Thứ ba 25/08/2026 11:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Bài viết nghiên cứu về chế định người chứng kiến trong thi hành án dân sự, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về người chứng kiến.

1. Đặt vấn đề

Quá trình thi hành án dân sự (THADS) được diễn ra với nhiều thủ tục, hoạt động và với sự tham gia của nhiều chủ thể. Ngoài đương sự và chấp hành viên được xem là chủ thể chính tham gia vào mối quan hệ pháp luật thì nhà làm luật cũng quy định sự tham gia của những chủ thể khác với quyền lợi, nghĩa vụ khác nhau, trong đó có chủ thể là người chứng kiến. Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022 (sau đây gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự) chỉ ghi nhận hai trường hợp có sự tham gia của người chứng kiến[1], đó là: Trường hợp không thực hiện được thông báo và trường hợp thực hiện thủ tục niêm yết công khai. Có thể thấy, sự tham gia của người chứng kiến tập trung chủ yếu vào thủ tục thông báo trong THADS, đây được xem là thủ tục mở đầu và bắt buộc đối với quá trình tổ chức thi hành án[2]. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, việc không thực hiện được thông báo cho đương sự ngày càng trở nên phổ biến với nhiều lý do khác nhau, từ đó cũng gắn với sự tham gia của người chứng kiến trong quá trình THADS.

Dưới góc độ lý luận, chủ thể là người chứng kiến trong THADS có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể: Người chứng kiến là cá nhân tham gia hoạt động THADS vì nghĩa vụ pháp lý. Người chứng kiến tham gia vào quá trình THADS với vai trò góp phần bảo đảm tính chính xác, khách quan của các hoạt động THADS do chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Do vậy, người chứng kiến phải bảo đảm sự khách quan khi chứng kiến hoạt động THADS.

Thứ hai, về căn cứ phát sinh tư cách tố tụng: Tư cách của người chứng kiến hình thành do yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền để chứng kiến hoạt động THADS theo quy định pháp luật THADS.

Thứ ba, thời gian tồn tại tư cách tố tụng: Tư cách tố tụng của người chứng kiến xuất hiện khi có yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền và kết thúc khi hoạt động THADS cần được chứng kiến đã tiến hành xong. Tuy nhiên, trong các giai đoạn sau đó nếu có phát sinh việc xác nhận các nội dung đã chứng kiến thì chủ thể có thẩm quyền có quyền mời người làm chứng để xác nhận lại nội dung trên và tư cách người chứng kiến tiếp tục phát sinh.

Có thể thấy, sự tham gia của người chứng kiến đóng vai trò quan trọng trong hoạt động THADS và đây cũng được xem là một trong những cơ chế hữu hiệu để giám sát hoạt động của chủ thể có thẩm quyền trong quá trình tổ chức thi hành án, nhất là hoạt động của chấp hành viên. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự chưa quy định khung pháp lý hoàn thiện đối với chủ thể là người chứng kiến trong THADS. Từ đó, gây khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền khi không có căn cứ để xác định rõ quyền, nghĩa vụ pháp lý của người chứng kiến, cũng như những trường hợp không được làm người chứng kiến trong THADS. Mặt khác, từ việc không xác định rõ vai trò của người chứng kiến dẫn đến việc nhầm lẫn tư cách người chứng kiến với người làm chứng trong THADS.

2. Bất cập và giải pháp hoàn thiện khung pháp lý đối với người chứng kiến trong thi hành án dân sự

2.1. Bất cập về khung pháp lý đối với người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Dưới góc độ là cá nhân có liên quan đến hoạt động THADS nên người chứng kiến có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan THADS, chấp hành viên theo quy định của pháp luật[3]. Trên thực tế, người chứng kiến được cơ quan THADS, chấp hành viên mời tham gia để chứng kiến việc tiến hành một số hoạt động thuộc trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự chỉ dừng ở việc ghi nhận các trường hợp cần có sự tham gia của người chứng kiến, mà không quy định cụ thể về địa vị pháp lý của người chứng kiến. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự chưa quy định rõ khái niệm về người chứng kiến trong THADS, quyền và nghĩa vụ, cũng như những trường hợp không được tham gia với vai trò là người chứng kiến.

Việc không quy định khung pháp lý cụ thể đối với người chứng kiến trong THADS đã dẫn đến những bất cập nhất định trong quá trình tổ chức THADS. Theo đó, chủ thể có thẩm quyền chỉ biết được những trường hợp nào cần có sự tham gia của người chứng kiến mà pháp luật quy định nhưng không thể giải thích rõ cho người chứng kiến quyền và nghĩa vụ của họ. Mặt khác, người chứng kiến cũng không biết vai trò, quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quá trình THADS.

Suy cho cùng, sự tham gia của người chứng kiến nhằm góp phần bảo đảm tính chính xác, khách quan của các hoạt động THADS. Do đó, phải nhìn nhận sự vô tư của người chứng kiến là điều kiện quan trọng nhất và người chứng kiến sẽ không được tham gia quá trình tổ chức THADS nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ. Một trong những lý do tác động đến sự không vô tư của người chứng kiến là mối quan hệ thân thích giữa người chứng kiến với đương sự. Đồng thời, để bảo đảm tính chính xác, khả năng nhận thức đúng sự việc của người chứng kiến đòi hỏi người chứng kiến phải có đầy đủ năng lực chủ thể và độ tuổi phù hợp để tham gia chứng kiến hoạt động THADS. Từ những vấn đề trên, có thể thấy, bất cập của Luật Thi hành án dân sự là chưa quy định những trường hợp không được làm người chứng kiến.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý đối với người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổ chức nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ, toàn diện các ý kiến đóng góp để hoàn thiện báo cáo tổng kết thi hành Luật Thi hành án dân sự, làm cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện các tài liệu, hồ sơ, đề nghị xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi), hướng tới việc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác THADS[4]. Từ đó, có thể thấy, việc hoàn thiện khung pháp lý đối với người chứng kiến trong hoạt động THADS là cần thiết trong bối cảnh hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự. Đây không chỉ là cơ sở để cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ pháp lý của người chứng kiến mà còn là điều kiện để từng bước hoàn thiện địa vị pháp lý của những chủ thể tham gia vào hoạt động THADS.

Tiếp cận các quy định pháp luật chuyên ngành khác có thể thấy, việc nhìn nhận và hoàn thiện vai trò của người chứng kiến không phải là vấn đề mới được đặt ra, mà tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các nhà làm luật đã quy định khung pháp lý đối với người chứng kiến trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở khung pháp lý đối với người chứng kiến trong tố tụng hình sự, nhóm tác giả kiến nghị nên xây dựng điều luật về người chứng kiến trong THADS với nội dung như sau:

1. Người chứng kiến là người được cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của Bộ luật này.

2. Những người sau đây không được làm người chứng kiến:

a) Người thân thích của đương sự;

b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;

c) Người dưới 18 tuổi;

d) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.

3. Người chứng kiến có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Yêu cầu người có thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi bị đe dọa;

c) Xem biên bản, đưa ra nhận xét về hoạt động thi hành án dân sự mà mình chứng kiến;

d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, chấp hành viên liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;

đ) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Người chứng kiến có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự;

b) Chứng kiến đầy đủ hoạt động thi hành án dân sự được yêu cầu;

c) Ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;

d) Trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự.

3. Bất cập và giải pháp hoàn thiện đối với các trường hợp cần sự tham gia của người chứng kiến trong thi hành án dân sự

3.1. Bất cập đối với các trường hợp cần sự tham gia của người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Trên thực tế, không phải quá trình tổ chức THADS nào cũng có sự tham gia của người chứng kiến mà người chứng kiến chỉ được mời tham gia theo các trường hợp mà pháp luật quy định. Cùng với người chứng kiến thì người làm chứng cũng là một trong những chủ thể tham gia vào quá trình THADS. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự hiện hành quy định nhiều trường hợp cần có sự tham gia của người làm chứng, điển hình như: Trường hợp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự mà người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng[5]; trường hợp thu tiền của người phải thi hành án đang giữ hoặc người thứ ba giữ mà người phải thi hành án hoặc người thứ ba không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng[6]; trường hợp thực hiện kê biên dù đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được ủy quyền vắng mặt thì chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên[7],… Trên phương diện lý luận, có thể chia người làm chứng thành hai nhóm là nhóm người làm chứng bị động (do biết được sự việc nên được mời làm chứng) và nhóm người làm chứng chủ động (được mời đến để làm chứng trong một số trường hợp nhất định)[8].

Điểm giống nhau giữa sự tham gia của người chứng kiến và người làm chứng đó là tham gia khi người phải thực hiện nghĩa vụ không thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền hay họ vắng mặt trong một số trường hợp. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự không có quy định để phân định rõ vai trò, trách nhiệm của hai chủ thể này, từ đó, dẫn đến việc áp dụng còn mang tính tùy nghi trên thực tế.

Việc xác định tùy nghi sự tham gia của người chứng kiến và người làm chứng trong THADS được thể hiện tại các biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS quy định tại Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS (Thông tư số 04/2023/TT-BTP). Theo đó, tại biểu mẫu biên bản về việc niêm yết công khai quyết định, văn bản về thi hành án ghi nhận sự tham gia là người làm chứng[9], trong khi Luật Thi hành án dân sự ghi nhận chủ thể tham gia hoạt động này là người chứng kiến. Đồng thời, tại biểu mẫu biên bản về việc phong tỏa tài khoản, tài sản gửi giữ ghi nhận sự tham gia là người chứng kiến[10], thì Luật Thi hành án dân sự lại ghi nhận chủ thể tham gia hoạt động này là người làm chứng. Bên cạnh đó, tại biểu mẫu biên bản về việc niêm phong tài sản ghi nhận sự tham gia là người chứng kiến[11], thì Luật Thi hành án dân sự lại ghi nhận chủ thể tham gia hoạt động này là người làm chứng. Vô hình trung, từ việc không quy định rõ khung pháp lý đối với người chứng kiến và người làm chứng trong hoạt động THADS dẫn đến sự chồng chéo của các quy định pháp luật và sự áp dụng chưa thống nhất trên thực tế về việc xác nhận tư cách tham gia của hai chủ thể này.

3.2. Giải pháp hoàn thiện đối với các trường hợp cần sự tham gia của người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Mặc dù, Luật Thi hành án dân sự có đề cập đến chủ thể là người chứng kiến và người làm chứng trong THADS nhưng xuất phát từ việc không làm rõ vai trò, địa vị pháp lý của những chủ thể này trong hoạt động THADS dẫn đến việc áp dụng tùy nghi, không phù hợp với quy định pháp luật. Bên cạnh đó, theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP, thì tại các biểu mẫu biên bản ghi nhận không phù hợp sự tham gia của người chứng kiến trong THADS. Từ đó, các tác giả đề xuất nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 04/2023/TT-BTP theo hướng rà soát lại các hoạt động có sự tham gia của người chứng kiến và người làm chứng để ghi nhận phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, trong hoạt động hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác THADS thì nhà làm luật cần đánh giá, ghi nhận rõ địa vị pháp lý của từng nhóm chủ thể trong hoạt động THADS. Theo đó, cần quy định, phân định rõ địa vị pháp lý của người chứng kiến và người làm chứng trong THADS. Việc quy định về khung pháp lý của hai chủ thể này có thể tiệm cận, tham khảo quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành để ghi nhận phù hợp với đặc thù của hoạt động THADS.

Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng tới việc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác THADS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, củng cố niềm tin của người dân vào hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có hoạt động THADS[12]. Theo đó, việc hoàn thiện quy định pháp luật về người chứng kiến trong THADS cũng là một trong những cơ sở đặt ra khi xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) và là nhu cầu cần thiết trong thực tiễn áp dụng Luật Thi hành án dân sự. Song song đó, việc hoàn thiện quy định pháp luật về người chứng kiến trong THADS sẽ tạo ra địa vị pháp lý của chủ thể này trong việc chứng kiến, giám sát hoạt động của cơ quan THADS, chấp hành viên, góp phần vào việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của chủ thể có thẩm quyền đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật./.

Trần Văn Toán & ThS. Nguyễn Chí Hiếu

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu;

Giảng viên chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Xem thêm Điều 40, Điều 42 Luật Thi hành án dân sự.

[2]. Khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự quy định: Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

[3]. Điều 11 Luật Thi hành án dân sự.

[4]. Vy Anh, “Hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác thi hành án dân sự”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,https://dangcongsan.vn/phap-luat/hoan-thien-the-che-phap-luat-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-654070.html, truy cập ngày 01/4/2024.

[5]. Khoản 3 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự.

[6]. Điều 80 và Điều 81 Luật Thi hành án dân sự.

[7]. Khoản 1 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự.

[8]. Tuấn Đạo Thanh, Hoàng Văn Hữu, “Bàn về vai trò của người làm chứng trong lĩnh vực công chứng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/ban-ve-vai-tro-cua-nguoi-lam-chung-trong-linh-vuc-cong-chung, truy cập ngày 01/4/2024.

[9]. Mẫu số: D37-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp).

[10]. Mẫu số: D44-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp).

[11]. Mẫu số: D48-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp).

[12]. Vy Anh, “Hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác thi hành án dân sự”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/phap-luat/hoan-thien-the-che-phap-luat-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-654070.html, truy cập ngày 01/4/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: