Thứ ba 12/05/2026 19:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các tội này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, một số khó khăn, vướng mắc và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các tội này.

Abstract: The article analyzes the provisions of the 2015 Penal Code on crimes of producing, storing, transporting and trading banned goods, some difficulties and problems and proposes some recommendations to improve the provisions of criminal law for these crimes.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190) và Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191)

1.1. Dấu hiệu pháp lý của hai tội danh này

Một là, về khách thể của tội phạm:

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) đặt tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm tại “Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” cho thấy khách thể của tội phạm này là quan hệ xã hội bảo đảm cho sự hoạt động bình thường của nền kinh tế quốc dân được pháp luật bảo vệ.

Hành vi phạm tội của tội tàng trữ, sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là hành vi xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại hàng hóa Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh, hay còn gọi là “hàng cấm”. Các hàng hóa này không được Nhà nước cho phép lưu thông trên thị trường, không cho phép các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tàng trữ, sản xuất, kinh doanh. Bao gồm: Thuốc bảo vệ thực vật cấm hoặc chưa được phép sử dụng tại Việt Nam, thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu, các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ, nhân cách, thực vật, động vật hoang dã (bao gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến) thuộc danh mục điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định và các loại thực vật, động vật quý hiếm thuộc danh mục cấm khai thác và sử dụng, thủy sản cấm khai thác, thủy sản có dư lượng chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép, thủy sản có độc tố tự nhiên gây nguy hiểm đến tính mạng con người, phân bón không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam, khoáng sản đặc biệt, độc hại và đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, còn một số loại hàng cấm thuộc danh mục Nhà nước cấm sản xuất, kinh doanh và lưu thông là đối tượng tác động tại Điều 190 và 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 như: Các loại thuốc chữa bệnh cho người, các loại vắc xin, sinh phẩm y tế, mỹ phẩm, hóa chất và chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong lĩnh vực gia dụng và y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam; các loại trang thiết bị y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam; phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ, thực phẩm có gen đã bị biến đổi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; sản phẩm, vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amphibole.

Tính chất và đặc điểm của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nói riêng luôn bị chi phối bởi những chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước, có hành vi trước là tội phạm nhưng sau không còn là tội phạm nữa. Vì vậy, để xác định đối tượng tác động của tội này phải căn cứ vào các văn bản của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý kinh tế mới xác định được. Số lượng hàng cấm hoặc lợi nhuận thu được từ việc lưu thông hàng cấm là một căn cứ quan trọng trong việc xác định có cấu thành tội phạm hay không và cân nhắc quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

Hai là, về mặt khách quan của tội phạm:

- Hành vi khách quan của tội phạm:

+ Về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm:

Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định hai loại hành vi:

(i) Hành vi sản xuất hàng cấm: Là hành vi làm ra hàng cấm, có thể là chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng cấm. Người phạm tội có thể tham gia vào toàn bộ quá trình làm ra hàng cấm hoặc chỉ một công đoạn của quá trình làm ra hàng cấm.

(ii) Hành vi buôn bán hàng cấm: Là hành vi mua đi bán lại hàng cấm dưới bất kỳ hình thức nào nhằm thu lợi bất chính như mua bán theo nghĩa thông thường, trao đổi, thanh toán bằng hàng cấm. Hành vi này có thể là chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc là hoạt động khác đưa hàng cấm vào lưu thông.

+ Về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:

Hành vi khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được mô tả tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm hai dạng hành vi:

(i) Tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ hàng cấm ở bất kỳ chỗ nào một cách trái phép, có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, trong hành lý hoặc giấu ở bất kỳ một vị trí nào khác mà người tàng trữ đã chọn, không nhằm mục đích mua bán, sản xuất hoặc vận chuyển hàng cấm từ nơi này đến nơi khác. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

(ii) Vận chuyển hàng cấm là hành vi dịch chuyển hàng cấm từ nơi này đến nơi khác một cách trái phép. Hình thức vận chuyển có thể là trực tiếp mang hoặc gửi hàng cấm từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng bất cứ đường nào (đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, đường bưu điện) bằng bất kỳ phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng đều không nhằm mục đích buôn bán, tàng trữ.

Các hành vi này bị coi là tội phạm khi hàng cấm được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ hoặc dưới mức quy định tại các điểm trên nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 88, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Các nhà lập pháp định lượng hàng cấm có số lượng, giá trị hoặc thu lợi bất chính cụ thể để xây dựng cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 190, Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Hậu quả của tội phạm:

Luật hình sự không quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm không có nghĩa là không có hậu quả xảy ra. Thực tế cho thấy, hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất trong nước, đồng thời gây ra những tác hại khó lường, ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe của con người, đến trật tự quản lý kinh tế và trị an xã hội. Hậu quả tuy không có ý nghĩa quyết định trong việc định tội song việc xác định hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xem xét trách nhiệm hình sự và cân nhắc quyết định hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội tương ứng với mức độ hậu quả mà hành vi của họ gây nên. Những dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như thời gian, địa điểm, phương pháp, công cụ, thủ đoạn phạm tội... không đóng vai trò định tội mà chỉ có vai trò là tình tiết định khung hay tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ba là, về mặt chủ quan của tội phạm:

- Lỗi của tội phạm: Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý:

Về mặt lý trí của chủ thể nhận thức hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển mà vẫn thực hiện các hành vi này đối với hàng cấm đủ định lượng trong cấu thành tội phạm hoặc nhân thân đã bị xử phạt về các hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Với nhận thức đó, họ cũng sẽ thấy được tính nguy hiểm của các hành vi trên. Trong trường hợp, chủ thể chủ động sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm để thu lợi nhuận cao, hoặc đã bị xử lý về các hành vi mô tả trong cấu thành tội phạm của điều luật mà tiếp tục vi phạm càng thể hiện rõ sự nhận thức về mặt pháp lý này của người phạm tội và trường hợp này mức độ lỗi của người phạm tội sẽ xem xét nặng hơn.

- Động cơ và mục đích phạm tội: Hai tội danh này chủ yếu vì tư lợi, vì lợi nhuận, thu nhập cao, thu lợi bất chính từ các hoạt động sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm đó.

Bốn là, về chủ thể của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.

Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 5 Điều 190 và khoản 5 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

1.2. So sánh quy định hiện hành về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm với quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015

Những thay đổi, bổ sung một cách căn bản, toàn diện, triệt để trong quy định tại Điều 190 và Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm so với Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999 thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới. Cụ thể như sau:

Một là, việc tách Điều 155 thành 02 tội danh độc lập tại Điều 190 và Điều 191 đã phân biệt rõ ràng mức độ, tính chất khác nhau của hành vi phạm tội cũng như sự nguy hiểm cho xã hội riêng biệt của chúng để tránh việc xét xử không công bằng đối với những hành vi đó.

Hai là, quy định cụ thể hơn so với trước đây tại Điều 155 chỉ nêu chung chung “Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định...”[1] về loại hàng cấm, cụ thể hóa một số tình tiết định tính, định lượng làm căn cứ định tội và định khung hình phạt như “số lượng lớn, số lượng đặc biệt lớn, thu lợi bất chính lớn, thu lợi bất chính đặc biệt lớn”.

Trong quy định của Điều 190 và Điều 191, nhà làm luật đã liệt kê các loại hàng cấm như: Thuốc bảo vệ thực vật, thuốc lá điếu nhập lậu, pháo nổ và hàng hóa khác… và nêu rõ về mức giá hàng phạm pháp có giá trị và mức thu lợi bất chính tại các khoản, các điều[2] đã đảm bảo cho việc xét xử một cách chính xác và công bằng nhất đối với tội phạm này.

Ba là, thể chế hóa quan điểm mở rộng áp dụng hình phạt tiền[3], Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với 02 tội danh Điều 190 và Điều 191. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng tăng chế tài xử lý tội phạm đáng kể so với luật cũ, nếu như trước đây mức tối thiểu phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng thì hiện nay mức tối thiểu phạt tiền nâng lên là 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối tội sản xuất, buôn bán hàng cấm; và tối thiểu phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.

Bốn là, lần đầu quy định xử lý hình sự hai tội danh này đối với pháp nhân thương mại tại khoản 5 của Điều 190 và Điều 191 để đáp ứng yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh, xử lý các hành vi sản xuất, buôn bán, tàng trữ và vận chuyển hàng cấm trong tình hình mới.

2. Một số vấn đề vướng mắc và hướng hoàn thiện

So với Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm thì Điều 190 và Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 được cấu tạo khoa học hơn, có nhiều sửa đổi, bổ sung hợp lý, khắc phục được một số vướng mắc trong luật cũ. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mới tiến bộ trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện để đạt hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm sau:

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định cụ thể hóa danh mục hàng cấm.

Mặc dù, Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã liệt kê một số loại hàng cấm như thuốc bảo vệ thực vật, thuốc lá điếu nhập lậu và pháo nổ, tuy nhiên còn một số hàng cấm khác quy định tại các điểm d, đ không được quy định cụ thể trong Điều luật mà chỉ quy định chung chung với phạm vi điều chỉnh quá rộng “hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng” hoặc “hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam”. Như vậy, để xác định một loại hàng hóa nào đó thuộc “hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng” và “hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam” thì cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào rất nhiều các nghị định của Chính phủ, quyết định của bộ chủ quản ban hành. Trong khi đó, các văn bản này phải thường sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với sự phát triển của nền kinh tế trong từng giai đoạn khác nhau của quá trình hội nhập kinh tế và khu vực. Vì vậy, có thể loại hàng hóa này ở thời điểm này sẽ bị cấm kinh doanh nhưng ở thời điểm khác có thể được phép kinh doanh và ngược lại. Từ đó, dẫn đến việc áp dụng sẽ gặp khó khăn và rất dễ nhầm lẫn vì xác định đối tượng còn lệ thuộc vào các văn bản dưới luật thường xuyên thay đổi.

Do đó, cần bổ sung quy định khái niệm về hàng cấm và các vấn đề khác có liên quan vào các khoản tương ứng tại các thông tư, nghị định. Bởi vì, nếu không xác định được thế nào là hàng cấm, thì sẽ không thể nhận thức đúng việc sản xuất, buôn bán tại Điều 190 và tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 đáp ứng yêu cầu về tính khái quát cao, dễ hiểu để các cơ quan tư pháp dễ vận dụng trong áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, trên cơ sở những Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh của Chính phủ và các bộ chuyên ngành ban hành để xem xét thêm những loại hàng hóa hiện nay và trong tương lai sẽ luôn cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển để quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự nhằm bảo đảm tính công bằng, tránh sự phụ thuộc vào các văn bản dưới luật, trên cơ sở phân biệt rõ ràng đặc tính, công dụng, tính nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ như: Nghiêm cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển hàng hóa là văn hóa phản động, đồi trụy, phế liệu gây ô nhiễm môi trường, khoáng sản đặc biệt độc hại...

Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn quy định tội phạm ghép đối với hành vi sản xuất, buôn bán (Điều 190) và hành vi tàng trữ, vận chuyển (Điều 191) với định lượng hàng hóa, giá trị tài sản, số tiền thu lợi bất chính trong cấu thành cơ bản, định khung tăng nặng và hình phạt như nhau, không có sự phân biệt là chưa thực sự phù hợp với tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng hành vi khác nhau.

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999 trước đây và hiện nay là Điều 190 và Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi khách quan của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm rất đa dạng. Thực tế cho thấy, không phải trường hợp nào người phạm tội cũng thực hiện đầy đủ các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Vì vậy, khó khăn thường gặp là định tội danh theo tên điều luật hay các hành vi phạm tội xảy ra, bên cạnh đó, hành vi sản xuất hàng cấm có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hành vi buôn bán hàng cấm nên cần phải có chế tài xử lý nặng hơn so với chế tài xử lý hành vi buôn bán hàng cấm. Tương tự đối với hành vi tàng trữ và vận chuyển hàng cấm.

Cần nghiên cứu tách tội buôn bán hàng cấm thành một tội độc lập với tội sản xuất hàng cấm, tách tội tàng trữ hàng cấm thành một tội độc lập với tội vận chuyển hàng cấm để có sự phân biệt tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội và có các chế tài xử lý phù hợp với các hành vi này.

Thứ ba, hệ thống văn bản pháp luật còn chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Thực tế hiện nay cho thấy có nhiều văn bản quản lý đối với loại hàng đó đã không còn hiệu lực hoặc còn rất nhiều văn bản còn hiệu lực hiện hành, hướng dẫn của nhiều đơn vị, cơ quan, ban, ngành, địa phương trên nhiều lĩnh vực chồng chéo, mâu thuẫn nhau, nên đã xảy ra những trường hợp không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp hàng hóa chưa có quy định là hàng cấm hay không. Bên cạnh đó, thực tế thời gian qua việc hướng dẫn xét xử các hành vi phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm chủ yếu bằng văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao mà không phải là Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối tối cao. Trong khi đó, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Do đó, cần thiết nghiên cứu ban hành quy định hướng dẫn Bộ luật Hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm để bảo đảm tính thống nhất áp dụng pháp luật trong xét xử các hành vi phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong thời gian tới.

Thứ tư, quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại còn chưa chặt chẽ, thống nhất, dẫn đến việc áp dụng trong đấu tranh, xử lý đối với loại tội phạm này còn hạn chế.

Việc quy định xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là vấn đề mới trong lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, vì vậy, việc hướng dẫn vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật trong xét xử các hành vi phạm tội của pháp nhân, đặc biệt là hướng dẫn khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 về mối quan hệ giữa trách nhiệm hình sự của cá nhân và trách nhiệm hình sự của pháp nhân[4]. Trong khi đó, cần lưu ý hình phạt chính đối với cá nhân chỉ có thể là hình phạt tiền hoặc tù có thời hạn, còn đối với pháp nhân thì hình phạt chính chỉ có thể là hình phạt tiền thì mối quan hệ này phải được giải quyết như thế nào khi quyết định hình phạt. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về xử lý trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại để cơ quan chức năng có cơ sở xử lý hành vi phạm tội.

Thượng sỹ, ThS. Ngô Thị Thùy Trang
Khoa Luật, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

[2]. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã khắc phục những thiếu sót đối với quy định “thu lợi bất chính lớn” của Điều 155 Bộ luật Hình sự 1999 bằng việc cụ thể số tiền thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng từ hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng và thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng từ hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam.

[3]. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó định hướng “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng hình phạt tiền,… đối với một số loại tội phạm”.

[4]. Khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:“Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: