Thứ sáu 23/10/2026 02:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thời gian đóng bảo hiểm dài. Do đó, những thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng như khả năng tài chính, thay đổi về quyền lợi có thể được bảo hiểm… làm phát sinh yêu cầu chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho cho người khác. Đây là quyền của người mua bảo hiểm được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019) (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm). Quyền tự do chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người khác nhằm đảm bảo quyền lợi của người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng bảo hiểm. Do đó, cần được pháp luật kinh doanh bảo hiểm ghi nhận và bảo đảm thực thi hiệu quả trên thực tế.

1. Mục đích chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Như trên đã đề cập, hợp đồng bảo hiểm có thời gian đóng bảo hiểm rất dài. Do đó, trong quá trình thực hiện hợp đồng, có những thay đổi làm cho người mua bảo hiểm không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng nên phải chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho ngưới khác. Một số trường hợp phải chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ cụ thể là:
Thứ nhất, chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm khi người mua không còn khả năng tiếp tục đóng phí bảo hiểm. Do khả năng dự báo về năng lực tài chính kém hoặc sự giảm sút đột ngột nguồn thu nhập làm cho người mua bảo hiểm không còn khả năng tài chính để tiếp tục đóng phí. Trong trường hợp này, người mua bảo hiểm sẽ chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người khác có khả năng tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
Thứ hai, chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm khi người mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm. Căn cứ khoản 1 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực khi người mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm. Do đó, để hợp đồng tiếp tục có hiệu lực, người mua bảo hiểm phải chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm có người có quyền lợi có thể được bảo hiểm tiếp theo. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho người khác là điều kiện đề hợp đồng tiếp tục có hiệu lực.
Thứ ba, chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm khi người mua bảo hiểm không còn tồn tại hoặc không còn năng lực hành vi để tiếp tục thực hiện hợp đồng. Theo đó, khi người mua bào hiểm là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì họ không thể thực hiện trách nhiệm đóng phí bảo hiểm và các nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm. Do đó, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng là tất yếu để đảm bảo hợp đồng đồng bảo hiểm tiếp tục được thực hiện.
Thứ tư, chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhằm mục tiêu thu hồi khoản vốn đã đầu tư vào sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của người mua bảo hiểm. Do thời gian đóng phí bảo hiểm dài, người mua bảo hiểm không muốn tiếp tục đầu tư và muốn thu hồi khoản phí đã đóng. Nếu người mua bảo hiểm tiếp tục đóng bảo hiểm thì khả năng không nhận được giá trị hoàn lại (nếu thời gian đóng bảo hiểm dưới 02 năm) hoặc nhận được giá trị hoàn lại thấp hơn khoản phí đã đóng. Nhằm bảo vệ quyền lợi của mình, người mua chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm này cho người nhận chuyển nhượng đề thu hồi khoản phí đã đóng và một khoản lãi (nếu có).
Như vậy, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nhưng đều có mục đích chung là đảm bảo cho hợp đồng tiếp tục có hiệu lực. Đây là mục đích chính đáng của người mua bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình cũng như của người thụ hưởng hoặc/và người được bảo hiểm. Ngược lại, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm. Do đó, pháp luật kinh doanh bảo hiểm cần tạo điều kiện tốt nhất cho việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm diễn ra nhanh chóng, thuận lợi trên thực tế.
2. Một số bất cập phát sinh liên quan đến chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm
Dưới góc độ luật thực định, điểm đ khoản 1 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã ghi nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là quyền của bên mua bảo hiểm. Đồng thời, Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm cũng quy định về điều kiện chuyển nhượng và hiệu lực pháp lý của việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, đó là quy định áp dụng chung cho tất cả các hợp đồng bảo hiểm, mà chưa có quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm riêng cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Trong khi đó, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có những đặc thù so với các sản phẩm bảo hiểm khác, vì vậy thực tế áp dụng các quy định của luật thực định về vấn đề này còn gặp khó khăn.
Thứ nhất, về quyền chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Mặc dù, điểm đ khoản 1 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm ghi nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là quyền của bên mua bảo hiểm nhưng khoản 1 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm lại quy định bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Căn cứ quy định này, có thể hiểu việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm không phải là quyền dân sự đương nhiên của người mua bảo hiểm mà chỉ là quyền “có thể” phát sinh nếu nội dung hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thỏa thuận hoặc quy tắc bảo hiểm có quy định. Theo đó, nếu các bên không có thỏa thuận và quy tắc sản phẩm bảo hiểm không quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm thì người mua bảo hiểm không có quyền chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Quy định này có thể phù hợp trong bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Bởi vì, trong các loại bảo hiểm này người mua bảo hiểm đồng thời là được bảo hiểm và người thụ hưởng nên việc chuyển nhượng ít khi được thực hiện. Trong khi đó, trong bảo hiểm nhân thọ, người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thụ hưởng có thể là khác nhau nên việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm diễn ra mang tính phổ biến hơn. Tác giả cho rằng, cần phải ghi nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là quyền của người mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhằm bảo đảm sự tự do trong quyết định chuyển nhượng hay không chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Thực tế, có rất nhiều sản phảm bảo hiểm, trong bộ quy tắc bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm không có thỏa thuận về quyền chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm[1] thì bên mua không thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, nhất là khi bên mua mất khả năng thanh toán phí bảo hiểm, chết, hoặc mất năng lực hành vi. Khi đó, hợp đồng bảo hiểm sẽ tự động chấm dứt theo điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm. Điều này, không những ảnh hưởng đến lợi ích của người được bảo hiểm (không còn được bảo hiểm), người thụ hưởng (không được chi trả bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra) mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp bảo hiểm (do không thu được phí bảo hiểm).
Thứ hai, về thủ tục chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Căn cứ theo khoản 2 điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế. Theo đó, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ được coi là hợp lệ khi (i) người mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản và (ii) doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận. Quy định này không xác định rõ việc trả lời văn bản chấp thuận là quyền hay nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm. Căn cứ theo luật thực định thì có thể hiểu việc trả lời chấp thuận là quyền của doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối và thủ tục chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm không có giá trị pháp lý.
Đồng thời, luật thực định cũng không xác định trong thời hạn bao lâu thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả lời văn bản chấp thuận. Khảo sát các quy tắc bảo hiểm của một số doanh nghiệp bảo hiểm, tác giả nhân thấy không có quy định về thời hạn doanh nghiệp bảo hiểm phải trả lời chấp thuận việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm[2]. Như vậy, nếu doanh nghiệp bảo hiểm cố tình trì hoãn việc trả lời chấp thuận thì người mua bảo hiểm không có căn cứ để chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người khác.
Một vấn đề pháp lý khác liên quan đến thủ tục chuyển nhượng là nội dung của thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng. Bởi vì, chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là một giao dịch được xác lập giữa người mua bảo hiểm với người nhận chuyển nhượng, nó được thể hiện bằng một hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, khi thông báo về việc chuyển nhượng là một hành vi pháp lý đơn phương của người mua bảo hiểm gửi đến doanh nghiệp bảo hiểm là không đúng bản chất. Tác giả cho rằng, cả người mua bảo hiểm và người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm đều phải cùng gửi thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng kèm với hợp đồng chuyển nhượng. Thực tiễn, nếu người mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng nhưng chưa được sự đồng ý của người nhận chuyển nhượng thì có là doanh nghiệp bảo hiểm không có căn cứ ràng buộc được nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm.
Thứ ba, về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng đối với hợp đồng bảo hiểm chưa được quy định cụ thể. Khoản 2 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm chỉ xác định “việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực…” được hiểu là khi đáp ứng được điều kiện “đã thông báo” và được “chấp thuận” thì việc chuyển nhượng đã được doanh nghiệp bảo hiểm thừa nhận. Tuy nhiên, không thể đồng nhất thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm đối với thời điểm có hiệu lực của việc chuyển nhượng. Ví dụ: Người mua bảo hiểm chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người nhận chuyển nhượng vào tháng 01/2020. Theo đó, các bên thỏa thuận người nhận chuyển nhượng có trách nhiệm đóng phí từ tháng 01/2020. Tháng 3/2020, người mua bảo hiểm mới gửi thông báo về việc chuyển nhượng. Tháng 4/2020, doanh nghiệp bảo hiểm mới ban hành văn bản chấp thuận. Sau đó, nhận thấy việc nhận chuyển nhượng không có lợi, người nhận chuyển nhượng không đóng phí bảo hiểm. Vậy người mua bảo hiểm ban đầu hay người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm sẽ được nhận giá trị hoàn lại từ doanh nghiệp bảo hiểm theo khoản 3 Điều 35 Luật Kinh doanh bảo hiểm?
Thứ tư, điều kiện chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Pháp luật thực định không quy định về các điều kiện chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, điều này không gián tiếp khẳng định rằng người mua bảo hiểm tự do chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm do bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có nhu cầu nhận chuyển nhượng. Trên thực tế, rất nhiều điều kiện chuyển nhượng cần đặt ra như: Người nhận chuyển nhượng phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm hay không? Việc chuyển nhượng có cần được sự đồng ý của người được bảo hiểm hay không? Nghĩa vụ cung cấp thông tin về người nhận chuyển nhượng được thực hiện như thế nào?... Những câu hỏi pháp lý quan trọng này chưa được pháp luật thực định giải quyết, điều đó làm gia tăng rủi ro cho người nhận chuyển nhượng.
Thứ năm, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc chấp thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm của người mua bảo hiểm. Pháp luật hiện hành chưa quy định vấn để này. Theo đó, có thể hiểu người nhận chuyển nhượng mặc nhiên kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ từ hợp đồng bảo hiểm và mọi rủi ro từ việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm đều thuộc về người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Giả định, trong quá trình thức hiện hợp đồng, người mua bảo hiểm có vi phạm dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ hoặc bị vô hiệu nhưng người mua bảo hiểm không biết hoặc không thể biết thì việc buộc người nhận chuyển nhượng phải gánh chịu rủi ro là không hợp lý[3]. Tác giả cho rằng, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ đơn thuần là chấp thuận hay không chấp thuận việc chuyển nhượng mà còn phải đảm bảo quyền lợi của người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là bên “ngay tình”. Trường hợp sau khi bên mua bảo hiểm đã chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phát hiện và có bằng chứng chứng minh tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm đã cung cấp thông tin sai sự thật hoặc che giấu thông tin mà nếu biết được thông tin đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ từ chối chấp nhận bảo hiểm, trì hoãn chấp nhận bảo hiểm hoặc chấp nhận bảo hiểm với các điều kiện kèm theo, thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng, không phải giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với rủi ro của đối tượng bảo hiểm và có quyền thu phí đến thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận việc chuyển nhượng hợp đồng, đồng thời hoàn trả cho bên nhận chuyển nhượng hợp đồng số phí bảo hiểm mà họ đã đóng (trừ trường hợp bên nhận chuyển nhượng biết được hành vi cung cấp thông tin sai sự thật hoặc che giấu thông tin sai sự thật đó của bên mua bảo hiểm)[4].
Ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm khi chấp thuận việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm có giá trị pháp lý bảo vệ quyền lợi của người nhận chuyển nhượng và người thụ hưởng. Trên thực tế, các doanh nghiệp bảo hiểm đều thoả thuận với bên mua bảo hiểm về việc không chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của thoả thuận chuyển nhượng, từ đó dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận việc chuyển nhượng để tiếp tục thu phí, đến khi sự kiện bảo hiểm xảy ra lại từ chối trả tiền bảo hiểm mà chỉ hoàn lại phí bảo hiểm vì hợp đồng không còn hiệu lực[5].
Thứ sáu, xác định hệ quả pháp lý của việc không thông báo về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm hoặc có thông báo về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhưng không được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận. Pháp hiện hành chưa quy định về vấn đề này. Vậy nếu người mua bảo hiểm và người nhận chuyển nhượng đã xác lập giao dịch chuyển nhượng nhưng chưa thông báo hoặc đã thông báo nhưng chưa được chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm mà sự kiện bảo hiểm xảy ra thì hợp đồng bảo hiểm được giao kết có hiệu lực pháp lý không?
Những vướng mắc nêu trên đã cản trở hoạt động chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trên thực tế, chưa thực sự bảo đảm quyền tự do ý chí của người mua bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm. Dưới góc độ kinh tế, việc hạn chế chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm làm giảm tính thanh khoản trong hoạt động đầu tư tài chính của bảo hiểm nhân thọ.
3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là nhu cầu tất yếu của người mua bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Do đó, pháp luật cần xây dựng theo hướng đảm bảo quyền được chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cụ thể là:
Thứ nhất, pháp luật thực định cần ghi nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là quyền đương nhiên của người mua bảo hiểm mà không cần sự chấp thuận của doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, người mua bảo hiểm được quyền chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho người khác nếu đáp ứng được các điều kiện chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm phải công nhận sự chuyển nhượng đó.
Thứ hai, cần thay thế thủ tục “chấp thuận” của doanh nghiệp bảo hiểm bằng thủ tục “xác nhận” trên thông báo chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm được xác lập một cách độc lập giữa người mua bảo hiểm và người nhận chuyển nhượng. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ xác nhận thông tin chuyển nhượng đã được thông báo hợp lệ. Đồng thời, hiệu lực pháp lý của việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm được xác lập kể từ ngày doanh nghiệp bảo hiểm xác nhận trên thông báo của người nhận chuyển nhượng.
Thứ ba, pháp luật thực định cần quy dịnh rõ thời hạn tối đa mà doanh nghiệp bảo hiểm phải xác nhận vào thông báo về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Bởi vì, dưới góc độ pháp lý, việc xác nhận chỉ đơn thuần là sự thừa nhận đã tiếp nhận thông tin chuyển nhượng mà không cần phải thẩm định, phân tích, đánh giá. Do đó, thời hạn xác nhận càng ngắn càng có lợi cho người nhận chuyển nhượng mà không gây bất lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Thứ tư, với bản chất là hoạt động đầu tư tài chính, pháp luật cần quy định nguyên tắc tự do thỏa thuận việc kế thừa quyền và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, trong đó gồm phạm vi kế thừa, thời điểm kế thừa… Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ xác nhận người nhận chuyển nhượng với tư cách là chủ thể mua bảo hiểm từ thời điểm thông báo về việc chuyển nhượng được xác nhận mà không quan tâm đến các quyền và nghĩa vụ phát sinh trước thời điểm xác nhận được người mua bảo hiểm ban đầu và người nhận chuyển nhượng được thỏa thuận như thế nào. Cách tiếp cận này làm giảm rủi ro cho người nhận chuyển nhượng, tạo điều kiện cho người nhận chuyển nhượng ràng buộc và xử lý hậu quả đối với người mua ban đầu khi có tranh chấp xảy ra. Kiến nghị này ngược với quy định hiện nay là người nhận chuyển nhượng kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ phát sinh tư hợp đồng bảo hiểm nhận thọ tính từ này thông báo về việc chuyển nhượng được chấp thuận.
Thứ năm, pháp luật cần quy định điều kiện chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Theo quan điểm của tác giả, khi chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, các bên phải tuân thủ các điều kiện sau:
- Người nhận chuyển nhượng phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm;
- Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm phải có sự đồng ý của người được bảo hiểm trong trường hợp mua bảo hiểm tử kỳ. Bởi vì, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Kinh doanh bảo hiểm thì chỉ khi có sự thay đổi người thụ hưởng thì mới phải được sự đồng ý của người được bảo hiểm. Trong khi đó, việc thay đổi người mua bảo hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người được bảo hiểm.
- Người nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ được thay đổi người thụ hưởng khi được người được bảo hiểm đồng ý trong trường hợp mua bảo hiểm tử kỳ. Thực tế, khi thay đổi người mua bảo hiểm thường đi kèm với sự thay đổi ngườ thụ hưởng do có thay đối mối quan hệ về nghĩa vụ tài chính. Trong khi đó, khoản 1 Điều 38 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định “mọi trường hợp thay đổi người thụ hưởng phải có sự đồng ý bằng văn bản của bên mua bảo hiểm” là chưa thể hiện được hết bản chất và ý nghĩa của sản phẩm bảo hiểm tử kỳ.
Thứ sáu, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm ngoài thủ tục xác nhận vào thông báo chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm thì còn phải có trách nhiệm cung cấp thông tin của hợp đồng bảo bảo đã giao kết khi người nhận chuyển nhượng có yêu cầu. Quy định này nhằm đảm bảo cho bên nhận chuyển nhượng tiếp nhận thông tin một cách khách quan từ bên thứ ba, hạn chế tình trạng che dấu thông tin của người mua bảo hiểm ban đầu.
Thứ bảy, cần quy định nội dung chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bằng một quy định riêng để phù hợp với những đặc trưng riêng của bảo hiểm nhân thọ vừa là hoạt động chuyển giao rủi ro, vừa là hoạt động đầu tư tài chính. Việc quy định chung như pháp luật hiện hành chưa bảo đảm được bản chất của đầu tư tài chính trong bảo hiểm nhân thọ, coi việc chuyển nhượng hợp đồng chì đơn thuần là thay thế nghĩa vụ đóng phí của người mua bảo hiểm là chưa thỏa đáng.

ThS. Trần Minh Hiệp
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

[1] Xem Quy tắc điều khoản hợp đồng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đơn vị đóng phí định kỳ, Ban hành kèm theo Công văn số 5485/BTC-BH ngày 13/5/2008 của Bộ Tài Chính, http://www.manulife.com.vn/files/news/271/61b25527-feb4-424b-9ce6-3c39094f0750.pdf, truy cập ngày 6/3/2020.

[2] Xem điểm e khoản 12.1 Phần II Quy tắc và điều khoản sản phẩm bảo hiểm tử kỳ với quyền lợi bảo hiểm tai nạn cá nhân, được Bộ Tài chính phê chuẩn theo Công văn số 15454/BTC-QLBH ngày 27/10/2014 của Bộ Tài chính, sửa đổi theo Công văn số 1151/BTC-QLBH ngày 26/01/2015 và Công văn số 11473 /BTC-QLBH ngày 20/8/2015), https://www.prudential.com.vn/export/sites/prudential-vn/.content/Phu-Tam-An-Dieu-Kien-Dieu-Khoan.pdf, truy cập ngày 6/3/2020.

[3] Xem thêm Phí Thị Quỳnh Nga, “Bất cập trong quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số chuyên đề Hiến kế lập pháp, Số 21 (94)/2007, tr. 45.

[4] Xem thêm Phí Thị Quỳnh Nga, “Bất cập trong quy định về chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số chuyên đề Hiến kế lập pháp, Số 21 (94)/2007, tr. 62.

[5] Trần Vũ Hải, “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”, Tạp chí Luật học, 2006, tr. 5.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).

Theo dõi chúng tôi trên: