Thứ tư 04/03/2026 17:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm phòng ngừa pháp nhân thương mại phạm tội

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là vấn đề mới mà đây là vấn đề đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp luật quốc tế. Ở Việt Nam, trước đây, theo quan niệm truyền thống của khoa học luật hình sự, tội phạm là sự kết hợp giữa hành vi nguy hiểm của con người và thái độ lỗi của người đó, nên chỉ coi chủ thể của tội phạm là các cá nhân và truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt vấn đề đối với cá nhân phạm tội. Đến Bộ luật Hình sự năm 2015, trách nhiệm hình sự của pháp nhân quy định tại Chương XI gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89), một số điều khoản cụ thể khác (Điều 2, Điều 3, Điều 8, Điều 33, Điều 46) và các điều luật nằm trong phần quy định về tội phạm cụ thể.


Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước do thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

Bài viết đề cập đến trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, từ đó có những đề xuất đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm phòng ngừa pháp nhân tương mại phạm tội.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là vấn đề mới mà đây là vấn đề đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp luật quốc tế. Ở nước ta, theo quan niệm truyền thống của khoa học luật hình sự, tội phạm là sự kết hợp giữa hành vi nguy hiểm của con người và thái độ lỗi của người đó, nên chỉ coi chủ thể của tội phạm là các cá nhân và truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) chỉ đặt vấn đề đối với cá nhân phạm tội. Đến Bộ luật Hình sự năm 2015, TNHS của pháp nhân quy định tại Chương XI gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89), một số điều khoản cụ thể khác (Điều 2, Điều 3, Điều 8, Điều 33, Điều 46) và các điều luật nằm trong phần quy định về tội phạm cụ thể.

TNHS của pháp nhân thương mại (PNTM) là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà PNTM phải gánh chịu trước Nhà nước do thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

1. Đặc điểm về TNHS của PNTM được hình thành trên cơ sở các đặc điểm TNHS nói chung, tuy nhiên, cũng có một số đặc thù riêng đối với chủ thể này:

Một là, phạm vi về không gian. Việc truy cứu TNHS đối với PNTM phạm tội không chỉ áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam mà còn có thể áp dụng đối với hành vi của PNTM nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam khi có hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của Việt Nam hoặc được quy định là tội phạm trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Hai là, điều kiện chịu TNHS của PNTM. Trên cơ sở tham khảo pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật một số nước, để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện của Việt Nam, Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) quy định bốn căn cứ để PNTM phải chịu TNHS, trong đó ba căn cứ đầu có tính đặc thù chỉ áp dụng xác định TNHS của PNTM, còn căn cứ cuối áp dụng chung cho cả cá nhân và PNTM. Theo đó, chỉ truy cứu TNHS đối với PNTM khi hội đủ bốn căn cứ sau: (i) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM, (ii) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM, (iii) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM, (iv) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ba là, phạm vi chịu TNHS của PNTM. Qua tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về loại tội mà pháp nhân phải chịu TNHS, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã giới hạn 33 loại tội PNTM phải chịu TNHS tại Điều 76, thuộc ba nhóm tội phạm là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về môi trường và các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Các tội phạm này tương ứng với các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của PNTM và các lĩnh vực phạm tội phổ biến do PNTM thực hiện trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Về kỹ thuật lập pháp, các điều luật quy định 33 tội danh do PNTM thực hiện đều có một khung riêng quy định loại và mức hình phạt áp dụng đối với PNTM. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân”. TNHS của PNTM không thay thế, làm loại bỏ hoặc ảnh hưởng đến việc truy cứu TNHS đối với cá nhân. Không được coi việc truy cứu TNHS đối với PNTM về hành vi phạm tội là để thay thế cho việc truy cứu TNHS đối với cá nhân về hành vi phạm tội đó mà cá nhân phải đồng chịu trách nhiệm với PNTM về hành vi phạm tội theo nguyên tắc: (i) Người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội luôn phải chịu TNHS về cùng tội danh với PNTM trừ trường hợp người đó thuộc diện không phải chịu TNHS hoặc được miễn TNHS theo quy định của Bộ luật Hình sự. (ii) Đối với người đứng đầu PNTM thì tùy từng trường hợp cụ thể để xử lý. Nếu những người này đều biết và thống nhất chỉ đạo, chấp thuận cho thực hiện thì họ cùng chịu trách nhiệm chung về tội danh với PNTM và người trực tiếp thực hiện tội phạm. Nếu có căn cứ cho rằng, trong số họ có người không biết hoặc phản đối việc thực hiện hành vi này thì họ không phải chịu trách nhiệm chung tội danh với pháp nhân.

Bốn là, hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với PNTM phạm tội: So với cá nhân, hệ thống các hình phạt đối với PNTM phạm tội có sự khác biệt, bao gồm 03 hình phạt chính: Phạt tiền; đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn và 03 hình phạt bổ sung: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Do chủ thể phạm tội là các PNTM, với bản chất là các tổ chức kinh tế độc lập, hoạt động vì mục đích lợi nhuận và không sử dụng ngân sách nhà nước, cho nên hình phạt mang tính kinh tế được coi là phù hợp, hiệu quả và đủ sức răn đe để truy cứu TNHS đối với pháp nhân. Đối với hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và không còn cách nào khác.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có 04 biện pháp tư pháp được áp dụng đối với PNTM phạm tội: (i) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; (ii) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; (iii) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; (iv) Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc PNTM phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp tư pháp đó.

Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm: Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm… Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của PNTM và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS áp dụng đối với PNTM. So sánh với căn cứ quyết định hình phạt cá nhân, căn cứ quyết định hình phạt đối với PNTM có điểm khác là “việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại”. Việc chấp hành pháp luật được đánh giá theo nghĩa rộng, có thể là chấp hành nghĩa vụ đóng thuế; về an toàn, kỷ luật lao động, thậm chí cả trách nhiệm xã hội của pháp nhân.

Nhằm khuyến khích PNTM tích cực sửa chữa, khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, giảm tối đa các tác động tiêu cực có thể mang lại từ việc áp dụng hình phạt, PNTM phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đồng thời, với tinh thần tạo điều kiện thuận lợi cho PNTM bị kết án sớm trở lại hoạt động bình thường sau khi đã chấp hành án xong, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng quy định PNTM bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà PNTM không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác phòng, chống tội phạm nói chung là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay. Cơ sở pháp lý hoàn thiện và đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm nói chung và các tội phạm do PNTM phạm tội nói riêng. Ngược lại, cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, đồng bộ sẽ có những tác động, cản trở nhất định đến hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền cũng như phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tội phạm.

2. Ở Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định TNHS đối với PNTM, do đó, sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất định đòi hỏi phải có sự hoàn thiện pháp luật một cách kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm do PNTM thực hiện trong thời gian tới.

Một là, hoàn thiện khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 để bảo đảm tính lôgíc và khoa học hơn đối với vấn đề TNHS của PNTM. Theo đó, nội dung của điều luật không có thay đổi nhiều về nội dung so với Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), mà chỉ thêm vào thuật ngữ “hoặc PNTM”. Điều này là không phù hợp bởi PNTM chỉ phải chịu TNHS đối với một số loại tội cụ thể trong lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế và môi trường, chứ không phải chịu TNHS về toàn bộ tội phạm như cá nhân. Mặt khác, khái niệm tội phạm cũng cần được cấu trúc một cách ngắn gọn, song vẫn bảo đảm tính chính xác và đầy đủ các dấu hiệu pháp lý của nó để phân biệt với các văn bản pháp luật khác. Điều này có nghĩa là, khái niệm tội phạm chỉ cần phản ánh được hai dấu hiệu cơ bản về nội dung và hình thức phản ánh bản chất xã hội và pháp lý của tội phạm, cụ thể như sau: “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự”. Còn các dấu hiệu khác thể hiện điều kiện của TNHS, như: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự, lỗi; hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh PNTM, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của PNTM, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của PNTM (điều kiện TNHS của PNTM) thì được quy định riêng tại các điều luật cụ thể khác của Bộ luật Hình sự.

Hai là, cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật hình sự để truy cứu TNHS đối với PNTM. Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “1. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này”. Như vậy, về cơ bản quy định về điều kiện chịu TNHS của PNTM đã tương đối chặt chẽ và chính xác. Song điều kiện tại điểm c Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 nảy sinh bất cập, có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng, cụ thể: PNTM là một thực thể pháp lý. Mọi hoạt động của PNTM đều thông qua người đại diện. Tuy nhiên, trong trường hợp PNTM là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì người thành lập PNTM cũng chính là PNTM mà không hoạt động thông qua người đại diện do đó không thể tự mình chỉ đạo, điều hành chính mình được. Điều này, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành hướng dẫn chi tiết, cụ thể đối với quy định trên bảo đảm tính khả thi của các quy định của pháp luật trong thực tế.

Ba là, những quy định về hình phạt đối với PNTM cũng cần sửa đổi, bổ sung cho bảo đảm tính phù hợp và khoa học. Về cấu trúc, cần nghiên cứu chuyển quy định các hình phạt đối với PNTM tại Điều 33 sang Chương XI quy định về TNHS đối với PNTM, bởi lẽ, Chương này được thiết kế riêng để quy định về TNHS đối với PNTM. Hơn nữa, quy định như vậy sẽ bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của Bộ luật Hình sự năm 2015, tương tự như quy định về các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi tại Điều 98 trong Chương TNHS đối với người dưới 18 tuổi. Đặc biệt, cần nghiên cứu, xem xét có nên hủy bỏ hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33, Điều 78 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bởi lẽ vì, trong chế tài quy định tại các điều luật về tội phạm mà PNTM phải chịu TNHS không có hình phạt này. Hơn nữa, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng đã quy định hình phạt bổ sung: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định để áp dụng đối với PNTM phạm tội.

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến TNHS của PNTM đòi hỏi cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ. Cụ thể là:

- Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan đến bảo đảm trật tự quản lý kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực, như: Buôn lậu, sản xuất hàng giả, thuế, chứng khoản, bảo hiểm xã hội; bảo vệ rừng, tài nguyên nước và khoáng sản, phóng xạ, xử lý rác thải, chất thải… Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, có vai trò là chốt chặn, lá chắn nhưng đồng thời cũng là cơ sở để truy cứu TNHS. Nếu hoạt động xử lý vi phạm hành chính được quy định rõ ràng, đầy đủ và thực hiện một cách có hiệu quả thì tình hình vi phạm pháp luật sẽ được hạn chế, hậu quả tác động đến trật tự quản lý kinh tế và môi trường sẽ giảm đi rất nhiều và qua đó góp phần răn đe, phòng ngừa PNTM phạm tội.

- Hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về quản lý kinh tế và môi trường theo hướng tăng thẩm quyền, hoạt động độc lập và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Đồng thời, bổ sung các quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của các PNTM đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và môi trường; quy định bắt buộc các PNTM phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho thành viên của PNTM; phân định cụ thể trách nhiệm cá nhân, tập thể và PNTM, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu nếu xảy ra vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế và môi trường. Các quy định này sẽ là cơ sở để bảo đảm khi xử lý bằng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động, buộc di dời hoặc cấm hoạt động, vì khi áp dụng các biện pháp nêu trên có thể làm ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân có liên quan.

ThS. Nguyễn Thị Hạnh Quyên

ThS. Hoàng Thịnh

Học viện Chính trị Công an nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: