Thứ tư 29/07/2026 03:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm phòng ngừa pháp nhân thương mại phạm tội

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là vấn đề mới mà đây là vấn đề đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp luật quốc tế. Ở Việt Nam, trước đây, theo quan niệm truyền thống của khoa học luật hình sự, tội phạm là sự kết hợp giữa hành vi nguy hiểm của con người và thái độ lỗi của người đó, nên chỉ coi chủ thể của tội phạm là các cá nhân và truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt vấn đề đối với cá nhân phạm tội. Đến Bộ luật Hình sự năm 2015, trách nhiệm hình sự của pháp nhân quy định tại Chương XI gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89), một số điều khoản cụ thể khác (Điều 2, Điều 3, Điều 8, Điều 33, Điều 46) và các điều luật nằm trong phần quy định về tội phạm cụ thể.


Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước do thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

Bài viết đề cập đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, từ đó có những đề xuất đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm phòng ngừa pháp nhân tương mại phạm tội.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là vấn đề mới mà đây là vấn đề đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp luật quốc tế. Ở nước ta, theo quan niệm truyền thống của khoa học luật hình sự, tội phạm là sự kết hợp giữa hành vi nguy hiểm của con người và thái độ lỗi của người đó, nên chỉ coi chủ thể của tội phạm là các cá nhân và truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) chỉ đặt vấn đề đối với cá nhân phạm tội. Đến Bộ luật Hình sự năm 2015, TNHS của pháp nhân quy định tại Chương XI gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89), một số điều khoản cụ thể khác (Điều 2, Điều 3, Điều 8, Điều 33, Điều 46) và các điều luật nằm trong phần quy định về tội phạm cụ thể.

TNHS của pháp nhân thương mại (PNTM) là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà PNTM phải gánh chịu trước Nhà nước do thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

1. Đặc điểm về TNHS của PNTM được hình thành trên cơ sở các đặc điểm TNHS nói chung, tuy nhiên, cũng có một số đặc thù riêng đối với chủ thể này:

Một là, phạm vi về không gian. Việc truy cứu TNHS đối với PNTM phạm tội không chỉ áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam mà còn có thể áp dụng đối với hành vi của PNTM nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam khi có hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của Việt Nam hoặc được quy định là tội phạm trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Hai là, điều kiện chịu TNHS của PNTM. Trên cơ sở tham khảo pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật một số nước, để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện của Việt Nam, Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định bốn căn cứ để PNTM phải chịu TNHS, trong đó ba căn cứ đầu có tính đặc thù chỉ áp dụng xác định TNHS của PNTM, còn căn cứ cuối áp dụng chung cho cả cá nhân và PNTM. Theo đó, chỉ truy cứu TNHS đối với PNTM khi hội đủ bốn căn cứ sau: (i) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM, (ii) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM, (iii) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM, (iv) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba là, phạm vi chịu TNHS của PNTM. Qua tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về loại tội mà pháp nhân phải chịu TNHS, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã giới hạn 33 loại tội PNTM phải chịu TNHS tại Điều 76, thuộc ba nhóm tội phạm là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về môi trường và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Các tội phạm này tương ứng với các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của PNTM và các lĩnh vực phạm tội phổ biến do PNTM thực hiện trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về kỹ thuật lập pháp, các điều luật quy định 33 tội danh do PNTM thực hiện đều có một khung riêng quy định loại và mức hình phạt áp dụng đối với PNTM. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân”. TNHS của PNTM không thay thế, làm loại bỏ hoặc ảnh hưởng đến việc truy cứu TNHS đối với cá nhân. Không được coi việc truy cứu TNHS đối với PNTM về hành vi phạm tội là để thay thế cho việc truy cứu TNHS đối với cá nhân về hành vi phạm tội đó mà cá nhân phải đồng chịu trách nhiệm với PNTM về hành vi phạm tội theo nguyên tắc: (i) Người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội luôn phải chịu TNHS về cùng tội danh với PNTM trừ trường hợp người đó thuộc diện không phải chịu TNHS hoặc được miễn TNHS theo quy định của Bộ luật Hình sự. (ii) Đối với người đứng đầu PNTM thì tùy từng trường hợp cụ thể để xử lý. Nếu những người này đều biết và thống nhất chỉ đạo, chấp thuận cho thực hiện thì họ cùng chịu trách nhiệm chung về tội danh với PNTM và người trực tiếp thực hiện tội phạm. Nếu có căn cứ cho rằng, trong số họ có người không biết hoặc phản đối việc thực hiện hành vi này thì họ không phải chịu trách nhiệm chung tội danh với pháp nhân.

Bốn là, hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với PNTM phạm tội: So với cá nhân, hệ thống các hình phạt đối với PNTM phạm tội có sự khác biệt, bao gồm 03 hình phạt chính: Phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn và 03 hình phạt bổ sung: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Do chủ thể phạm tội là các PNTM, với bản chất là các tổ chức kinh tế độc lập, hoạt động vì mục đích lợi nhuận và không sử dụng ngân sách nhà nước, cho nên hình phạt mang tính kinh tế được coi là phù hợp, hiệu quả và đủ sức răn đe để truy cứu TNHS đối với pháp nhân. Đối với hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và không còn cách nào khác.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có 04 biện pháp tư pháp được áp dụng đối với PNTM phạm tội: (i) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; (ii) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; (iii) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; (iv) Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc PNTM phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp tư pháp đó.

Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm: Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm… Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của PNTM và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS áp dụng đối với PNTM. So sánh với căn cứ quyết định hình phạt cá nhân, căn cứ quyết định hình phạt đối với PNTM có điểm khác là “việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại”. Việc chấp hành pháp luật được đánh giá theo nghĩa rộng, có thể là chấp hành nghĩa vụ đóng thuế; về an toàn, kỷ luật lao động, thậm chí cả trách nhiệm xã hội của pháp nhân.

Nhằm khuyến khích PNTM tích cực sửa chữa, khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, giảm tối đa các tác động tiêu cực có thể mang lại từ việc áp dụng hình phạt, PNTM phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đồng thời, với tinh thần tạo điều kiện thuận lợi cho PNTM bị kết án sớm trở lại hoạt động bình thường sau khi đã chấp hành án xong, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định PNTM bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà PNTM không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phòng, chống tội phạm nói chung là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Cơ sở pháp lý hoàn thiện và đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm nói chung và các tội phạm do PNTM phạm tội nói riêng. Ngược lại, cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, đồng bộ sẽ có những tác động, cản trở nhất định đến hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền cũng như phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tội phạm.

2. Ở Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định TNHS đối với PNTM, do đó, sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất định đòi hỏi phải có sự hoàn thiện pháp luật một cách kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm do PNTM thực hiện trong thời gian tới.

Một là, hoàn thiện khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 để bảo đảm tính lôgíc và khoa học hơn đối với vấn đề TNHS của PNTM. Theo đó, nội dung của điều luật không có thay đổi nhiều về nội dung so với Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), mà chỉ thêm vào thuật ngữ “hoặc PNTM”. Điều này là không phù hợp bởi PNTM chỉ phải chịu TNHS đối với một số loại tội cụ thể trong lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế và môi trường, chứ không phải chịu TNHS về toàn bộ tội phạm như cá nhân. Mặt khác, khái niệm tội phạm cũng cần được cấu trúc một cách ngắn gọn, song vẫn bảo đảm tính chính xác và đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của nó để phân biệt với các văn bản pháp luật khác. Điều này có nghĩa là, khái niệm tội phạm chỉ cần phản ánh được hai dấu hiệu cơ bản về nội dung và hình thức phản ánh bản chất xã hội và pháp lý của tội phạm, cụ thể như sau: “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự”. Còn các dấu hiệu khác thể hiện điều kiện của TNHS, như: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự, lỗi; hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM (điều kiện TNHS của PNTM) thì được quy định riêng tại các điều luật cụ thể khác của Bộ luật Hình sự.

Hai là, cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật hình sự để truy cứu TNHS đối với PNTM. Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này”. Như vậy, về cơ bản quy định về điều kiện chịu TNHS của PNTM đã tương đối chặt chẽ và chính xác. Song điều kiện tại điểm c Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 nảy sinh bất cập, có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng, cụ thể: PNTM là một thực thể pháp lý. Mọi hoạt động của PNTM đều thông qua người đại diện. Tuy nhiên, trong trường hợp PNTM là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì người thành lập PNTM cũng chính là PNTM mà không hoạt động thông qua người đại diện do đó không thể tự mình chỉ đạo, điều hành chính mình được. Điều này, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành hướng dẫn chi tiết, cụ thể đối với quy định trên bảo đảm tính khả thi của các quy định của pháp luật trong thực tế.

Ba là, những quy định về hình phạt đối với PNTM cũng cần sửa đổi, bổ sung cho bảo đảm tính phù hợp và khoa học. Về cấu trúc, cần nghiên cứu chuyển quy định các hình phạt đối với PNTM tại Điều 33 sang Chương XI quy định về TNHS đối với PNTM, bởi lẽ, Chương này được thiết kế riêng để quy định về TNHS đối với PNTM. Hơn nữa, quy định như vậy sẽ bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của Bộ luật Hình sự năm 2015, tương tự như quy định về các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 98 trong Chương TNHS đối với người dưới 18 tuổi. Đặc biệt, cần nghiên cứu, xem xét có nên hủy bỏ hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33, Điều 78 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bởi lẽ vì, trong chế tài quy định tại các điều luật về tội phạm mà PNTM phải chịu TNHS không có hình phạt này. Hơn nữa, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng đã quy định hình phạt bổ sung: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định để áp dụng đối với PNTM phạm tội.

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến TNHS của PNTM đòi hỏi cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ. Cụ thể là:

- Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan đến bảo đảm trật tự quản lý kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực, như: Buôn lậu, sản xuất hàng giả, thuế, chứng khoản, bảo hiểm xã hội; bảo vệ rừng, tài nguyên nước và khoáng sản, phóng xạ, xử lý rác thải, chất thải… Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, có vai trò là chốt chặn, lá chắn nhưng đồng thời cũng là cơ sở để truy cứu TNHS. Nếu hoạt động xử lý vi phạm hành chính được quy định rõ ràng, đầy đủ và thực hiện một cách có hiệu quả thì tình hình vi phạm pháp luật sẽ được hạn chế, hậu quả tác động đến trật tự quản lý kinh tế và môi trường sẽ giảm đi rất nhiều và qua đó góp phần răn đe, phòng ngừa PNTM phạm tội.

- Hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về quản lý kinh tế và môi trường theo hướng tăng thẩm quyền, hoạt động độc lập và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Đồng thời, bổ sung các quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của các PNTM đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và môi trường; quy định bắt buộc các PNTM phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho thành viên của PNTM; phân định cụ thể trách nhiệm cá nhân, tập thể và PNTM, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu nếu xảy ra vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và môi trường. Các quy định này sẽ là cơ sở để bảo đảm khi xử lý bằng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động, buộc di dời hoặc cấm hoạt động, vì khi áp dụng các biện pháp nêu trên có thể làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân có liên quan.

ThS. Nguyễn Thị Hạnh Quyên

ThS. Hoàng Thịnh

Học viện Chính trị Công an nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: