Thứ ba 26/05/2026 10:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự bảo đảm quyền lợi cho người dân, doanh nghiệp

Bài viết sơ lược về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về công tác thi hành án dân sự, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật và thực tiễn, tác giả chỉ ra một số bất cập, đồng thời, đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước.

Từ những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn trong công tác thi hành án dân sự. Đặc biệt phải kể đến Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW). Liên quan trực tiếp đến công tác thi hành án, Nghị quyết số 49-NQ/TW yêu cầu: (i) Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án; (ii) Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án; (iii) Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo.

Đồng thời, Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện gồm: (i) Hoàn thiện chính sách, pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn…; xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành; (ii) Chuẩn bị điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để giao cho Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi hành án; nghiên cứu mô hình tổ chức để phù hợp với định hướng tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; (iii) Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh; (iv) Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc[1].

Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về công tác thi hành án dân sự, ngày 14/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2009. Đến nay, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã trải qua 05 lần sửa đổi, bổ sung các nội dung có liên quan (sau đây gọi là Luật Thi hành án dân sự), để phù hợp với yêu cầu, đặc điểm tình hình của từng giai đoạn phát triển của đất nước, cụ thể: (i) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015; (ii) Luật Cạnh tranh năm 2018, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019 (tại Điều 116 sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ quy định trong một số luật khác trong đó có Luật Thi hành án dân sự) ; (iii) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022 (tại Điều 2 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 163 Luật Thi hành án dân sự); (iv) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01/3/2022; (v) Luật Đất đại năm 2024 (nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự được quy định tại Điều 246).

Cùng với đó, các quy định pháp luật có liên quan trực tiếp đến hoạt động thi hành án dân sự cũng từng bước được hoàn thiện, đồng bộ, thống nhất như Luật Giá năm 2012, Luật Phá sản năm 2014, Luật Đấu giá tài sản năm 2016, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2019 và Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng... Có thể nói, hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự đã tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ[2].

Đến nay, sau gần 15 năm triển khai thực hiện Luật Thi hành án dân sự và các văn bản có liên quan, công tác thi hành án dân sự đã đạt được nhiều kết quả tích cực, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế và đảm bảo trật tự an toàn xã hội của đất nước[3].

2. Một số khó khăn, bất cập

Bên cạnh các kết quả đạt được, việc tổ chức thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản quy định chi tiết còn chưa đạt kết quả như mong muốn do Luật Thi hành án dân sự đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần được đánh giá, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi phù hợp với tình hình thực tiễn, đảm bảo cho quyền lợi của cá nhân, tổ chức, đồng thời, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

2.1. Về thỏa thuận thi hành án

Khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận”. Khi một bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực được thi hành sẽ không chỉ có ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án mà còn ảnh hưởng, tác động đến cả người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Trong nhiều trường hợp, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng là thành phần quan trọng tham gia vào quá trình tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 6 thì quyền thỏa thuận mới chỉ dành cho đương sự mà pháp luật chưa ghi nhận quyền thỏa thuận cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, điều này là chưa thực sự phù hợp vì trong nhiều trường hợp thỏa thuận thi hành án sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

2.2. Tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án

Tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự. Khoản 1 Điều 31 quy định: “Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện”. Như vậy, đơn yêu cầu thi hành án được nộp trực tiếp, trình bày bằng lời nói hoặc gửi qua đường bưu điện. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số, bên cạnh các hình thức đến trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện, pháp luật thi hành án cũng nên ghi nhận một phương thức mới, đó là đương sự có thể áp dụng hình thức nộp đơn yêu cầu thi hành án trực tuyến (online) để tạo thuận lợi cho đương sự cũng như cơ quan thi hành án. Pháp luật hiện hành chưa quy định về hình thức này.

Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 31 về nội dung đơn yêu cầu thi hành án, thì người yêu cầu chỉ cần cung cấp tên và địa chỉ. Có thể thấy, thông tin về người yêu cầu hiện nay thể hiện trong đơn yêu cầu tương đối đơn giản, đôi khi thiếu thông tin liên hệ, làm cho các cơ quan thi hành án gặp khó khăn khi liên hệ với đương sự, trong khi hiện nay trên thực tế đã có nhiều phương thức khác để liên hệ với người yêu cầu như điện thoại, email... giúp việc liên hệ với đương sự nhanh chóng và tiện lợi hơn.

2.3. Về thẩm quyền thi hành án

Tại điểm i khoản 2 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án” thì thuộc thẩm quyền thi hành án cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và theo điểm a khoản 1 Điều 56 Luật Thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh ủy thác thi hành các bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài. Theo quy định này, bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và chỉ được ủy thác đến cơ quan ngang cấp (cấp tỉnh). Trên thực tế, có những vụ việc tại giai đoạn xét xử và tuyên án của Tòa án đương sự đang ở nước ngoài nhưng đến giai đoạn thi hành án dân sự thì đương sự đã về nước và sinh sống ổn định tại một địa phương (huyện, quận) cụ thể trong tỉnh. Trong trường hợp này, thực hiện theo quy định tại i khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 56 là chưa phù hợp vì đương sự đã trở về sinh sống ổn định tại địa phương, yếu tố nước ngoài trong vụ việc dân sự cũng đã chấm dứt.

2.4. Về bảo quản tài sản thi hành án

Bảo quản tài sản thi hành án là rất quan trọng, vì bảo quản tài sản thi hành án tốt sẽ giữ được giá trị tài sản, tránh việc mất mát, hư hỏng tài sản, từ đó bảo đảm được quyền lợi của người được thi hành án và người phải thi hành án. Vấn đề này được quy định tại Điều 58 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, người được giao bảo quản tài sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 5 Điều 58 Luật Thi hành án dân sự). Trên thực tiễn thi hành, có trường hợp, để bảo đảm tài sản thi hành án, tài sản đó phải được duy trì, vận hành (như máy móc không vận hành có thể dẫn đến hỏng theo thời gian, không sử dụng được…), nhưng pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về trường hợp này. Về vấn đề này, có thể kể đến vụ việc trên thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam, từ nhà máy Sô đa bị tạm dừng hoạt động trên địa bàn tỉnh. Một phần tài sản thế chấp cho hợp đồng tín dụng vay hơn 200 tỷ đồng để bảo đảm cho các khoản vay tại ngân hàng và là tài sản đã bị Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam kê biên, vậy nhưng nguyên liệu này hiện vẫn để ngoài trời, mặc cho mưa nắng, điều này đã làm cho nhà đầu tư và hợp tác lo lắng về việc nếu kéo dài như hiện tại, nhà máy thành “đống sắt vụn” do bị oxy hóa, cũng như các nguy cơ về ô nhiễm môi trường[4].

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Từ thực trạng trên, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự như sau:

Một là, bổ sung quyền thỏa thuận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự”. Trong quá trình thi hành án, bên cạnh các đương sự là người được thi hành án, người phải thi hành án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chủ thể quan trọng trong quá trình thi hành án. Vì vậy, theo tác giả cần bổ sung quyền thỏa thuận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào Điều 6 của Luật.

Hai là, bổ sung hình thức nộp đơn yêu cầu thi hành án trực tuyến (online). Hiện nay, theo tinh thần của Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 là huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia của tổ chức, doanh nghiệp và người dân là yếu tố quyết định; sự hành động đồng bộ ở các bộ, ngành, địa phương là yếu tố bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số. Trên các phương tiện truyền thông, báo chí cũng liên tục nhắc tới “Chính phủ điện tử”, “Chính phủ số”... Chính phủ số là chính phủ thông qua quá trình tin học hóa các hoạt động để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Vì vậy, trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, các cơ quan chức năng nên cân nhắc, bổ sung hình thức nộp đơn yêu cầu thi hành án trực tuyến (online) vào khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự để phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp đơn yêu cầu thi hành án.

Ba là, bổ sung thông tin của người yêu cầu trong đơn yêu cầu thi hành án. Theo tác giả, để thuận lợi trong việc liên lạc với đương sự, cần bổ sung vào Điều 31 Luật Thi hành án dân sự mục “Thông tin khác”. Theo đó, thông tin cần bổ sung có thể là: Số điện thoại, địa chỉ email (nếu có) và số điện thoại, địa chỉ 01 người thân (bố, mẹ, vợ, chồng, con...) để cơ quan thi hành án liên hệ trong trường hợp đương sự vì lý do chính đáng không thể nhận thông báo mà người thân thích của họ có thể nhận thay… tạo thuận lợi trong quá trình thông báo, xác minh thi hành án.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung điểm i khoản 2 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự theo hướng nếu quá trình tổ chức thi hành án đối với bản án có yếu tố nước ngoài mà có căn cứ xác định đương sự, người có qyền lợi nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thi hành án đã sinh sống ổn định ở Việt Nam thì cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh thực hiện ủy thác nơi họ có địa chỉ để thi hành án như các vụ việc bình thường.

Năm là, bổ sung Điều 58 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 theo hướng: Trong trường hợp tài sản bảo đảm là máy móc, trang thiết bị… cần được vận hành, sử dụng để tránh hư hỏng, tiêu hao thì đơn vị được giao tài sản bảo đảm phải có phương án vận hành phù hợp, dưới sự giám sát, theo dõi của cơ quan thi hành án, trong trường hợp đơn vị được giao không có phương án hoặc không vận hành, để tài sản thất thoát, hư hại thì có thể giao cho đơn vị khác đủ điều kiện (nhà đầu tư, đơn vị liên doanh, liên kết…) bảo quản tài sản thi hành án./.

Trương Trọng Kiệt

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. https://moj.gov.vn/ddt/tintuc/Pages/dua-nghi-quyet-cua-dang.aspx?ItemID=68.

[2]. https://danchuphapluat.vn/cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-dat-ket-qua-dang-ghi-nhan.

[3]. https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/thongtinchung/view_detail.aspx?itemid=1358.

[4].https://phapluatplus.vn/quang-nam-nguy-co-o-nhiem-moi-truong-tu-nha-may-so-da-bi-tam-dung-hoat-dong-199790.html?gidzl=fkXy7di04oUYyteSVXaL9Q7tT1zYInLtkFHzIsTFG7UuztnFOKv5SxMgBKnh4qHmi_bwIMBjtLWCUWGM8W.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: