Thứ sáu 23/10/2026 14:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện phần mềm Hệ thống đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản

Ngày 30/11/2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2023 (Nghị định số 99/2022/NĐ-CP). Các quy định về đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm được hoàn thiện trong Nghị định số 99/2022/NĐ-CP đã góp phần tích cực vào thực hiện chủ trương chung của Chính phủ về đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm. Trên cơ sở đó, một số quy định mới của Nghị định đã tác động đến việc sử dụng phần mềm đăng ký trực tuyến hiện nay trong hoạt động đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản (không phải là tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung) tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Trung tâm Đăng ký). Do đó, từ thực tiễn thi hành Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, việc rà soát các quy định về đă

1. Tài khoản đăng ký trực tuyến và mã số sử dụng cơ sở dữ liệu

Trước đây, theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (Nghị định số 102/2017/NĐ-CP), mã số sử dụng cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm là ký hiệu dãy số và tài khoản đăng ký trực tuyến (gồm tên đăng nhập và mật khẩu) cấp cho cá nhân, pháp nhân để đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm. Trên cơ sở quy định này, tài khoản đăng ký trực tuyến và mã số sử dụng cơ sở dữ liệu được Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm cấp cho người yêu cầu chung trong một tài khoản. Theo đó, với tài khoản được cấp này, khách hàng vừa sử dụng để thực hiện chức năng đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin, vừa sử dụng để thực hiện chức năng tra cứu, tìm kiếm thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản trong cơ sở dữ liệu của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm. Trên cơ sở quy định này, phần mềm được thiết kế cho phép tất cả người dùng đã đăng nhập hoặc chưa đăng nhập đều có thể tự tra cứu, tìm kiếm thông tin miễn phí trong cơ sở dữ liệu.

Hiện nay, khoản 1 Điều 23 và điểm b khoản 2 Điều 50 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP đã quy định tách bạch về chức năng, cơ chế quản lý, sử dụng đối với tài khoản đăng ký trực tuyến và mã số sử dụng cơ sở dữ liệu trong đăng ký và cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản (trừ tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung), cụ thể như sau:

Thứ nhất, về tài khoản đăng ký trực tuyến.

Theo quy định tại Điều 23, Điều 24 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, tài khoản đăng ký trực tuyến được quy định như sau: Tài khoản đăng ký trực tuyến được cơ quan có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân để thực hiện đăng ký trực tuyến; mỗi tài khoản chỉ cấp cho một tổ chức, cá nhân (khoản 1 Điều 23). Tài khoản đăng ký trực tuyến được cấp theo 02 loại: Tài khoản sử dụng thường xuyên, khách hàng có thể thanh toán phí đăng ký, phí cung cấp thông tin trả trước hoặc trả sau (thanh toán theo thông báo phí hàng tháng) và tài khoản sử dụng một lần, khi khách hàng truy cập hệ thống để đăng ký thì phải thanh toán phí trước khi thực hiện đăng ký. Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp có thẩm quyền cấp tài khoản đăng ký trực tuyến đối với trường hợp đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung. Việc cấp tài khoản đăng ký trực tuyến không phải nộp phí cấp tài khoản.

Thứ hai, về mã số sử dụng cơ sở dữ liệu.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 9, điểm b khoản 2 Điều 50 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, mã số sử dụng cơ sở dữ liệu được quy định như sau: Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp có thẩm quyền cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu (về biện pháp bảo đảm bằng động sản, cây hàng năm, công trình tạm) cho tổ chức, cá nhân. Theo đó, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu qua giao diện đăng ký trực tuyến hoặc gửi yêu cầu bằng văn bản đến cơ quan này (điểm b khoản 2 Điều 50). Mã số sử dụng cơ sở dữ liệu có thể là mã số sử dụng thường xuyên hoặc mã số sử dụng một lần trong tra cứu thông tin (điểm b khoản 2 Điều 50). Tổ chức, cá nhân được cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu quy định tại điểm b khoản 2 Điều 50 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP có quyền sử dụng mã số sử dụng cơ sở dữ liệu được cấp để tự tra cứu thông tin về biện pháp bảo đảm bằng động sản (không phải là tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung) trong cơ sở dữ liệu; có nghĩa vụ nộp phí cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí.

Như vậy, trên cơ sở các quy định nêu trên của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP cho thấy, để việc cấp và sử dụng tài khoản đăng ký trực tuyến, mã số sử dụng cơ sở dữ liệu phù hợp với quy định thì cần nghiên cứu một số yêu cầu kỹ thuật sau đây để sửa phần mềm đăng ký trực tuyến:

Một là, đối với tài khoản đăng ký trực tuyến, nghiên cứu thay đổi chức năng của phần mềm tạo tài khoản để có thể tạo hai loại tài khoản: (i) Tài khoản sử dụng thường xuyên (như tài khoản hiện tại, sử dụng loại tài khoản này có thể trả phí đăng ký trước hoặc trả phí sau); (ii) Tài khoản sử dụng một lần (không có chức năng tra cứu thông tin, sử dụng loại tài khoản này phải trả phí đăng ký trước). Việc tạo tài khoản đăng ký trực tuyến đáp ứng các yêu cầu sau: Chỉ thực hiện được chức năng đăng ký, yêu cầu cung cấp thông tin có tính phí; không có chức năng tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu; không thu phí duy trì tài khoản đăng ký trực tuyến hàng năm.

Ngoài ra, phần mềm cũng cần được nghiên cứu để xử lý đối với các tài khoản cũ đã được cấp (tài khoản đăng ký thường xuyên đồng thời là mã số sử dụng cơ sở dữ liệu, vừa có chức năng đăng ký vừa có chức năng tra cứu thông tin) theo hướng: Tiếp tục duy trì loại tài khoản này cho khách hàng đã được cấp trước đây, không bắt buộc phải cấp lại tài khoản, tuy nhiên, cần cho phép lựa chọn thêm yêu cầu cấp mã số sử dụng cơ sở dữ liệu (để thực hiện chức năng tra cứu thông tin).

Hai là, đối với mã số sử dụng cơ sở dữ liệu, nghiên cứu thay đổi chức năng của phần mềm tạo mã số sử dụng cơ sở dữ liệu để có thể tạo hai loại mã số: (i) Mã số sử dụng thường xuyên (giống tài khoản sử dụng thường xuyên, phải nộp thu phí duy trì mã số hàng năm theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí); (ii) Mã số sử dụng một lần (mã số được sinh ra khi nộp tiền vào tài khoản cho một lần truy cập hệ thống để tra cứu). Việc tạo mã số sử dụng cơ sở dữ liệu đáp ứng các yêu cầu là: Chỉ có chức năng tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu, không thực hiện được chức năng đăng ký và yêu cầu cung cấp thông tin có tính phí.

2. Chức năng đăng ký trên phần mềm đăng ký trực tuyến

So với Nghị định số 102/2017/NĐ-CP, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP có một số quy định mới về đăng ký biện pháp bảo đảm, đặc biệt trong lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản (không phải là tàu bay, tàu biển, chứng khoán đã đăng ký tập trung) thuộc thẩm quyền của các Trung tâm Đăng ký. Do đó, để bảo đảm việc đăng ký tại các Trung tâm Đăng ký phù hợp với quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, cần nghiên cứu một số yêu cầu kỹ thuật sau đây để sửa phần mềm đăng ký trực tuyến:

2.1. Về chức năng đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm

Trước đây, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP không quy định đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm trong điều về trường hợp đăng ký. Tuy nhiên, các thông tư hướng dẫn Nghị định số 102/2017/NĐ-CP đều tiếp cận theo hướng đây là một loại việc đăng ký trong đăng ký biện pháp bảo đảm thuộc trường hợp đăng ký của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, các thông tư này (Thông tư số 07/2019/TT-BTP ngày 25/11/2019 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; Thông tư số 01/2019/TT-BTP ngày 17/01/2019 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu bay, tàu biển; Thông tư số 08/2018/TT-BTP ngày 20/6/2018 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm, hợp đồng và trao đổi thông tin về đăng ký biện pháp bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp) đều quy định một trong các trường hợp đăng ký biện pháp bảo đảm là đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm đối với biện pháp bảo đảm đã đăng ký. Trên cơ sở quy định này, đối với lĩnh vực đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản tại các Trung tâm Đăng ký, phần mềm thiết kế chức năng đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm là một loại đăng ký biến động trong đăng ký biện pháp bảo đảm và là loại việc phát sinh sau khi biện pháp đã được đăng ký mà không có đăng ký thay đổi hay xóa đăng ký đối với loại việc này. Hiệu lực của đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo hiệu lực của đăng ký biện pháp bảo đảm.

Theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 4 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP thì đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm là một trong các trường hợp đăng ký không phân biệt biện pháp bảo đảm đã đăng ký hay chưa. Ngoài ra, Nghị định cũng quy định về đăng ký thay đổi, xóa đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm. Theo đó, mẫu phiếu số 04d ban hành kèm theo Nghị định sử dụng cho loại đăng ký này yêu cầu kê khai thông tin về bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, hợp đồng bảo đảm, tài sản bảo đảm bị xử lý khi đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm.

Do đó, để việc đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, phần mềm đăng ký trực tuyến cần được nghiên cứu sửa đổi để đăng ký đối với hai trường hợp: (i) Đối với biện pháp bảo đảm đã đăng ký, cần chỉnh sửa, bổ sung chức năng thông báo xử lý tài sản bảo đảm đã có theo hướng cho phép lựa chọn đăng ký thông báo lần đầu, đăng ký thay đổi, xóa đăng ký; (ii) Đối với biện pháp bảo đảm chưa đăng ký, cần chỉnh sửa để bổ sung chức năng đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm độc lập với đăng ký biện pháp bảo đảm, bổ sung chức năng đăng ký thay đổi, xóa đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm.

2.2. Về người yêu cầu đăng ký

Trước đây, theo Nghị định số 102/2017/NĐ-CP (khoản 1 Điều 8), người yêu cầu đăng ký được quy định chung cho các trường hợp đăng ký gồm: Bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm; bên bán tài sản, bên mua tài sản trong trường hợp chuyển nhượng, mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu; quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cho người khác vay tài sản nhưng không thực hiện việc đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc người đại diện hợp pháp của các chủ thể này. Trên cơ sở quy định này, phần mềm thiết kế các biểu mẫu điện tử tương tác (giao diện màn hình đăng ký) cũng chỉ bao gồm thông tin kê khai về các chủ thể này áp dụng chung cho các loại việc đăng ký (lần đầu, thay đổi, xóa).

Để thuận lợi trong việc xác định chủ thể trong từng trường hợp nộp hồ sơ đăng ký, đáp ứng yêu cầu của các chủ thể liên quan đến đăng ký biện pháp bảo đảm phát sinh trong thực tiễn mà Nghị định số 102/2017/NĐ-CP chưa bao quát hết, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP được ban hành đã hoàn thiện hơn quy định về nội dung này theo hướng: Quy định rõ ràng, cụ thể hơn diện người yêu cầu đăng ký, tách bạch người yêu cầu đăng ký trong từng trường hợp đăng ký cụ thể như đăng ký biện pháp bảo đảm (đăng ký lần đầu), đăng ký thay đổi, xóa đăng ký, đăng ký thông báo xử lý tài sản bảo đảm…, đồng thời, mở rộng hơn diện chủ thể có quyền yêu cầu đăng ký thay đổi, yêu cầu xóa đăng ký để bảo đảm có đầy đủ cơ sở pháp lý giải quyết các trường hợp phát sinh trong thực tiễn như người nhận chuyển giao hợp pháp tài sản bảo đảm, cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền theo quy định của luật mà không phải là cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên…

Do đó, trong trường hợp có yêu cầu đăng ký trực tuyến, để việc kê khai thông tin người yêu cầu đăng ký phù hợp với quy định nêu trên của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP trong từng trường hợp cụ thể, phần mềm đăng ký trực tuyến cần được nghiên cứu chỉnh sửa lại theo hướng: Bổ sung vào tất cả các biểu mẫu điện tử tương tác (giao diện màn hình đăng ký) của các loại yêu cầu đăng ký (gồm đăng ký lần đầu, đăng ký thay đổi, xóa đăng ký), thông báo xử lý tài sản bảo đảm về các chủ thể yêu cầu đăng ký gồm:

(i) Đối với đăng ký lần đầu: Bổ sung lựa chọn người yêu cầu đăng ký là bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, chi nhánh của pháp nhân, người đại diện, đăng ký thông qua tài khoản của người đại diện. Trường hợp lựa chọn người yêu cầu đăng ký là quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoặc lựa chọn chi nhánh của pháp nhân, người đại diện thì hiển thị chức năng upload file pdf đính kèm để đính kèm tài liệu chứng minh. Trường hợp lựa chọn người yêu cầu đăng ký là “đăng ký thông qua tài khoản của người đại diện” thì hiển thị trường nhập thông tin mã số tài khoản của người được đại diện. Thông tin hồ sơ, kết quả đăng ký được cập nhật vào tài khoản của người được đại diện, còn phí đăng ký được cập nhật vào tài khoản của người đại diện;

(ii) Đối với đăng ký thay đổi hoặc xóa đăng ký: Ngoài việc bổ sung các lựa chọn người yêu cầu đăng ký như đăng ký lần đầu ở trên, bổ sung thêm 02 lựa chọn là bên bảo đảm mới/bên nhận bảo đảm mới/chủ thể khác và cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền. Trường hợp lựa chọn người yêu cầu đăng ký là “bên bảo đảm mới/bên nhận bảo đảm mới/chủ thể khác” thì hiển thị chức năng upload file pdf đính kèm để đính kèm tài liệu chứng minh.

2.3. Từ chối đăng ký và hủy đăng ký

Trước đây, việc hủy đăng ký được quy định tại Nghị định số 102/2017/NĐ-CP, tuy nhiên, vấn đề này gần như chỉ mang tính chất thao tác kỹ thuật, áp dụng đối với cơ quan đăng ký trên hệ thống đăng ký trực tuyến khi có căn cứ từ chối đăng ký biện pháp bảo đảm. Theo đó, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP chưa quy định làm rõ các vấn đề pháp lý của hủy đăng ký như căn cứ hủy đăng ký, hậu quả của việc hủy đăng ký, thủ tục cơ quan đăng ký thực hiện việc hủy đăng ký. Đối với từ chối đăng ký, khi có căn cứ từ chối theo quy định của pháp luật, cơ quan đăng ký từ chối bằng văn bản gửi cho người yêu cầu đăng ký. Trên cơ sở quy định của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP nêu trên, phần mềm được thiết kế theo hướng chức năng hủy đăng ký chỉ áp dụng cho cơ quan đăng ký đối với yêu cầu đăng ký trực tuyến khi có căn cứ từ chối, không có chức năng từ chối đăng ký trên hệ thống đăng ký trực tuyến.

Tuy nhiên, để thống nhất hơn với quy định của pháp luật dân sự về hiệu lực của giao dịch dân sự, hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm, quy định liên quan của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, pháp luật khác liên quan về thẩm quyền đăng ký, về thủ tục đăng ký và để minh bạch về căn cứ pháp lý, về hiệu lực của đăng ký, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP đã bổ sung quy định về hủy đăng ký (điểm e khoản 1 Điều 6 và Điều 21), theo đó, cơ quan đăng ký hủy đăng ký khi có các căn cứ: (i) Biện pháp bảo đảm đã được đăng ký mà cơ quan đăng ký nhận được bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có quyết định về việc đăng ký phải bị hủy toàn bộ hoặc một phần; (ii) Biện pháp bảo đảm đã được đăng ký mà cơ quan đăng ký phát hiện thuộc trường hợp từ chối đăng ký quy định tại điểm a hoặc điểm h khoản 1 Điều 15 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP; (iii) Xử lý đăng ký trùng lặp. Đồng thời, khi có căn cứ từ chối đăng ký, cơ quan đăng ký thực hiện việc từ chối đăng ký đối với trường hợp đăng ký qua phương thức nộp bản giấy trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện, gửi qua thư điện tử và cả đối với trường hợp đăng ký trên hệ thống đăng ký trực tuyến.

Do đó, để đáp ứng yêu cầu đăng ký trực tuyến phù hợp với quy định nêu trên, phần mềm đăng ký hiện nay cần được nghiên cứu chỉnh sửa theo hướng: Bổ sung chức năng “từ chối đăng ký” và bổ sung trường thông tin thể hiện căn cứ từ chối; sửa lại chức năng “hủy đăng ký” và bổ sung trường thông tin thể hiện căn cứ hủy để cơ quan đăng ký lựa chọn trong từng trường hợp cụ thể; bổ sung chức năng đính kèm file để chứng minh căn cứ hủy hoặc căn cứ từ chối.

2.4. Về chuyển tiếp đăng ký trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 6 và khoản 4 Điều 47 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký ban đầu không chấm dứt trong trường hợp biện pháp bảo đảm bằng chứng khoán đăng ký tập trung đã được đăng ký tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, sau đó tài sản này trở thành chứng khoán không đăng ký tập trung theo quy định của pháp luật về chứng khoán, tiếp tục được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho cùng bên hoặc các bên cùng nhận bảo đảm và được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký.

Để bảo lưu thời điểm đăng ký theo quy định nêu trên của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, trước ngày 01/01/2024, người yêu cầu đăng ký nộp hồ sơ đăng ký bằng bản giấy theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP tại Trung tâm Đăng ký. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2024, việc đăng ký trong trường hợp nêu trên được thực hiện qua hệ thống đăng ký trực tuyến. Theo đó, để đáp ứng được yêu cầu ghi nhận, bảo lưu thời điểm đăng ký theo quy định trên, phần mềm đăng ký trực tuyến cần phải sửa để bổ sung trường kê khai thời điểm đăng ký theo thời điểm đăng ký thể hiện trên văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm bằng chứng khoán đã đăng ký tập trung.

2.5. Về đăng ký thay đổi, xóa đăng ký

Đối với yêu cầu đăng ký thay đổi, trước đây, theo quy định của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP, khi có căn cứ đăng ký thay đổi là rút bớt tài sản bảo đảm, Trung tâm Đăng ký ghi nội dung đăng ký là “rút bớt tài sản bảo đảm” vào cơ sở dữ liệu và mô tả thông tin tài sản bị rút bớt. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Nghị định số 102/2017/NĐ-CP cho thấy, nhiều ý kiến từ phía cơ quan đăng ký cho rằng, bản chất của rút bớt tài sản bảo đảm là tài sản đó không còn được dùng làm tài sản bảo đảm. Do đó, để việc ghi nội dung đăng ký phản ánh đúng bản chất nêu trên, khoản 3 Điều 47 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP đã quy định: “Trường hợp đăng ký thay đổi do rút bớt tài sản bảo đảm thì Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản cập nhật nội dung xóa đăng ký đối với tài sản được rút bớt vào Cơ sở dữ liệu”.

Như vậy, để các Trung tâm Đăng ký thực hiện việc cập nhật nội dung đăng ký đúng quy định nêu trên, phần mềm đăng ký cần bổ sung thêm trường “Căn cứ thay đổi” (rút bớt, bổ sung hoặc thay thế) để xác định phương tiện nào xóa thế chấp (rút bớt), phương tiện nào thế chấp (bổ sung hoặc thay thế).

Đối với xóa đăng ký, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP quy định cụ thể các trường hợp xóa đăng ký. Các trường hợp xóa này cũng được thể hiện trên mẫu phiếu yêu cầu đăng ký tại các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 99/2022/NĐ-CP. Do đó, để việc kê khai thông tin về xóa đăng ký phù hợp với quy định nêu trên, tương ứng với phương thức đăng ký qua phương thức nộp bản giấy, phần mềm cũng cần được sửa theo hướng bổ sung thông tin về căn cứ xóa đăng ký trên biểu mẫu điện tử tương tác. Theo đó, khi thực hiện xóa đăng ký trên hệ thống đăng ký trực tuyến, người yêu cầu đăng ký lựa chọn một trong các căn cứ xóa phù hợp theo hướng dẫn trên biểu mẫu điện tử tương tác.

2.6. Về mô tả tài sản bảo đảm

Liên quan đến việc mô tả tài sản bảo đảm là động sản thuộc thẩm quyền đăng ký của Trung tâm Đăng ký, phần đăng ký hiện tại được thiết kế gồm có hai trường mô tả: (i) Nếu tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới có số khung thì người yêu cầu đăng ký mô tả thông tin số khung của phương tiện vào trường số khung; (ii) Đối với tài sản bảo đảm còn lại thì người yêu cầu đăng ký mô tả thông tin về tài sản vào trường mô tả chung.

Tuy nhiên, hiện nay, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP quy định cụ thể về mô tả tài sản bảo đảm vừa theo nguyên tắc chung, vừa có tính đặc thù đối với từng loại cụ thể, bao gồm: Tài sản là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; tài sản là tàu cá, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt hoặc phương tiện chuyên dùng; tài sản là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, kho hàng; tài sản là quyền tài sản; là công trình tạm, cây hàng năm… Mỗi loại tài sản có quy định mô tả riêng với những tiêu chí cụ thể. Do đó, để việc mô tả tài sản trên hệ thống đăng ký trực tuyến phù hợp với quy định nêu trên, phần mềm đăng ký cần được hoàn thiện theo hướng sửa lại các trường thông tin mô tả tài sản, theo đó cần bổ sung danh mục các loại tài sản bảo đảm, tích lựa chọn vào loại tài sản nào thì hiển thị các trường mô tả theo loại tài sản đó, ví dụ:

- Đối với tài sản là “phương tiện giao thông cơ giới có số khung (ô tô, mô tô, xe gắn máy...)”, phần mềm cần nghiên cứu hoàn thiện theo hướng khi lựa chọn loại tài sản này thì hiển thị mô tả theo bảng danh sách từng phương tiện, gồm các trường thông tin sau để mô tả: (i) Tên phương tiện, nhãn hiệu, màu sơn; (ii) Số khung; (iii) Số máy (không bắt buộc); (iv) Biển số (bắt buộc nếu tích chọn “yêu cầu thông báo”, không bắt buộc nếu không tích chọn); (v) Yêu cầu thông báo thế chấp; (vi) Tên và địa chỉ cơ quan tiếp nhận thông báo.

- Đối với tài sản là hàng hóa luân chuyển hoặc kho hàng, nếu là hàng hóa luân chuyển thì phải có trường thông tin “giá trị hàng hóa/tên, loại hàng hóa”. Nếu là kho hàng thì phải có trường thông tin: Giá trị hàng hóa/tên, loại hàng hóa; địa chỉ kho hàng; số hiệu kho hàng (nếu có).

- Đối với tài sản là quyền tài sản hoặc một phần quyền tài sản, phần mềm phải có trường thông tin: Tên quyền, căn cứ phát sinh quyền.

3. Kết nối, chia sẻ dữ liệu số về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ

Trước đây, trong Nghị định số 102/2017/NĐ-CP, việc các Trung tâm Đăng ký gửi thông báo thế chấp phương tiện giao thông, phương tiện chuyên dùng đến các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền lưu hành tài sản được gọi là hoạt động trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước. Việc trao đổi thông tin được thực hiện thông qua phương thức gửi thông báo bằng bản giấy qua đường bưu điện. Tuy nhiên, theo phản ánh từ phía các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền lưu hành tài sản, cơ chế trao đổi thông tin gặp nhiều khó khăn, do cơ sở vật chất để lưu trữ hồ sơ giấy chật chội, hồ sơ quản lý xe được quản lý bằng bản giấy theo từng xe nên không đủ chỗ lưu hồ sơ, thông tin tình trạng pháp lý của phương tiện giao thông cơ giới có lúc chưa cập nhật kịp thời do khoảng trễ thời gian gửi thông báo qua đường bưu điện. Do đó, để khắc phục bất cập trong thực tiễn trao đổi thông tin và bảo đảm phù hợp với bối cảnh và chủ trương xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP quy định trường hợp tài sản bảo đảm là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Công an thực hiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu số về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thông qua trục liên thông văn bản quốc gia theo quy định của pháp luật về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu (khoản 4 Điều 53).

Như vậy, để thực hiện được việc kết nối, chia sẻ dữ liệu số theo quy định nêu trên, cần nghiên cứu, khảo sát phần mềm đăng ký, quản lý xe của Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an xác định các thông tin liên quan đến đăng ký biện pháp bảo đảm bằng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ cần chia sẻ, từ đó, sửa phần mềm đăng ký trực tuyến đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản để kết nối dữ liệu hai hệ thống qua trục liên thông văn bản quốc gia. Theo đó, có thể nghiên cứu xây dựng giao diện lập trình ứng dụng (API) để chia sẻ dữ liệu số khung của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đã đăng ký với Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an.

4. Một số yêu cầu khác

Ngoài một số yêu cầu về kỹ thuật cần hoàn thiện đối với phần mềm nhằm bảo đảm việc đăng ký phù hợp với các quy định của Nghị định số 99/2022/NĐ-CP nêu trên, trước xu thế chung, bối cảnh chung của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, nhằm tăng cường tiện ích hơn nữa cho người dân, doanh nghiệp trong sử dụng dịch vụ công đăng ký trực tuyến biện pháp bảo đảm bằng động sản, cần tiếp tục nghiên cứu ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực này như xây dựng ứng dụng đăng ký đa phương tiện (app) trên thiết bị di động, mở rộng thêm các phương thức thanh toán như thanh toán qua các ứng dụng ví điện tử; kết nối cơ sở dữ liệu về đăng ký biện pháp bảo đảm bằng động sản với hệ thống đăng ký tài sản, giao dịch khác có liên quan, với hệ thống cơ quan có thẩm quyền để phục vụ công tác Chính phủ điện tử, Tòa án điện tử, Thi hành án điện tử và các cơ quan có thẩm quyền khác về tiến hành tố tụng, quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính liên quan.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

Phó Cục trưởng Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 387), tháng 8/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: