Thứ ba 16/06/2026 19:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện chế định về quyền bề mặt trong pháp luật dân sự Việt Nam

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có ghi nhận chính thức về quyền bề mặt. Theo đó, quyền bề mặt là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác. Bộ luật này cũng quy định về căn cứ xác lập, hiệu lực, thời hạn, nội dung của quyền bề mặt, vấn đề chấm dứt và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Trong hệ thống pháp luật hiện hành, quyền bề mặt cũng hiện hữu trong các quy định của một số văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận thì pháp luật về quyền bề mặt vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đòi hỏi cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện. Trong bài viết này, tác giả sẽ phân tích nhu cầu áp dụng quyền bề mặt từ thực tiễn cuộc sống, quy định pháp luật hiện hành về quyền bề mặt và một số vấn đề đặt ra, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện chế định về quyền bề mặt.


1. Nhu cầu áp dụng quyền bề mặt từ thực tiễn cuộc sống

Trong cuộc sống ngày nay, quyền bề mặt phát sinh và phát triển trong cuộc sống hiện đại như là hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa và quá trình phân công lại lao động xã hội trong bối cảnh kinh tế thị trường. Sự gia tăng nhanh về dân số tại các đô thị khiến cho việc tiếp cận đất đai, không gian sống ngày càng trở nên khó khăn hơn. Mặt khác, khoa học công nghệ hiện đại được ứng dụng vào hoạt động xây dựng cho phép khai thác khoảng không gian trên mặt đất và lòng đất với độ cao, độ sâu ngày càng tăng để hình thành nhiều công trình xây dựng đồ sộ, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, trong môi trường nước cũng trở nên phổ biến hơn. Trong điều kiện đó, đã hình thành nhu cầu của các chủ thể khác nhau với các khoảng không gian trên mặt đất và trong lòng đất. Việc áp dụng tốt quy định quyền bề mặt bảo đảm cho các chủ thể có thêm sự lựa chọn trong việc khai thác giá trị đất đai, thực hiện quyền sử dụng đất, là cách thức hết sức hiệu quả để khai thác tối đa giá trị của tài sản và giảm thiểu tối đa chi phí đầu tư.

Có thể nêu ví dụ về nhu cầu áp dụng quyền bề mặt[1]: Một doanh nghiệp có nhu cầu có mặt bằng để làm trụ sở, sản xuất, kinh doanh có thể có nhiều lựa chọn: (i) Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất - doanh nghiệp phải đầu tư nguồn vốn rất lớn; (ii) Xin cơ quan có thẩm quyền cấp đất - điều này tùy thuộc vào quỹ đất của các địa phương; (iii) Thương lượng với chủ đất để xác lập quyền bề mặt trên đất thuê; (iv) Thuê đất. Với phương án (iv) thì quan hệ giữa người thuê đất và người có quyền sử dụng đất là quan hệ trái quyền, trong một số trường hợp nhất định, bên cho thuê đất có thể hủy hợp đồng, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Trường hợp này, bên thuê đất phải chấp nhận rủi ro, không mang tính ổn định nên bên thuê không muốn đầu tư nhiều trên đất. Nhưng nếu doanh nghiệp và người có quyền sử dụng đất lựa chọn phương án (iii) để thỏa thuận xác lập quyền bề mặt thì trong thời hạn thỏa thuận, doanh nghiệp được toàn quyền như một chủ sở hữu xây dựng công trình trên đất, canh tác, sử dụng và sở hữu tất cả tài sản tạo ra trên đất, được chuyển nhượng, cho thuê, mua bán, cầm cố như một chủ sở hữu đích thực. Trong trường hợp này, người có quyền sử dụng đất trao toàn bộ quyền bề mặt cho doanh nghiệp và quyền này là vật quyền, được pháp luật bảo vệ, chủ thể có quyền sử dụng đất không được tự ý đơn phương chấm dứt quan hệ quyền trên bề mặt trước thời hạn nếu chủ thể quyền bề mặt không đồng ý. Do đó, chủ thể quyền bề mặt ổn định hơn rất nhiều, họ có thể yên tâm đầu tư trên đất. Với chính sách đó có thể giảm thiểu chi phí rất nhiều cho doanh nghiệp và khuyến khích đầu tư xã hội trên đất của người khác. Như vậy, để bảo đảm đầy đủ quyền của chủ sở hữu đối với các tài sản gắn liền với đất đồng thời tiết kiệm chi phí thì giải pháp thứ nhất là lựa chọn hợp lý.

2. Quy định hiện hành về quyền bề mặt và một số vấn đề đặt ra

Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận chính thức từ Điều 267 đến Điều 273, theo đó, quyền bề mặt được định nghĩa là “quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác”. Chủ thể quyền bề mặt có quyền khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của người khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác nhưng không được trái với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của pháp luật có liên quan. Chủ thể quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập theo quy định pháp luật. Việc xây dựng khung pháp lý chung cho quyền bề mặt tại Bộ luật Dân sự năm 2015 được đánh giá là cơ sở pháp lý để chuẩn hóa ứng xử của các chủ thể có liên quan, thể hiện được bản chất và các đặc tính cơ bản của quyền bề mặt.

Trong hệ thống pháp luật hiện hành, có thể thấy, quyền bề mặt hiện hữu trong một số quy định của Luật Khoáng sản năm 2010, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)… Luật Khoáng sản năm 2010 quy định tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản có quyền tiến hành khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của giấy phép; thăm dò trong khu vực đã được cấp giấy phép khai thác; chuyển nhượng quyền khai thác cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ; khai thác khoáng sản đi kèm với khoáng sản chính với điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ liên quan đến việc khai thác khoáng sản đi kèm đó theo quy định của Chính phủ. Luật Tài nguyên nước năm 2012 quy định cá nhân tổ chức bảo đảm điều kiện nhất định được đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước. Luật Đất đai năm 2013 cũng ghi nhận sự hình thành của quyền bề mặt trong một số trường hợp như: Tổ chức được Nhà nước cho thuê đất, thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm; tổ chức kinh tế thuê đất của Nhà nước để xây dựng công trình ngầm; cá nhân, hộ gia đình thuê đất của Nhà nước (Điều 174, Điều 175, Điều 178, Điều 180), theo đó, trong các trường hợp này, các chủ thể nói trên được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản hình thành trên đất thuê của Nhà nước. Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có quy định mang tính nguyên tắc tại khoản 3 Điều 47 yêu cầu “nội dung giấy phép quy hoạch xây dựng gồm phạm vi, quy mô khu vực lập quy hoạch, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch xây dựng cho phép, các yêu cầu về khai thác sử dụng đất, tổ chức không gian kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên mặt đất, dưới mặt đất, bảo vệ cảnh quan, môi trường đối với khu vực dự án, thời hạn của giấy phép quy hoạch xây dựng”.

Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 51/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 về quản lý khoáng sản tại các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia. Nghị định này đã bước đầu vận dụng quy định về quyền bề mặt của Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó, Điều 8 Nghị định cho phép các tổ chức thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia mà Chính phủ đã phê duyệt theo điều kiện, trình tự pháp luật quy định và quy định “thời hạn hoạt động của dự án đầu tư tại khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia không vượt quá thời gian dự trữ còn lại của khu vực dự trữ có khoáng sản thuộc đối tượng dự trữ đó” (khoản 4 Điều 8). Quy định này mở đường cho việc khai thác “không gian” không thuộc vùng dự trữ khoáng sản quốc gia, cụ thể là các dự án đầu tư không được xâm phạm vào không gian thuộc vùng dự trữ khoáng sản quốc gia, tuy nhiên, với không gian khác thì có thể triển khai các hoạt động khai thác, sử dụng để bảo đảm phát huy tối đa giá trị đất đai[2].

Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận nói trên, qua 05 năm thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 cho thấy, quy định về quyền bề mặt với kỳ vọng tạo lập cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật về đất đai theo không gian ba chiều, làm rõ giá trị pháp lý của khoảng không gian trên và dưới lòng đất, song với các quy định cơ bản nói trên, các quy định về quyền bề mặt cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, bản chất của quyền sử dụng đất và quyền bề mặt còn những điểm chưa được luận giải rõ

Cho đến nay, việc trả lời câu hỏi quyền sử dụng đất có phải là một loại vật quyền hạn chế hay không hoàn toàn không đơn giản bởi quyền sử dụng đất mặc dù có những đặc điểm cơ bản của một vật quyền, nhưng chưa thực sự lô gíc với nguyên lý chung của lý thuyết vật quyền. Bởi về lý thuyết, trên một vật có thể có nhiều vật quyền hạn chế, nhưng từ vật quyền hạn chế này không thể phát sinh vật quyền hạn chế khác. Vậy, nếu luận giải quyền sử dụng đất là vật quyền hạn chế thì quyền bề mặt là một vật quyền hạn chế phát sinh trên quyền sử dụng đất lại không phù hợp với nguyên tắc trên. Do đó, khi chưa làm rõ được bản chất quyền sử dụng đất thì cũng khó có đáp án về bản chất của quyền bề mặt.

Để giải quyết vấn đề này, có ý kiến luận giải rằng, quyền sử dụng đất có thể đồng nhất với quyền bề mặt, bởi khái niệm “quyền bề mặt” là khái niệm có nguồn gốc từ những Nhà nước thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, “quyền bề mặt” là quyền phát sinh từ tài sản là đất đai. Tại Việt Nam, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu; Nhà nước sẽ trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác nhau trong xã hội sử dụng. Do đó, “quyền bề mặt” nếu hiểu theo đúng tinh thần trong pháp luật các nước công nhận chế độ sở hữu tư nhân thì sẽ tương đồng với quyền sử dụng đất trong pháp luật đất đai và dân sự Việt Nam. Ý kiến khác cho rằng, chính khái niệm quyền bề mặt và quyền sử dụng đất tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 2 Điều 175, Điều 267) đã cho thấy, không thể đồng nhất hai quyền này và luận giải theo hướng không nên coi quyền sử dụng đất là một vật quyền hạn chế, mà cần mạnh dạn xác định quyền sử dụng đất là “quyền sở hữu đất đai hạn chế” (Nhà nước chỉ giữ lại quyền thu hồi trong một số ít trường hợp theo nguyên tắc hiến định) thì mới có thể giải quyết được vướng mắc trong lý luận về quyền sử dụng đất với các vật quyền hạn chế liên quan.

Hiện tại, qua nghiên cứu Bộ luật Dân sự Trung Quốc mới ban hành năm 2020[3] cho thấy, Trung Quốc lựa chọn hướng đi khác, theo đó, trong bối cảnh chế độ sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể với đất đai, Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020 đã không có quy định về quyền bề mặt mà quy định ngoài địa dịch (Điều 372 đến Điều 385) còn có một số loại vật quyền liên quan đến đất đai như quyền quản lý đất đai theo hợp đồng (Điều 330 đến Điều 343), quyền sử dụng đất cho mục đích xây dựng (Điều 344 đến Điều 361), quyền sử dụng nhà ở trên lô đất thuộc sở hữu của tập thể (Điều 362 đến Điều 365)...

Thứ hai, qua gần 05 năm thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 cho thấy, các nội dung quyền bề mặt chưa được bổ sung vào các văn bản luật có liên quan[4]

Sau khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành, một số luật liên quan đã được sửa đổi như Luật Doanh nghiệp, Luật Xây dựng. Luật Đất đai năm 2013 cũng đang được xem xét sửa đổi tổng thể. Điều đáng tiếc là nội dung quyền bề mặt không phải là vấn đề mà cơ quan được giao chủ trì soạn thảo thực sự quan tâm để bổ sung vào các đạo luật này. Cho nên, cũng đặt ra những suy nghĩ về sự kết nối giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta.

Thứ ba, pháp luật hiện hành còn có nhiều khoảng trống, chưa giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra[5]

Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định rõ trường hợp đất đã được giao cho chủ thể khác quyền sử dụng thì Nhà nước có thể giao quyền bề mặt cho các chủ thể khác không, ví dụ, Nhà nước có thể phê duyệt dự án xây dựng tàu điện ngầm đi qua những mảnh đất đã giao cho chủ thể khác quyền sử dụng mà không đề cập đến quyền của những người đang sử dụng đất hay không? Pháp luật về xây dựng cũng chưa có quy định điều chỉnh để giải quyết quyền, lợi ích của người sử dụng đất và chủ đầu tư trong các công trình xây dựng giao thông công cộng sử dụng bề mặt ngầm của lòng đất và khoảng không gian trên mặt đất[6]. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, với những công trình xây dựng trong lòng đất có độ sâu trên 30m được coi là không làm ảnh hưởng đến quyền của chủ đất. Ở một góc nhìn khác, pháp luật đất đai cũng chưa ghi nhận cơ chế linh hoạt để trong một số dự án cụ thể như xây dựng cầu, đường trên cao, dưới lòng đất, Nhà nước thay vì thu hồi quyền sử dụng đất[7] chỉ cần thu hồi quyền bề mặt để giảm tối thiểu chi phí bồi thường.

Thứ tư, việc thiếu vắng nhiều quy định pháp lý liên quan đến quyền bề mặt cũng dẫn đến việc cơ quan nhà nước còn lúng túng giải quyết vấn đề phát sinh

Liên quan đến quyền bề mặt, một doanh nghiệp ở tỉnh K đầu tư một dự án và có quyền sử dụng ở hai bên con đường giao thông công cộng (khu đất A và khu đất B); doanh nghiệp này đề xuất phương án tạo cầu nối trên không (kết hợp hồ nước nằm phía trên) liên kết 02 khối nhà ở hai bên con đường giao thông công cộng này (khối nhà A và khối nhà B). Doanh nghiệp đề xuất tự nguyện trả tiền cho khoảng không gian phía trên đường giao thông công cộng để có được quyền sử dụng không gian này. Tuy nhiên, nguyện vọng này của doanh nghiệp hiện chưa được đáp ứng, bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho rằng, chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để đáp ứng đề xuất này của doanh nghiệp, bởi pháp luật về dân sự, pháp luật về đất đai và pháp luật về ngân sách nhà nước hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc cho thuê phần không gian phía trên bề mặt của công trình công cộng. Cụ thể là, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có những quy định mang tính nguyên tắc chung về quyền bề mặt (các điều từ 267 đến 273), nhưng pháp luật về đất đai, xây dựng, quy hoạch, tài nguyên, khoáng sản và quy định khác của pháp luật có liên quan chưa quy định cụ thể những nội dung về quyền bề mặt. Luật Đất đai năm 2013 đã quy định các khoản thu tài chính về đất đai (khoản 1 Điều 107, khoản 2 Điều 157) nhưng chưa có quy định về khoản thu tài chính từ việc chuyển nhượng, cho thuê khoảng không gian (quyền sử dụng không gian) trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác[8]. Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước không có quy định về đối tượng thu tiền thuê là phần không gian phía trên bề mặt của công trình công cộng. Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 không quy định thẩm quyền quyết định khoản thu mới của cơ quan tài chính. Hiện tại, các bộ, ngành có liên quan thống nhất đề xuất Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, đánh giá tác động để đưa quy định về việc chuyển nhượng, cho thuê khoảng không gian (quyền sử dụng không gian) trên mặt đất, mặt nước và lòng đất, mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác vào Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành văn bản hướng dẫn Luật Đất đai (sửa đổi) về cơ chế tài chính với đất đai.

Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, việc xây dựng các công trình ngầm trong thời gian qua ở các đô thị lớn[9] có liên quan đến quyền của chủ thể sử dụng đất. Theo đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư, quy hoạch và triển khai dự án (đi qua lòng đất của nhiều chủ thể có quyền sử dụng đất bên trên) mà không có thông báo, trao đổi, thảo luận nào với các chủ thể sử dụng đất. Dẫn đến một số người dân có khiếu nại về việc làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của họ nhưng đến nay chưa có cơ chế giải quyết thỏa đáng.

3. Giải pháp hoàn thiện chế định về quyền bề mặt

Xu hướng phát triển hiện nay cho thấy, quyền đối với tài sản là vấn đề nền tảng của mọi chế độ kinh tế. Khi quyền đối với tài sản được bảo hộ hợp lý, tối đa với chi phí giao dịch giảm thiểu ở mức thấp nhất có thể, các nguồn lực xã hội sẽ được đầu tư hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp.

Đối với thể chế về sở hữu và quyền tài sản, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “Bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh, thực thi hợp đồng của người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật”[10]; “Cải cách thể chế về quyền tài sản, tập trung vào các khâu đăng ký sở hữu và sử dụng tài sản, xử lý tài sản thế chấp ngân hàng, thủ tục phá sản”[11]; “Hoàn thiện pháp luật để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo đảm công khai, minh bạch và khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí. Đổi mới các chính sách quản lý đất để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp, phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất. Đổi mới và thực hiện chế độ quản lý mục đích sử dụng đất nông nghiệp một cách linh hoạt hơn; bãi bỏ các giới hạn về đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng đất công; tăng cường giám sát, quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất giao cho các cộng đồng và doanh nghiệp nhà nước”[12]. Do đó, vấn đề quan trọng của Việt Nam hiện nay là hoàn thiện thể chế nhằm huy động, phân bổ, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, tài sản của người dân, doanh nghiệp cũng như của quốc gia cho phát triển. Trong quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2015, các chuyên gia Nhật Bản cho biết, thành công của nền kinh tế Nhật Bản là nhờ chế định vật quyền. Chế định này đã giúp ghi nhận và vận hành rất tốt quyền của người không phải là chủ tài sản, các quy định của Bộ luật Dân sự đều được hóa thân chi tiết vào pháp luật chuyên ngành, đi vào đời sống, trở nên thân thuộc và không có gì xa lạ. Đơn cử, các công trình xây dựng trong lòng đất, giao thông trên không và lòng đất - đều có bóng dáng và sự vận dụng nhuần nhuyễn quy định quyền bề mặt.

Những phân tích ở trên cho thấy, pháp luật về quyền bề mặt còn tồn tại bất cập, một số vấn đề mang tính lý thuyết cơ bản cần tiếp tục được làm rõ, quyền bề mặt chưa được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, pháp luật về đăng ký tài sản còn khiếm khuyết, một số quy định còn mang tính chất khung, chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Để khắc phục, tác giả cho rằng, cần phải thống nhất nhận thức rằng, chế định quyền khác đối với tài sản (vật quyền hạn chế) được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là một chế định có nhiều quy định mới được bổ sung hoặc sửa đổi, trong khi đó, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan lại chưa phù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015. Để bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan, chúng ta cần tiến hành rà soát Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Khoáng sản năm 2010, Luật Tài nguyên nước năm 2012, Luật Thủy sản năm 2017, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015… và tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Cùng với đó, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện thể chế đăng ký bất động sản, trong đó, xây dựng quy trình, thủ tục, hồ sơ của việc đăng ký quyền bề mặt phục vụ các nhu cầu phong phú của các chủ thể...

ThS. Lê Thị Hoàng Thanh
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp



[1]. Xem: TS. Đinh Trung Tụng (Chủ biên), Sách chuyên khảo “Giới thiệu nội dung cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Nxb. Lao động, 2017.

[2]. Theo Quyết định 654/QĐ-TTg ngày 06/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt dự trữ khoáng sản quốc gia, có 48 khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia cho 10 loại khoáng sản được khoanh định (gồm các khoáng sản như titan, cát trắng, sắt, than nâu...). Tuy nhiên, trước đây, do chưa có quy định pháp lý rõ ràng nên chưa đủ cơ sở để triển khai các dự án trên bề mặt; chưa có quy định về thời gian dự trữ khoáng sản nhằm phù hợp với thực tế sử dụng đất, bảo đảm vòng đời của các dự án bề mặt; chưa quy định điều kiện để xem xét những loại dự án nào được triển khai trên mặt khu dự trữ khoáng sản. Đây chính là “điểm nghẽn” khiến cho hàng loạt dự án tại các khu vực dự trữ khoáng sản bị bế tắc nhiều năm qua, không thực hiện được.

[3]. Ngày 28/5/2020, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thông qua Bộ luật Dân sự đầu tiên của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bộ luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2021; Bộ luật Dân sự Trung Quốc có 07 quyển, 1260 điều.

[4]. Xem: Đề tài khoa học cấp Bộ (của Bộ Tư pháp) về “Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân”, TS. Nguyễn Thanh Tú, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (chủ nhiệm), thực hiện 2019 - 2020.

[5]. Xem: Đề tài khoa học cấp Bộ (của Bộ Tư pháp) về “Hoàn thiện thể chế nhằm thực hiện đầy đủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân”, TS. Nguyễn Thanh Tú, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế (chủ nhiệm), thực hiện 2019 - 2020.

[6]. TS. Bùi Đăng Hiếu, “Chế định quyền bề mặt - vấn đề đặt ra đối với việc triển khai thi hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan” - bài viết tại Hội thảo về các quyền khác đối với tài sản do Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội, 2017.

[7]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015, “người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác”.

[8]. Luật Đất đai năm 2013 hiện hành mới chỉ có quy định về nguyên tắc: “Việc sử dụng đất xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn theo phải bảo đảm kết hợp khai thác cả phần trên không và trong lòng đất, bố trí kết hợp các loại công trình trên cùng một khu đất nhằm tiết kiệm đất và phải tuân theo các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan về bảo vệ an toàn công trình”.

[9]. Chẳng hạn, đường ngầm đi bộ đường Phạm Hùng - Ngã Tư Sở tại TP. Hà Nội, tuyến đường sắt Metro Bến Thành - Suối Tiên tại TP. Hồ Chí Minh.

[10]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 223.

[11]. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 230, 238.

[12]. Chiến lược cũng chủ trương “Phát triển thị trường, đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất, tăng cường đăng ký quyền sử dụng đất và áp dụng định giá đất theo thị trường bảo đảm công khai, minh bạch”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: