện - đối tượng được tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66). Tuy nhiên, quy định tại Điều 62, người bị kết án từ 70 tuổi trở lên không thuộc đối tượng được miễn CHHP cho loại hình phạt: Cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn đến 03 năm (ít nghiêm trọng); hoặc người bị kết án tù trên 03 năm. Việc không phân biệt loại tội bị kết án, mức hình phạt đã tuyên khi chưa chấp hành là chưa phù hợp (với một trong những dạng miễn CHHP đã nêu).

Thứ tư, chưa có sự đồng nhất trong quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 62 nếu xét về tính chất, mức độ nguy hiểm (theo phân loại tội phạm). Nếu có đủ điều kiện quy định, đối với loại hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm, thì được “miễn CHHP” mà không phải “miễn toàn bộ hình phạt” (như khoản 3 Điều 62). Do đó, cần thống nhất khoản 2 và khoản 3 Điều 62 với quy định chung là “miễn chấp hành toàn bộ hình phạt”.

Thứ năm, điều kiện áp dụng có sự trùng khớp nhau ở khoản 1 Điều 67 và Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc đặt chung một điều luật đối với điều kiện hoãn và tạm đình chỉ CHHP tù thể hiện sự không chặt chẽ (về mặt quy phạm), điều này là không tương thích về tình trạng pháp lý. Khi căn cứ và điều kiện giống nhau được sử dụng cho hai trường hợp khác biệt “chưa chấp hành” (do hoãn CHHP tù) và “đang chấp hành” (được tạm đỉnh chỉ CHHP tù).

Thứ sáu, có sự đa dạng và tính chất không đồng nhất của các biện pháp này khi phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các trường hợp miễn CHHP, cụ thể: (i) Các biện pháp của pháp luật hình sự “không liên quan đến trách nhiệm hình sự”, “không phải là một phương tiện để thực hiện” (các biện pháp y tế bắt buộc áp dụng đối với người mắc bệnh tâm thần); (ii) Các biện pháp của pháp luật hình sự (hiệu ứng) “gắn liền với trách nhiệm hình sự”, đó là những phương tiện thực hiện của nó (về CHHP, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra, khấu trừ thu nhập, bắt buộc chữa bệnh). Không có quy định về việc thực hiện khấu trừ một phần thu nhập (tư pháp dân sự); bắt buộc chữa bệnh; án phí, kể cả phạt tiền là hình phạt bổ sung (trong một số trường hợp) phải thực hiện khi được miễn CHHP.

Thứ bảy, miễn CHHP tiền còn lại được áp dụng cho cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung theo hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, quy định việc miễn CHHP tiền còn lại chỉ được quy định tại khoản 5 Điều 62 đã không phân định được loại hình phạt nào.

Thứ tám, việc phi tội phạm hóa do thay đổi hoặc chuyển biến tình hình thể hiện trong chính sách hình sự - vốn được hiểu là một tội phạm được xóa bỏ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý được quy định trong một điều luật. Đó là khi người bị kết án chưa CHHP/đang được hoãn CHHP thì được quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; hoặc khi người này đang được tạm đình chỉ CHHP thì hình phạt còn lại được miễn chấp hành. Điều đó đồng nghĩa với việc xóa toàn bộ cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung (cấm cư trú, quản chế...). Tương tự, đối với người bị kết án cố tình trốn tránh việc CHHP, trong thời gian đó đã “lập công lớn” hoặc “mắc bệnh hiểm nghèo”, vấn đề này Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định.

Bên cạnh đó, việc thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể để áp dụng nên cơ quan có thẩm quyền trên thực tế áp dụng dựa trên tinh thần của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP). Do đó, còn có một số vướng mắc như sau:

(i) Trường hợp người bị kết án “lập công lớn”.

Mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP có giải thích về lập công lớn, tuy nhiên còn mang tính trừu tượng ở khái niệm “có giá trị”. Phát minh có giá trị nghĩa là gì, sáng kiến có giá trị là thế nào và điều kiện nào để các cơ quan có thẩm quyền xác nhận, thời gian xác nhận là bao lâu, giá trị ở cấp độ nào?... vẫn chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể nên tạo ra tính tùy nghi khi áp dụng. Do vậy, thực tế còn tồn tại nhiều sai sót chủ quan khi nhận xét, đánh giá người bị kết án có đủ hoặc không đủ các điều kiện để được hưởng chính sách nhân đạo này.

(ii) Xác định trường hợp nào “bị phạt cấm cư trú” và trường hợp nào “quản chế” nếu một phần hai hình phạt đã được chấp hành và người đó cải tạo tốt.

Tại tiểu mục 2.3, mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP quy định: “Cải tạo tốt được chứng minh bằng việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật; thành thực hối cải, tích cực lao động, học tập”. Việc xác định người bị kết án có cải tạo tốt hay không phụ thuộc vào sự đánh giá của các cơ quan, tổ chức như chính quyền địa phương, tổ dân phố hoặc Công an khu vực nên rất dễ dẫn đến việc đánh giá còn chưa hoàn toàn chính xác. Việc đánh giá như thế nào là thành thực, tích cực cũng gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc vào sự phối hợp của các cơ quan chức năng và cũng có thể trong ít trường hợp người bị kết án “giả vờ” thành thực, tích cực để được hưởng cơ chế khoan hồng.

(iii) Xác định điều kiện đồng thời (điều kiện kép).

Theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người bị kết án ngoài thỏa mãn các điều kiện cần là lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì cần phải thỏa mãn điều kiện đủ là “không còn nguy hiểm cho xã hội”. Về trường hợp người bị kết án mắc bệnh hiểm nghèo và còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không sẽ là kẽ hở để các cơ quan có thẩm quyền dễ dàng đánh giá và thiếu chính xác. Ví dụ như căn cứ vào các bệnh lý hoặc/và thông qua thực tế nhìn nhận có thể khẳng định rằng người này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Tuy nhiên, trường hợp người bị kết án lập công lớn thì việc đánh giá người này còn nguy hiểm cho xã hội nữa hay không còn gặp nhiều khó khăn.

3.2. Nguyên nhân

(i) Quy định về miễn CHHP theo Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn một số bất cập, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến có sự không thống nhất trong việc áp dụng các quy định đối với các trường hợp tha, miễn rất dễ tạo tâm lý ngại áp dụng của thẩm phán, từ đó dẫn đến việc giảm nhẹ ở một số vụ án còn chưa đúng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Qua thực tiễn áp dụng vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.

(ii) Có một số ít trường hợp xuất phát từ nguyên nhân là do trình độ nhận thức của thẩm phán, hội thẩm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu.

(iii) Việc kiểm tra, thanh tra, giám sát của Tòa án nhân dân cấp trên đối với Tòa án nhân dân cấp dưới trong công tác xét xử chưa thường xuyên, liên tục.

4. Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về miễn chấp hành hình phạt

Sau khi nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn về miễn CHHP tại Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả đồng nhất với quan điểm của GS. TSKH. Lê Văn Cảm trong việc đề xuất hoàn thiện chế định miễn CHHP[3] với nội dung cụ thể:

Một là, cần bảo đảm thống nhất nội dung khi sử dụng thuật ngữ “lập công” trong khoản 2, khoản 4 với “lập công lớn” trong khoản 3 và khoản 5 Điều 62. Trong mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP khái niệm “lập công lớn” nên được hiểu là “có hành động giúp cơ quan nhà nước” nhằm phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm hay “cứu được người khác” khi người đó trong “tình thế hiểm nghèo” hoặc “mặc dù trong thiên tai, hỏa hoạn nhưng không để mất tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân”; hay được cơ quan xác nhận về “những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác” (điểm a tiểu mục 2.1 mục 2). Còn “đã lập công” là trường hợp lập công phải lớn hoặc thành tích xuất sắc mà người bị kết án có được trong cuộc sống/sản xuất/chiến đấu/học tập/công tác, đồng thời phải được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng/chứng nhận (tiểu mục 2.2, mục 2). Qua đó cho thấy “lập công” bao hàm trong đó cả “lập công lớn” và có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực. Để lập được thành tích xuất sắc đối với người bị kết án là một việc không hề dễ dàng, những người có được thành tích đó phải chấp hành tốt pháp luật, có nhiều tiến bộ, được tập thể nơi người đó sinh sống và làm việc đánh giá cao thì mới có thể lập được thành tích xuất sắc, được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận, những người có ý thức như vậy xứng đáng nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, để nhân đạo hóa hơn nữa chính sách hình sự đối với người bị kết án và mở rộng phạm vi áp dụng, nên quy định thống nhất ở các khoản của Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 là “đã lập công” (bỏ từ “lớn”).

Hai là, khoản 6 Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho phép người bị phạt cấm cư trú/quản chế, nếu “đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt”, thì được “miễn chấp hành phần hình phạt còn lại”. Theo điều luật này thì chỉ có người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế mới là đối tượng có thể được xem xét miễn CHHP còn lại, còn các hình phạt bổ sung khác (bị tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm kinh doanh...) lại không được xem xét miễn CHHP còn lại. Điều này không thể hiện được tính công bằng, không động viên được những người đang chịu hình phạt bổ sung khác tích cực chấp hành và cải tạo tốt để được hưởng khoan hồng. Theo ý kiến của tác giả, đối tượng “có thể” được miễn CHHP phải được làm rõ “là người đang CHHP bổ sung” hay là “người bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm cư trú hoặc quản chế”; bổ sung đối tượng “là người phải chịu các hình phạt bổ sung khác (như người bị tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm kinh doanh)”. Cụ thể, Điều 62 cần phải được sửa đổi khoản 6, từ người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt thành người bị áp dụng hình phạt bổ sung là “tước một số quyền công dân, cấm cư trú hoặc quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”, thêm vào “nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt”, thì Tòa án có thể quyết định miễn CHHP phạt còn lại, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện nơi người đó CHHP.

Trương Huy Huân

Giám đốc Sở Tư pháp Hà Giang

[1]. Lê Văn Cảm, Đỗ Tuấn Anh, Nhận thức khoa học về các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Kỳ 1), kiemsat.vn.

[2]. Xem Lê Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (phần chung) (Sách chuyên khảo Sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr. 790.

[3]. Trích theo Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 604 - 610.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 386), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: