Thứ năm 12/03/2026 20:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự Việt Nam

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự là một nội dung quan trọng trong pháp luật tố tụng dân sự, nhằm làm cho quyền bình đẳng của phụ nữ được thực hiện và bảo vệ. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở lý luận và những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.



1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự

“Quyền” được hiểu là quyền năng của pháp luật thực định quy định cho mỗi chủ thể pháp luật, cho phép các chủ thể làm một việc gì đó, yêu cầu hoặc ngăn cản người khác làm một việc gì đó vì lợi ích của chính mình hoặc vì lợi ích của người khác[1]. “Bình đẳng” là thuật ngữ chỉ sự “ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi”[2]. Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì quyền bình đẳng thể hiện sự ngang nhau về địa vị pháp lý, ngang nhau về quyền và nghĩa vụ. Quyền bình đẳng là một quyền cơ bản của con người. Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau.

Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. 2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Quyền bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, pháp luật tố tụng dân sự hiện nay đã thể chế hóa thành nguyên tắc quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: (i) Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. (ii) Tòa án có trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự.

Đương sự trong tố tụng dân sự là người tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích của mình trước Tòa án. Quy định quyền bình đẳng trong pháp luật tố tụng dân sự là sự ghi nhận của pháp luật tố tụng dân sự về địa vị pháp lý, về quyền và nghĩa vụ của phụ nữ tại Tòa án là ngang nhau so với nam giới, về sự không phân biệt đối xử về giới của Tòa án đối với các bên đương sự. Về bản chất, quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự có nguồn gốc từ quyền bình đẳng của con người. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự chính là những quyền tố tụng quan trọng, đặc thù của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự, ghi nhận phụ nữ có quyền và nghĩa vụ ngang với nam giới trước Tòa án, đồng thời, phụ nữ phải chịu trách nhiệm pháp lý như nam giới, đương sự là phụ nữ luôn có quyền gắn liền với nghĩa vụ tố tụng dân sự. Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự không chỉ là việc pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án không được phân biệt đối xử về giới giữa các đương sự mà còn là quy định Tòa án tạo cơ hội như nhau cho các đương sự là phụ nữ thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, không phân biệt đối xử về giới, đồng thời, bảo vệ công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự là phụ nữ.

Từ những phân tích trên có thể hiểu, quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự là tổng hợp các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về bình đẳng quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của phụ nữ, về trách nhiệm, nhiệm vụ của Tòa án, Viện kiểm sát và các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc giúp đỡ phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng trong suốt quá trình tố tụng dân sự.

2. Cơ sở hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự Việt Nam

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự cần phải được thể chế bằng pháp luật. Cơ sở của việc luật hóa bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự gồm những cơ sở sau:

Một là, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền.

Hai là, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam xuất phát từ nhu cầu thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà trực tiếp nhất là Hiến pháp năm 2013, đồng thời, cần phải có sự tương thích giữa pháp luật quốc tế với pháp luật quốc gia, giữa luật nội dung với luật hình thức trong sự nghiệp đấu tranh bảo đảm bình đẳng giới. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, quyền bình đẳng giới với tư cách là một quyền tự nhiên của con người ngày càng được công nhận, hoàn thiện trong hệ thống pháp luật quốc tế cũng như trong pháp luật của mỗi quốc gia. Hiện nay, với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cần phải chủ động “hòa nhập” với các xu hướng quốc tế, phải tạo ra môi trường hợp tác (đặc biệt là môi trường pháp lý) để các nước có thể tin tưởng cùng Việt Nam hợp tác trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Muốn vậy, pháp luật Việt Nam phải tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia công nhận và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng giới. Có thể nói, ở một mức độ nhất định, chính các văn bản pháp lý quốc tế, pháp luật của các quốc gia khác khẳng định và bảo vệ quyền bình đẳng giới đã ảnh hưởng mạnh mẽ và tạo định hướng để pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng cũng thừa nhận và bảo vệ quyền bình đẳng giới. Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định các đương sự có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước Tòa án là sự cụ thể hóa quyền bình đẳng của con người được quy định tại Điều 14, Điều 16 Hiến pháp năm 2013.

Việc xây dựng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự còn phải đáp ứng yêu cầu phù hợp với luật dân sự, bởi luật nội dung quyết định luật hình thức. Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định phụ nữ có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước Tòa án là tương thích với nguyên tắc bình đẳng được quy định tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ba là, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật tố tụng dân sự xuất phát từ nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự và nhu cầu bảo vệ quyền bình đẳng giới. Tham gia tố tụng dân sự, đương sự nào trong vụ việc dân sự cũng luôn có nhu cầu cần được Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho mình. Tuy nhiên, trước khi trông đợi vào Tòa án, đương sự là phụ nữ có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Để có thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì phụ nữ cần được Nhà nước trao quyền bình đẳng giữa họ với các đương sự khác giới. Với quyền bình đẳng được ghi nhận trong luật, đương sự là phụ nữ mới có cơ sở pháp lý để ngang bằng với các đương sự khác giới trong việc tiếp cận Tòa án để đưa ra yêu cầu, trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, trong việc thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ việc dân sự, trong việc tranh tụng tại phiên tòa... Tuy nhiên, nếu pháp luật tố tụng dân sự chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền bình đẳng của đương sự thì rất có thể quyền này sẽ không được thực hiện hoặc được thực hiện không hiệu quả bởi quyền này không chỉ phụ thuộc vào đương sự có thực hiện hay không mà còn phụ thuộc vào các chủ thể có liên quan như Tòa án, Viện kiểm sát, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong xã hội... Như vậy, để có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật tố tụng dân sự cần có các quy định về bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự từ phía Tòa án, Viện kiểm sát và các chủ thể khác có liên quan.

3. Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự

3.1. Pháp luật tố tụng dân sự cần phải ghi nhận đương sự có quyền bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý trước Tòa án. Quy định này là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự.

Ghi nhận đương sự có quyền bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý là nội dung lớn đầu tiên mà pháp luật tố tụng dân sự về bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự phải thể hiện được, bởi vì, muốn bảo đảm thực hiện được quyền này thì trước hết quyền đó phải được ghi nhận. Nội dung này phải được cụ thể hóa bằng các quy phạm pháp luật phù hợp trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

3.2. Pháp luật tố tụng dân sự cần phải ghi nhận, bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự là một nguyên tắc mà các chủ thể tiến hành tố tụng dân sự và tham gia tố tụng phải tuân theo. Là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự, quyền bình đẳng của đương sự không chỉ có ý nghĩa giúp đương sự thực hiện được quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình mà còn giúp các đương sự được Tòa án đối xử như nhau, không bị phân biệt trong tố tụng dân sự[3]. Theo tác giả Đào Trí Úc, quyền bình đẳng của đương sự gắn liền với quyền được xét xử công bằng mà công bằng là “yêu cầu về sự đối xử công bằng, có vị trí pháp lý, có các cơ hội pháp lý công bằng giữa các bên trong tố tụng”[4]. Như vậy, pháp luật tố tụng dân sự còn phải có các quy định về quyền được xét xử công bằng, về địa vị pháp lý như nhau trước Tòa án, về cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích ngang nhau, quyền có cơ hội ngang nhau trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ là nguyên tắc có giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội, không đương sự nào xâm phạm quyền của bên đương sự nào.

3.3. Bên cạnh các quy định ghi nhận quyền bình đẳng của đương sự trước Tòa án, pháp luật tố tụng dân sự phải quy định cụ thể, phù hợp trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát và các chủ thể có liên quan trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự.

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự (Điều 70); quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác (Điều 71, Điều 72, Điều 73) và vấn đề kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Điều 74). Theo đó, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tố tụng dân sự là bình đẳng như nhau, không có sự phân biệt về giới. Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn tố tụng tại Tòa án cho thấy vẫn còn tồn tại tình trạng Tòa án chưa thực sự tôn trọng, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, áp đặt ý chí chủ quan, thậm chí có trường hợp vi phạm các quyền tố tụng của đương sự là phụ nữ, đồng thời từ thực tế cho thấy, phụ nữ thường yếu thế hơn nam giới, khi tham gia vào hoạt động tố tụng dân sự có thể bị đối xử bất bình đẳng do áp lực vũ lực từ nam giới.

Việc bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự trước tiên được thể hiện trên phương diện được pháp luật ghi nhận và đương sự có khả năng tự bảo vệ hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bảo vệ; quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự được thực hiện bằng thực tế từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự như Tòa án, Viện kiểm sát. Ngoài ra, vai trò của các tổ chức xã hội cũng giữ vị trí vô cùng quan trọng.

Ở Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật nói chung hay quyền bình đẳng giữa các đương sự trong tố tụng dân sự nói riêng vừa là một nguyên tắc của luật tố tụng dân sự, vừa là một quyền tố tụng của đương sự được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự. Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước đây về quyền bình đẳng giữa các đương sự trong tố tụng dân sự, cụ thể hóa nguyên tắc bình đẳng trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn áp dụng, tạo nên khởi sắc mới trong việc công nhận và bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự.

3.4. Pháp luật tố tụng dân sự cần có quy định cụ thể, phù hợp trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát và các chủ thể có liên quan. Tòa án có vai trò quyết định trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự, vì vậy, luật hóa nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự sẽ là một phương thức nhằm buộc Tòa án phải nâng cao ý thức của mình trong việc tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng, trong việc đối xử với đương sự trong tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát và các chủ thể liên quan cũng cần được pháp luật tố tụng quy định cụ thể để hỗ trợ, cùng với các phương thức khác bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự. Nếu không có vai trò giám sát của Viện kiểm sát, đương sự cũng như Tòa án sẽ không bị “áp lực” về việc thực hiện và bảo đảm việc thực hiện quyền bình đẳng của đương sự, từ đó, dễ dẫn đến việc đương sự cũng như Tòa án có thể không nghiêm túc thực hiện đúng quyền, trách nhiệm của mình.

ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang
Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Nhà pháp luật Việt - Pháp, Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp - Việt, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2009, tr. 397.

[2]. Đào Duy Anh, Hán Việt Từ điển, Nxb. Trường Thi Sài Gòn, 1957, tr. 66.

[3]. Nguyễn Thị Thu Hà, “Quyền được xét xử công bằng trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, số 01/2017, tr. 41.

[4]. Đào Trí Úc, Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự theo tinh thần đổi mới của Hiến pháp 2013 trong cuốn “Thực hiện quyền hiến định trong Hiến pháp 2013”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr. 147 - 148.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: