Thứ ba 28/07/2026 22:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện khung pháp luật về tiền ảo tại Việt Nam

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, tiền ảo đã được chấp nhận như một phương tiện để thanh toán và được thừa nhận là một sản phẩm dịch vụ, hàng hóa đặc biệt. Còn ở Việt Nam, tiền ảo có được xác định là tài sản hợp pháp, được quy định là một phương tiện thanh toán hay không? Trong bài viết, tác giả phân tích thực trạng pháp luật về vấn đề này, qua đó đưa ra một số gợi mở góp phần hoàn thiện pháp luật về tiền ảo tại Việt Nam trong thời gian tới.


Theo định nghĩa của Cơ quan Giám sát Ngân hàng châu Âu (EBA), tiền ảo (virtual currency) không phải một đơn vị tiền kỹ thuật số (digital money) do ngân hàng trung ương hoặc cơ quan công quyền phát hành, cũng không nhất thiết phải gắn liền với tiền pháp định[1]. Theo nhóm nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tiền ảo là đại diện số có giá trị do các nhà phát triển tư nhân phát hành và có đơn vị tính toán của riêng mình. Tiền ảo có thể chứa đựng, lưu trữ, truy cập và giao dịch điện tử, có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, miễn là các bên giao dịch đồng ý sử dụng chúng. Tiền ảo là một khái niệm rộng về các loại tiền tệ, từ chứng từ nợ của các nhà phát hành, đến các loại tiền ảo được bảo đảm bằng tài sản hay vàng, và các loại tiền mã hóa (crypto-currencies) như là Bitcoin[2]. Tiền ảo được nhóm, cộng đồng cụ thể chấp nhận làm phương tiện thanh toán và có thể chuyển nhượng, lưu trữ hoặc giao dịch điện tử.

1. Thực trạng pháp luật về tiền ảo

Về phương diện là phương tiện thanh toán, khoản 1 và khoản 2 Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 quy định: Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, tiền kim loại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Khoản 6 và khoản 7 Điều 4 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, được sửa đổi, bổ sung năm 2016 (hiện nay đang được nghiên cứu thay thế) quy định: Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: Séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không thuộc quy định tại khoản 6 Điều này. Đồng thời, khoản 6 Điều 6 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP quy định về các hành vi bị cấm bao gồm: Phát hành, cung ứng và sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp.

Tại điểm h khoản 1 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, trong đó bao gồm hành vi phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp, làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả. Bên cạnh đó, nhận thức được những rủi ro, hệ lụy của Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác, tháng 02/2014, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những cảnh báo về những rủi ro, nguy cơ đối với các hoạt động, giao dịch liên quan tới Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác, trong đó khẳng định quan điểm không công nhận Bitcoin và các loại tiền ảo khác là tiền hợp pháp và phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam[3]. Đồng thời, ngày 13/4/2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN về các biện pháp tăng cường kiểm soát các giao dịch, hoạt động liên quan đến tiền ảo, trong đó chỉ đạo cụ thể các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán không được thực hiện các giao dịch trung gian thanh toán, giao dịch thẻ, cấp tín dụng qua thẻ, hỗ trợ xử lý, thanh toán, chuyển tiền, bù trừ và quyết toán, chuyển đổi tiền tệ, thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển tiền qua biên giới liên quan tới giao dịch tiền ảo cho khách hàng do có thể phát sinh những rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố, gian lận, trốn thuế.

Từ các quy định nêu trên, việc sử dụng tiền ảo làm phương tiện thanh toán tại Việt Nam là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

Về phương diện là một loại tài sản, qua rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019), Luật Chứng khoán năm 2019, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014 và 2016), Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014 và 2020), Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, 2016), Luật Phá sản năm 2014... thì chưa có quy định phân loại và định danh một cách dứt khoát, rõ ràng các loại tài sản mã hóa, trong đó có tiền ảo thuộc loại hình nào trong các khái niệm pháp lý như: Chứng khoán (khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019), hàng hóa (khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005), tài sản (khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015). Trong khi đó, cũng có quan điểm cho rằng, điểm mấu chốt mà thực tiễn đang đặt ra là các loại tài sản mã hóa đang tồn tại và lưu hành như Bitcoin và ETH cùng một số loại tài sản mã hóa khác có đích thực được xem là tài sản theo nghĩa pháp lý được quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 hay không? Điều này sẽ làm cho việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành để điều chỉnh việc bảo hộ các quyền hoặc lợi ích của cá nhân trong việc nắm giữ, chuyển nhượng, để thừa kế, bị đánh cắp hoặc bị tước đoạt đối với các loại tài sản mã hóa - sản phẩm ứng dụng công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trở nên không chắc chắn. Bên cạnh đó, việc thực hiện nghĩa vụ thuế phát sinh từ các giao dịch liên quan tới chuyển nhượng tài sản mã hóa cũng chưa được Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014 và 2020), Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung các năm 2012, 2014, 2016) đặt ra.

Thực tiễn này, dẫn đến vẫn còn sự nhầm lẫn giữa khái niệm tiền điện tử và khái niệm tiền ảo, gây nên nhiều khó khăn trong công tác quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, cần có những quy định pháp luật để phân định rõ tiền điện tử với các hình thức khác vốn không được coi là phương tiện thanh toán hợp pháp.

2. Một số khó khăn, thách thức và gợi mở

2.1. Khó khăn, thách thức

Hiện nay, do còn thiếu nhiều quy định pháp luật về tài sản mã hóa, một số quy định chưa rõ ràng, nhận thức còn khác nhau nên đã phát sinh những vấn đề như: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có cơ sở để đề xuất biện pháp phòng, chống, xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến tài sản mã hóa. Bên cạnh đó, những vấn đề mới được đặt ra như công nghệ tài chính (Fintech), Dự án đồng Libra (Diem) của Facebook, sự phát triển của các đồng tiền kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương phát hành (CBDC) là thách thức không nhỏ trong việc quản lý của các cơ quan chức năng Việt Nam. Ngoài ra, công tác nghiên cứu nhằm đề xuất khuôn khổ pháp lý đối với các hoạt động liên quan đến tiền ảo đối mặt với một số khó khăn, thách thức như:

Một là, sự phức tạp về tiền ảo cũng như công nghệ nền tảng của tài sản mã hóa: Việc xây dựng khung pháp lý quản lý các hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa đòi hỏi cơ quan xây dựng chính sách phải có hiểu biết sâu sắc về bản chất của tài sản mã hóa, cách thức hoạt động cũng như các lợi ích và rủi ro tiềm năng của chúng. Đây là một thách thức do tài sản mã hóa là sản phẩm mới, đòi hỏi sự hiểu biết nhất định về lĩnh vực công nghệ. Ngay bản thân việc định nghĩa thế nào là tài sản mã hóa, cả về thuật ngữ và nội hàm cũng chưa có sự thống nhất. Chính vì vậy, để hiểu được bản chất cũng như cách thức vận hành, giao dịch của tài sản mã hóa cần sự hiểu biết về công nghệ nền tảng, qua đó mới có thể xây dựng cơ chế quản lý, giám sát phù hợp.

Hai là, vấn đề nhân lực trong công tác nghiên cứu, trong thời gian vừa qua, Bộ Tài chính đang tập trung xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán năm 2019. Tuy công tác nghiên cứu, đánh giá về các hình thức, sản phẩm đầu tư mới và các xu thế phát triển trên thị trường chứng khoán và tài chính, trong đó có tài sản mã hóa cũng được quan tâm triển khai, song với khối lượng lớn công việc cần triển khai trong thời gian vừa qua cũng đặt ra bài toán khó về phân bổ nguồn lực triển khai công tác nghiên cứu, đặc biệt là đối với một số vấn đề phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu như tài sản mã hóa.

Ba là, phạm vi ảnh hưởng rộng lớn của tài sản mã hóa, tài sản mã hóa thực chất là một loại tài sản kỹ thuật số không được phát hành hoặc bảo đảm bởi Ngân hàng Trung ương hoặc cơ quan quản lý nhà nước nào khác, và/có thể được sử dụng như một phương tiện thanh toán và/hoặc vì mục đích đầu tư và/hoặc dùng để tiếp cận một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó[4]. Như vậy, xuất phát từ Bitcoin và các đồng tiền tương tự có mục đích sử dụng như một phương tiện thanh toán, tài sản mã hóa giờ đây có thể được phát hành dưới dạng chứng khoán với mục đích huy động vốn hoặc dưới dạng xu tiện ích với mục đích đem lại cho người sở hữu khả năng tiếp cận và sử dụng một dịch vụ nhất định, hoặc thậm chí là một dạng kết hợp của các nhóm trên. Do vậy, tài sản mã hóa không chỉ tác động, ảnh hưởng đến một lĩnh vực của nền kinh tế mà còn đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp của nhiều bộ, ngành và các cơ quan liên quan.

2.2. Gợi mở cho Việt Nam

Trên cơ sở những khó khăn, vướng mắc được đánh giá nêu trên, tác giả đưa ra một số gợi mở để hoàn thiện pháp luật về tiền ảo tại Việt Nam như sau:

Thứ nhất, về hoàn thiện hệ thống pháp luật, tác giả cho rằng, cần nghiên cứu, xây dựng nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội về giải thích pháp luật để thống nhất xác định một số sản phẩm ứng dụng công nghệ kể trên (tài sản mã hóa hoặc tiền mã hóa) thuộc phạm trù tài sản theo nghĩa pháp lý mà Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 105) đã quy định. Do tính chất đặc biệt của loại tài sản này cùng những rủi ro có thể đi kèm khi cho phép lưu hành rộng rãi, Nhà nước nên nghiên cứu ban hành văn bản quy phạm pháp luật để kiểm soát chặt chẽ việc phát hành hoặc giao dịch loại tài sản này (bằng cách đặt ra các điều kiện để một người hoặc một tổ chức có thể tham gia thị trường giao dịch tiền mã hóa, những cá nhân, tổ chức không được phép tham gia, việc tổ chức các sàn giao dịch và các biện pháp chế tài xử lý chủ thể có hành vi vi phạm). Ngoài ra, cần nghiên cứu, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét ban hành một số văn bản như: (i) Văn bản về huy động vốn qua phát hành tài sản mã hóa (ICO/ITO hay STO) và quản lý sàn giao dịch tài sản mã hóa là chứng khoán[5] theo chuẩn mực, thông lệ quốc tế và yêu cầu của thực tiễn, trong đó cần tập trung nghiên cứu các quy định về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, cấp phép, giám sát, thanh tra đối với các nhà cung ứng dịch vụ tài sản ảo, tiền ảo (tài sản mã hóa, tiền mã hóa); các chế tài xử phạt đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản ảo, tiền ảo (tài sản mã hóa, tiền mã hóa) không được cấp phép hoặc không đăng ký, không tuân thủ các biện pháp phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố… trình Chính phủ trong năm 2021; triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn giao dịch của các sàn giao dịch tài sản mã hóa, tiền mã hóa; (ii) Xây dựng Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi), trong đó tập trung sửa đổi các quy định liên quan đến giao dịch điện tử trong Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số.

Thứ hai, về tổ chức thi hành các quy định của pháp luật, trong đó, đặc biệt tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ chính như: (i) Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, về tài sản mã hóa, các phương thức thủ đoạn hoạt động phạm tội liên quan đến tài sản mã hóa, tiền mã hóa để có biện pháp phòng tránh; đồng thời, tăng cường cảnh báo về những rủi ro, nguy cơ và hệ lụy của việc tham gia mua bán, giao dịch, đầu tư, kinh doanh tài sản mã hóa bất hợp pháp và sử dụng tài sản mã hóa cho hoạt động tội phạm (rửa tiền, tài trợ khủng bố, chuyển tiền bất hợp pháp, trốn thuế, lừa đảo…); (ii) Đẩy mạnh triển khai Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó, tăng cường hỗ trợ việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ blockchain để tạo ra các sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh; (iii) Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tích cực, thường xuyên phối hợp chặt chẽ công tác nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý và quản lý, giám sát các hoạt động liên quan đến tài sản mã hóa, tiền mã hóa; đồng thời, chủ động nghiên cứu, đánh giá các tiềm năng của công nghệ blockchain để triển khai các ứng dụng cụ thể phục vụ công tác quản lý nhà nước của mình.

Thứ ba, nghiên cứu, theo dõi diễn biến việc ứng dụng công nghệ blockchain của ngân hàng trung ương các nước, nhất là việc phát hành tiền kỹ thuật số của một số ngân hàng trung ương và sự phát triển của các đồng tiền ổn định (stablecoin - như dự án đồng Libra (Diem) của Facebook) để đề xuất giải pháp phù hợp. Đặc biệt, huy động và khuyến khích các tổ chức nghiên cứu (trường đại học, các viện nghiên cứu) cùng tổ chức đào tạo và nghiên cứu các vấn đề liên quan công nghệ blockchain.

Trần Thị Thu Hằng
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp


[3]. Thể hiện tại Thông cáo báo chí ngày 27/02/2014, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã yêu cầu các tổ chức tín dụng không được phép sử dụng Bitcoin (và các loại tiền ảo tương tự khác) như một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng; đồng thời, cảnh báo, khuyến cáo các tổ chức, cá nhân cần thận trọng và không nên đầu tư, nắm giữ, tham gia thực hiện các giao dịch liên quan đến Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác.

[4]. Báo cáo số 255/BC-BTP ngày 29/10/2018 của Bộ Tư pháp về việc rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật, thực tiễn về tài sản ảo, tiền ảo ở Việt Nam và quốc tế; nhận diện, đề xuất các định hướng hoàn thiện, tr. 114.

[5]. Nhiệm vụ này được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1255/QĐ-TTg ngày 21/8/2017 phê duyệt Đề án Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo (Mục II.3 của Điều 1) và Văn bản số 11633/VPCP-KTTH ngày 29/11/2018 (Mục 1.a), Văn bản số 9721/VPCP-KTTH ngày 25/10/2019 của Văn phòng Chính phủ về việc lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về tài sản ảo, tiền ảo; Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/02/2019 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025” (Mục 1.i Điều 1 Quyết định; Mục B.I.1, B.I.3.a, B.I.5.a Đề án). Các chính sách cơ bản của 02 vấn đề này đã được phân tích chi tiết tại điểm 2.2 và 2.3 Mục II.2 Phần 4 Báo cáo số 255/BC-BTP ngày 29/10/2018 của Bộ Tư pháp.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: