Thứ ba 10/02/2026 19:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân

Tóm tắt: Dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân là một loại dịch vụ công mở rộng được Nhà nước cho phép hoạt động nhằm cung ứng cho người dân các dịch vụ khám chữa bệnh có chất lượng. Với đặc thù riêng biệt của loại hình dịch vụ này gắn liền với an sinh xã hội, liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ cho người dân và khắc phục các bất cập của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện nay.

Abstract: Healthcare services of private medical establishments is an expansion of public services by the State to operate in order to provide services to people with quality health care. With particular features of this type of service due to association with social security, direct relation to the health and life of people, there are requirements for completing legal regulations for medical examination and treatment service of private health establishments in order to ensure fairness in the distribution of services to the people and to overcome the shortcomings of health care services at present.

Dịch vụ y tế có chất lượng cao không chỉ là vấn đề quan trọng đối với mỗi quốc gia, mà nó còn mang tính toàn cầu bởi việc tạo ra những liên kết không biên giới trong chăm sóc sức khỏe cho con người. Đối với Việt Nam, đây cũng chính là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo nguồn nhân lực y tế có chất lượng cao, tranh thủ nguồn đầu tư y tế từ nhiều phía, phục vụ nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe của người dân. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) ở các cơ sở y tế tư nhân (YTTN) sẽ phát sinh nhu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, pháp luật với tư cách là thành tố của kiến trúc thượng tầng, là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước, Nhà nước phải có trách nhiệm điều chỉnh sao cho các quan hệ xã hội vận động và phát triển phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội sinh ra nó, đòi hỏi phải được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật phù hợp, với mục đích đảm bảo sự quản lý nhà nước bằng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong cung ứng dịch vụ KCB tại các cơ sở YTTN.

Bằng các quy định của pháp luật, Nhà nước đã có những cơ chế kiểm soát hoạt động cung ứng dịch vụ KCB trong các cơ sở YTTN, xác định vai trò chủ đạo của y tế công lập trong hệ thống y tế công cộng, đảm bảo việc phát triển dịch vụ KCB tại các cơ sở YTTN theo hướng công bằng, hiệu quả và bền vững, đáp ứng hai tiêu chí: (i) Phát huy tiềm năng và trí tuệ, vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp chăm sóc sức khỏe; (ii) Tạo điều kiện để toàn xã hội được thụ hưởng các điều kiện và thành quả của y học ở mức độ cao. Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng điều tiết toàn diện cũng như hiệu quả áp dụng của hệ thống quy phạm pháp luật trong việc điều tiết hành vi cung ứng dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN trong thời gian qua chưa thực sự đáp ứng yêu cầu, chưa phù hợp với bản chất có tính đặc thù của hoạt động cung ứng dịch vụ này. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về hành nghề KCB tư nhân thời gian qua còn lỏng lẻo, khâu thẩm định tiêu chuẩn và điều kiện cấp phép hoạt động và hành nghề cho các cơ sở YTTN chưa thực sự được coi trọng. Thực tế đó dẫn đến hậu quả, người sử dụng dịch vụ/người bệnh không đạt được mục đích được khám và điều trị bệnh cho mình, phải điều trị dài ngày theo phác đồ của bác sĩ thay bằng những phương pháp điều trị dứt điểm hơn, gây tốn kém về chi phí cho người bệnh mà không tương xứng với dịch vụ mà mình được cung ứng... thậm chí, việc hành nghề KCB khi người hành nghề không đủ điều kiện hành nghề hoặc cơ sở hành nghề KCB chưa được cấp giấy phép hành nghề; việc thiếu trách nhiệm, y đức của cơ sở KCB/người hành nghề đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh. Bên cạnh đó, hệ thống y tế tư nhân chưa thực sự được coi là “cánh tay nối dài” của y tế công lập, chưa được đối xử thực sự bình đẳng so với y tế công lập. Với những lý do trên, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN phù hợp với điều kiện của Việt Nam, đảm bảo quyền lợi của người bệnh, đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập về y tế với các nước trong khu vực và trên thế giới thực sự trở nên cấp thiết. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Một là, thể chế hóa quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực khám chữa bệnh

Một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực xã hội được xác định: “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư cho phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ”[1]. Khám chữa bệnh là một lĩnh vực trọng tâm trong chính sách bảo vệ, chăm sóc sức khỏe. Các quy định của pháp luật về khám chữa bệnh phải thể hiện quan điểm này trên hai phương diện: (i) Ưu tiên bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong KCB; (ii) Ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực KCB. Tuy nhiên, trong các quy định của pháp luật về KCB ( bao gồm Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 và các văn bản hướng dẫn) dường như vẫn tập trung quá nhiều các quy định liên quan đến quản lý hành chính, thủ tục hành chính, về các loại giấy phép đối với người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Chương 3, Chương 4 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009) mà chưa quan tâm đầy đủ đến các chính sách đầu tư, khuyến khích cũng như giao quyền tự chủ hơn cho các cơ sở y tế tư nhân để phát triển lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng, các quy định của pháp luật cần cụ thể hóa các ưu đãi về đào tạo nguồn nhân lực, về đất đai, thuế, cơ chế tài chính, thu hút đầu tư vốn của YTTN, về hợp tác quốc tế trong KCB… để chính sách ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực KCB thực sự đi vào cuộc sống.

Hai là, hướng tới mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật khám, chữa bệnh nói chung và nâng cao hiệu quả của pháp luật đối với các hoạt động dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân nói riêng, đảm bảo tính công bằng và cạnh tranh lành mạnh giữa y tế công lập và y tế tư nhân

Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 là văn bản pháp lý cao nhất quy định các tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ cũng như các vấn đề liên quan đến người hành nghề, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người bệnh cũng như công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Đây cũng là văn bản luật đầu tiên hợp nhất các quy định về khám bệnh, chữa bệnh của cơ sở y tế công lập và cơ sở YTTN. Như vậy, pháp luật về KCB cần được hệ thống hóa và sửa đổi các nội dung liên quan đến:

- Xác định rõ các điều kiện về chủ thể tham gia quan hệ KCB của cơ sở YTTN (cá nhân, tổ chức, pháp nhân); về các tiêu chuẩn, điều kiện được tham gia cung ứng dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN (người hành nghề, cơ sở YTTN); mục tiêu thực hiện cung ứng dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN (vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận); về quy chế tổ chức không vì lợi nhuận trong cung ứng dịch vụ KCB; về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ KCB.

- Nhằm đảm bảo tính công bằng và môi trường cạnh tranh bình đẳng không phân biệt đối xử giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ KCB công lập và tư nhân, pháp luật về dịch vụ KCB cần thiết lập những điều kiện cụ thể để các chủ thể y tế công và tư có cơ hội tiếp cận các nguồn lực như đất đai, nguồn lao động, tiếp cận triển khai khoa học công nghệ mới trong lĩnh vực y tế; các nguồn vốn tín dụng ưu đãi; các chính sách thuế; chính sách về khám bảo hiểm; chính sách về chuyển tuyến; chính sách xếp hạng bệnh viện… nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ KCB đạt các chuẩn mực khu vực và thế giới, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh chăm sóc sức khỏe nhân, góp phần ngày càng hoàn thiện hệ thống cung ứng dịch vụ y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.

- Thể chế hóa hoạt động quản lý nhà nước đối với dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN. Pháp luật phải quy định rõ ràng, cụ thể vấn đề phân công và phân cấp quản lý nhà nước về dịch vụ KCB của các cơ sở YTTN, đó là: (i) Nhà nước quản lý các dịch vụ KCB cụ thể nào? Sự tham gia quản lý của Nhà nước ở mức độ nào? Vấn đề xã hội hóa và đối tác công tư trong dịch vụ y tế nói chung và khám chữa bệnh như thế nào?; (ii) Luật hóa xây dựng hệ thống pháp luật về kiện toàn tổ chức đối với các cơ sở YTTN, tổ chức xã hội và các hiệp hội nghề nghiệp trong quản lý công tác hành nghề KCB, có sự phân công rõ ràng giữa nhiệm vụ quản lý chung về KCB của Bộ Y tế và quản lý về chuyên môn, cấp phép hành nghề… của các hiệp hội nghề nghiệp như kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến trên thế giới hiện nay theo hướng Nhà nước từng bước trao quyền rộng rãi hơn cho các tổ chức dân sự đó để quản lý công tác KCB.

- Sau hơn 06 năm triển khai thi hành, một số nội dung của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 không còn phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng mục tiêu Đảng và Nhà nước đề ra, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế về đối tượng hành nghề; quy định về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; các quy định triển khai hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, áp dụng kỹ thuật mới, sai sót chuyên môn, giải quyết tranh chấp trong khám bệnh, chữa bệnh… cần phải có sự sửa đổi, bổ sung.

Ba là, khắc phục những tồn tại, bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm y tế đối với dịch vụ khám, chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay nhằm tiến tới chế độ bảo hiểm toàn dân

Một trong những rào cản làm hạn chế số lượng người bệnh tới KCB tại các cơ sở YTTN là do quy định về KCB bảo hiểm y tế. Theo Luật Bảo hiểm y tế năm 2014, mọi người dân có thẻ bảo hiểm y tế sẽ không bị hạn chế nơi KCB. Như vậy, khi người dân đến KCB tại các cơ sở YTTN cũng sẽ được hưởng bảo hiểm y tế như tại các cơ sở y tế công. Sự đa dạng cơ sở KCB bảo hiểm y tế đã giúp người dân có thêm nhiều sự lựa chọn khi đi khám, chữa bệnh, góp phần giảm tải cho những bệnh viện công lập, tăng sự hài lòng của người bệnh. Đây là quy định khá cởi mở dành cho các cơ sở YTTN. Tuy nhiên, đến nay chưa có nhiều người dân chọn khám chữa bệnh tại khối YTTN vì sự chênh lệch giữa giá dịch vụ thực tiễn theo quy định của bệnh viện tư mà bệnh nhân phải chi trả (ngoài các khoản được bảo hiểm thanh toán) và giá dịch vụ mà hệ thống bệnh viện công lập được Nhà nước cho phép thanh toán. Bên cạnh đó, tình trạng lạm dụng xét nghiệm, lạm dụng các chỉ định kiểm tra hình ảnh, chụp cắt lớp vi tính (CT- Scanner), chụp cộng hưởng từ (MRI) tại các cơ sở YTTN áp dụng khi người bệnh đến KCB tại cơ sở YTTN đang có nguy cơ gây ra hội chứng “người thứ ba trả tiền” - bệnh viện chỉ định để tăng thêm chi phí khám chữa bệnh, người bệnh được hưởng lợi nhưng cơ quan bảo hiểm phải thanh toán chi phí. Do đó, cần hoàn thiện các cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động KCB bảo hiểm y tế, sử dụng công nghệ thông tin để thẩm định các chỉ định của bác sĩ đối với bệnh nhân, tránh nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm y tế và vẫn đảm bảo công bằng trong việc tiếp cận nguồn lực tài chính từ bảo hiểm y tế giữa bệnh viện tư và bệnh viện công.

Bốn là, bảo đảm tính tương thích trong các quy định của pháp luật về dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ khám chữa bệnh của các cơ sở y tế tư nhân nói riêng với pháp luật y tế quốc tế

Xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã và đang ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, xã hội của Việt Nam, trong đó có ngành Dịch vụ y tế. Hội nhập kinh tế thế giới là mang nền kinh tế trong nước tham gia một sân chơi chung của nền kinh tế thế giới. Một trong những nguyên tắc quan trọng khi tham gia hội nhập kinh tế thế giới đó là phá bỏ hạn ngạch, xóa bỏ bao cấp đối với các ngành kinh tế trong nước. Đặc biệt là các ngành dịch vụ truyền thống vốn đã được nhà nước bao cấp quá lâu như ngành dịch vụ y tế ở Việt Nam. Việt Nam đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ năm 2007 và cho đến nay, chúng ta đang trong lộ trình thực hiện những cam kết của WTO. Theo đó, cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về dịch vụ bao gồm: (i) Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam, trong đó Việt Nam đã đưa ra cam kết mở cửa (phải cho phép doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam tối thiểu ở mức như đã cam kết) đối với 11 ngành dịch vụ (bao gồm khoảng 110 phân ngành dịch vụ), trong đó Ngành Dịch vụ y tế và xã hội đứng thứ 08; (ii) Cam kết về minh bạch hoá và không phân biệt đối xử (đối xử tối huệ quốc - MFN), Việt Nam phải công bố tất cả các quy định, yêu cầu, thủ tục có ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ cho các nước thành viên WTO; công khai các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị định…) để lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân có liên quan trong ít nhất 60 ngày; Việt Nam phải đối xử bình đẳng (về chính sách, pháp luật, thủ tục…) giữa các nhà cung cấp dịch vụ đến từ các nước khác nhau (nếu các nước này đều là thành viên WTO)[2]. Việc mở cửa Ngành Dịch vụ y tế cũng là một trong những nội dung quan trọng, đặt ra bài toán cần cải cách hệ thống y tế trong nước sao cho có thể cạnh tranh và đứng vững trong một sân chơi quốc tế, phải thực hiện các cam kết trong khuôn khổ luật pháp quốc tế về lĩnh vực dịch vụ y tế. Vì vậy, hệ thống pháp luật cũng như các chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ KCB cũng cần phải được điều chỉnh kịp thời.

Cùng với việc Việt Nam thực hiện các cam kết của WTO trong lĩnh vực y tế, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế và các chính sách trong lĩnh vực y tế sẽ có sự thay đổi rất lớn. Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế của Việt Nam sẽ xuất hiện ngày càng nhiều hơn các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế 100% vốn nước ngoài và các cơ sở KCB thông qua các hình thức liên doanh, liên kết chất lượng cao đạt đẳng cấp quốc tế với sự hiện diện thương mại đáp ứng đa dạng nhu cầu KCB của nhân dân. Đây là những cơ hội tốt để Việt Nam có thể huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực cung ứng dịch vụ y tế nhằm xây dựng những bệnh viện phòng khám đạt đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu trong tương lai, Việt Nam sẽ trở thành một trung tâm KCB, chăm sóc sức khỏe và nghỉ dưỡng của khu vực và trên thế giới, gắn chữa bệnh với du lịch nghỉ dưỡng.

Bên cạnh sự thuận lợi do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho hệ thống cung ứng dịch vụ y tế ở Việt Nam, hệ thống y tế của Việt Nam sẽ gặp phải những thách thức rất lớn, đó là: (i) Các cơ sở YTTN trong nước sẽ phải cạnh tranh ngày càng gay gắt đối với các cơ sở y tế 100% vốn nước ngoài với trình độ nhân lực y tế có chuyên môn cao, trang thiết bị công nghệ, cơ sở vật chất hiện đại, phương pháp làm việc chuyên nghiệp; (ii) Thách thức tiếp theo đó là làm thế nào để các bệnh viện của Việt Nam có thể giữ chân các bác sĩ giỏi tại bệnh viện công khi chúng ta thực hiện các cam kết WTO về minh bạch hóa và không phân biệt đối xử (đối xử tối huệ quốc - MFN) đối với người hành nghề và các doanh nghiệp y tư nhân nước ngoài đến Việt Nam làm việc. Tình trạng này đã xảy ra ở một số quốc gia trên thế giới như Nam Phi, Thái Lan... trong thời gian dài bị khủng hoảng nguồn nhân lực y tế khi hàng loạt các nhân viên y tế, đặc biệt là các bác sĩ giỏi đã rời bỏ đất nước để đến các quốc gia khác có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, với các ưu đãi tốt hơn để làm việc. Việt Nam cũng không ngoại lệ trong xu thế này. Trong thời gian gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện xu hướng dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ các bệnh viện công sang khu vực bệnh viện 100% vốn nước ngoài và các bệnh viện liên doanh liên kết.

Sự phân hóa rõ rệt về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư đã dẫn đến nhu cầu khác nhau về KCB và chăm sóc sức khỏe, người nghèo và nhóm cận nghèo sẽ khó có cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao, vì vậy, yêu cầu những chính sách về an sinh xã hội hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả của hệ thống y tế càng trở nên cấp thiết.

Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào y tế khu vực và thế giới với những cơ hội và thách thức to lớn. Mục tiêu đặt ra là cần sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật y tế nói chung, pháp luật về khám chữa bệnh của các cơ sở YTTN nói riêng một cách toàn diện và đồng bộ, phù hợp với chương trình, lộ trình hội nhập nhưng vẫn phải đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Có như vậy, mới bảo đảm cho pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở YTTN phát triển đúng định hướng, đồng thời hạn chế thấp nhất sự xung đột pháp luật trong khám bệnh, chữa bệnh.

Đinh Thị Thanh Thủy

Đại học Thương Mại

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

[2]. Nguồn: Cam kết chung về dịch vụ của Việt Nam trong WTO- http://www.trungtamwto.vn/wto/cam-ket-chung-ve-dich-vu-cua-viet-nam-trong-wto, truy cập ngày 05/12/2016.

[3]. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

[4]. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009.

[5]. Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

[6]. Thông tư số 41/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

[7]. Nhật Minh, “Hoạt động khám chữa bệnh còn nhiều bất cập”, http://phapluatxahoi.vn/xa- hoi/hoat-dong-kham-chua-benh-tu-nhan-con-nhieu-bat-cap-102581, truy cập ngày 26/12/2016.

[8]. Hồ Quang, Bộ Y tế thừa nhận những bất cập trong ban hành các văn bản, xem thêm tại: http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/124/0/5017/0/19012/Bo_Y_te_thua_nhan_nhung_bat_cap_trong_ban_hanh_cac_van_ban, truy cập ngày 22/12/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: