Thứ năm 02/04/2026 01:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Bài viết nghiên cứu về chế định người chứng kiến trong thi hành án dân sự, từ đó, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật về người chứng kiến.

1. Đặt vấn đề

Quá trình thi hành án dân sự (THADS) được diễn ra với nhiều thủ tục, hoạt động và với sự tham gia của nhiều chủ thể. Ngoài đương sự và chấp hành viên được xem là chủ thể chính tham gia vào mối quan hệ pháp luật thì nhà làm luật cũng quy định sự tham gia của những chủ thể khác với quyền lợi, nghĩa vụ khác nhau, trong đó có chủ thể là người chứng kiến. Hiện nay, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022 (sau đây gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự) chỉ ghi nhận hai trường hợp có sự tham gia của người chứng kiến[1], đó là: Trường hợp không thực hiện được thông báo và trường hợp thực hiện thủ tục niêm yết công khai. Có thể thấy, sự tham gia của người chứng kiến tập trung chủ yếu vào thủ tục thông báo trong THADS, đây được xem là thủ tục mở đầu và bắt buộc đối với quá trình tổ chức thi hành án[2]. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, việc không thực hiện được thông báo cho đương sự ngày càng trở nên phổ biến với nhiều lý do khác nhau, từ đó cũng gắn với sự tham gia của người chứng kiến trong quá trình THADS.

Dưới góc độ lý luận, chủ thể là người chứng kiến trong THADS có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể: Người chứng kiến là cá nhân tham gia hoạt động THADS vì nghĩa vụ pháp lý. Người chứng kiến tham gia vào quá trình THADS với vai trò góp phần bảo đảm tính chính xác, khách quan của các hoạt động THADS do chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Do vậy, người chứng kiến phải bảo đảm sự khách quan khi chứng kiến hoạt động THADS.

Thứ hai, về căn cứ phát sinh tư cách tố tụng: Tư cách của người chứng kiến hình thành do yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền để chứng kiến hoạt động THADS theo quy định pháp luật THADS.

Thứ ba, thời gian tồn tại tư cách tố tụng: Tư cách tố tụng của người chứng kiến xuất hiện khi có yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền và kết thúc khi hoạt động THADS cần được chứng kiến đã tiến hành xong. Tuy nhiên, trong các giai đoạn sau đó nếu có phát sinh việc xác nhận các nội dung đã chứng kiến thì chủ thể có thẩm quyền có quyền mời người làm chứng để xác nhận lại nội dung trên và tư cách người chứng kiến tiếp tục phát sinh.

Có thể thấy, sự tham gia của người chứng kiến đóng vai trò quan trọng trong hoạt động THADS và đây cũng được xem là một trong những cơ chế hữu hiệu để giám sát hoạt động của chủ thể có thẩm quyền trong quá trình tổ chức thi hành án, nhất là hoạt động của chấp hành viên. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự chưa quy định khung pháp lý hoàn thiện đối với chủ thể là người chứng kiến trong THADS. Từ đó, gây khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền khi không có căn cứ để xác định rõ quyền, nghĩa vụ pháp lý của người chứng kiến, cũng như những trường hợp không được làm người chứng kiến trong THADS. Mặt khác, từ việc không xác định rõ vai trò của người chứng kiến dẫn đến việc nhầm lẫn tư cách người chứng kiến với người làm chứng trong THADS.

2. Bất cập và giải pháp hoàn thiện khung pháp lý đối với người chứng kiến trong thi hành án dân sự

2.1. Bất cập về khung pháp lý đối với người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Dưới góc độ là cá nhân có liên quan đến hoạt động THADS nên người chứng kiến có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan THADS, chấp hành viên theo quy định của pháp luật[3]. Trên thực tế, người chứng kiến được cơ quan THADS, chấp hành viên mời tham gia để chứng kiến việc tiến hành một số hoạt động thuộc trình tự, thủ tục tổ chức thi hành án mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Thi hành án dân sự chỉ dừng ở việc ghi nhận các trường hợp cần có sự tham gia của người chứng kiến, mà không quy định cụ thể về địa vị pháp lý của người chứng kiến. Bên cạnh đó, Luật Thi hành án dân sự chưa quy định rõ khái niệm về người chứng kiến trong THADS, quyền và nghĩa vụ, cũng như những trường hợp không được tham gia với vai trò là người chứng kiến.

Việc không quy định khung pháp lý cụ thể đối với người chứng kiến trong THADS đã dẫn đến những bất cập nhất định trong quá trình tổ chức THADS. Theo đó, chủ thể có thẩm quyền chỉ biết được những trường hợp nào cần có sự tham gia của người chứng kiến mà pháp luật quy định nhưng không thể giải thích rõ cho người chứng kiến quyền và nghĩa vụ của họ. Mặt khác, người chứng kiến cũng không biết vai trò, quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quá trình THADS.

Suy cho cùng, sự tham gia của người chứng kiến nhằm góp phần bảo đảm tính chính xác, khách quan của các hoạt động THADS. Do đó, phải nhìn nhận sự vô tư của người chứng kiến là điều kiện quan trọng nhất và người chứng kiến sẽ không được tham gia quá trình tổ chức THADS nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ. Một trong những lý do tác động đến sự không vô tư của người chứng kiến là mối quan hệ thân thích giữa người chứng kiến với đương sự. Đồng thời, để bảo đảm tính chính xác, khả năng nhận thức đúng sự việc của người chứng kiến đòi hỏi người chứng kiến phải có đầy đủ năng lực chủ thể và độ tuổi phù hợp để tham gia chứng kiến hoạt động THADS. Từ những vấn đề trên, có thể thấy, bất cập của Luật Thi hành án dân sự là chưa quy định những trường hợp không được làm người chứng kiến.

2.2. Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý đối với người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tổ chức nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ, toàn diện các ý kiến đóng góp để hoàn thiện báo cáo tổng kết thi hành Luật Thi hành án dân sự, làm cơ sở để nghiên cứu, hoàn thiện các tài liệu, hồ sơ, đề nghị xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi), hướng tới việc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác THADS[4]. Từ đó, có thể thấy, việc hoàn thiện khung pháp lý đối với người chứng kiến trong hoạt động THADS là cần thiết trong bối cảnh hoàn thiện Luật Thi hành án dân sự. Đây không chỉ là cơ sở để cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ pháp lý của người chứng kiến mà còn là điều kiện để từng bước hoàn thiện địa vị pháp lý của những chủ thể tham gia vào hoạt động THADS.

Tiếp cận các quy định pháp luật chuyên ngành khác có thể thấy, việc nhìn nhận và hoàn thiện vai trò của người chứng kiến không phải là vấn đề mới được đặt ra, mà tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các nhà làm luật đã quy định khung pháp lý đối với người chứng kiến trong tố tụng hình sự. Trên cơ sở khung pháp lý đối với người chứng kiến trong tố tụng hình sự, nhóm tác giả kiến nghị nên xây dựng điều luật về người chứng kiến trong THADS với nội dung như sau:

1. Người chứng kiến là người được cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động thi hành án dân sự theo quy định của Bộ luật này.

2. Những người sau đây không được làm người chứng kiến:

a) Người thân thích của đương sự;

b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;

c) Người dưới 18 tuổi;

d) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.

3. Người chứng kiến có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Yêu cầu người có thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi bị đe dọa;

c) Xem biên bản, đưa ra nhận xét về hoạt động thi hành án dân sự mà mình chứng kiến;

d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, chấp hành viên liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;

đ) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Người chứng kiến có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự;

b) Chứng kiến đầy đủ hoạt động thi hành án dân sự được yêu cầu;

c) Ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;

d) Trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự.

3. Bất cập và giải pháp hoàn thiện đối với các trường hợp cần sự tham gia của người chứng kiến trong thi hành án dân sự

3.1. Bất cập đối với các trường hợp cần sự tham gia của người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Trên thực tế, không phải quá trình tổ chức THADS nào cũng có sự tham gia của người chứng kiến mà người chứng kiến chỉ được mời tham gia theo các trường hợp mà pháp luật quy định. Cùng với người chứng kiến thì người làm chứng cũng là một trong những chủ thể tham gia vào quá trình THADS. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự hiện hành quy định nhiều trường hợp cần có sự tham gia của người làm chứng, điển hình như: Trường hợp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự mà người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng[5]; trường hợp thu tiền của người phải thi hành án đang giữ hoặc người thứ ba giữ mà người phải thi hành án hoặc người thứ ba không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng[6]; trường hợp thực hiện kê biên dù đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được ủy quyền vắng mặt thì chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên[7],… Trên phương diện lý luận, có thể chia người làm chứng thành hai nhóm là nhóm người làm chứng bị động (do biết được sự việc nên được mời làm chứng) và nhóm người làm chứng chủ động (được mời đến để làm chứng trong một số trường hợp nhất định)[8].

Điểm giống nhau giữa sự tham gia của người chứng kiến và người làm chứng đó là tham gia khi người phải thực hiện nghĩa vụ không thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền hay họ vắng mặt trong một số trường hợp. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự không có quy định để phân định rõ vai trò, trách nhiệm của hai chủ thể này, từ đó, dẫn đến việc áp dụng còn mang tính tùy nghi trên thực tế.

Việc xác định tùy nghi sự tham gia của người chứng kiến và người làm chứng trong THADS được thể hiện tại các biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS quy định tại Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS (Thông tư số 04/2023/TT-BTP). Theo đó, tại biểu mẫu biên bản về việc niêm yết công khai quyết định, văn bản về thi hành án ghi nhận sự tham gia là người làm chứng[9], trong khi Luật Thi hành án dân sự ghi nhận chủ thể tham gia hoạt động này là người chứng kiến. Đồng thời, tại biểu mẫu biên bản về việc phong tỏa tài khoản, tài sản gửi giữ ghi nhận sự tham gia là người chứng kiến[10], thì Luật Thi hành án dân sự lại ghi nhận chủ thể tham gia hoạt động này là người làm chứng. Bên cạnh đó, tại biểu mẫu biên bản về việc niêm phong tài sản ghi nhận sự tham gia là người chứng kiến[11], thì Luật Thi hành án dân sự lại ghi nhận chủ thể tham gia hoạt động này là người làm chứng. Vô hình trung, từ việc không quy định rõ khung pháp lý đối với người chứng kiến và người làm chứng trong hoạt động THADS dẫn đến sự chồng chéo của các quy định pháp luật và sự áp dụng chưa thống nhất trên thực tế về việc xác nhận tư cách tham gia của hai chủ thể này.

3.2. Giải pháp hoàn thiện đối với các trường hợp cần sự tham gia của người chứng kiến trong thi hành án dân sự

Mặc dù, Luật Thi hành án dân sự có đề cập đến chủ thể là người chứng kiến và người làm chứng trong THADS nhưng xuất phát từ việc không làm rõ vai trò, địa vị pháp lý của những chủ thể này trong hoạt động THADS dẫn đến việc áp dụng tùy nghi, không phù hợp với quy định pháp luật. Bên cạnh đó, theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP, thì tại các biểu mẫu biên bản ghi nhận không phù hợp sự tham gia của người chứng kiến trong THADS. Từ đó, các tác giả đề xuất nghiên cứu sửa đổi Thông tư số 04/2023/TT-BTP theo hướng rà soát lại các hoạt động có sự tham gia của người chứng kiến và người làm chứng để ghi nhận phù hợp với quy định của Luật Thi hành án dân sự. Đồng thời, trong hoạt động hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác THADS thì nhà làm luật cần đánh giá, ghi nhận rõ địa vị pháp lý của từng nhóm chủ thể trong hoạt động THADS. Theo đó, cần quy định, phân định rõ địa vị pháp lý của người chứng kiến và người làm chứng trong THADS. Việc quy định về khung pháp lý của hai chủ thể này có thể tiệm cận, tham khảo quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành để ghi nhận phù hợp với đặc thù của hoạt động THADS.

Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng tới việc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác THADS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, củng cố niềm tin của người dân vào hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có hoạt động THADS[12]. Theo đó, việc hoàn thiện quy định pháp luật về người chứng kiến trong THADS cũng là một trong những cơ sở đặt ra khi xây dựng Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) và là nhu cầu cần thiết trong thực tiễn áp dụng Luật Thi hành án dân sự. Song song đó, việc hoàn thiện quy định pháp luật về người chứng kiến trong THADS sẽ tạo ra địa vị pháp lý của chủ thể này trong việc chứng kiến, giám sát hoạt động của cơ quan THADS, chấp hành viên, góp phần vào việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của chủ thể có thẩm quyền đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật./.

Trần Văn Toán & ThS. Nguyễn Chí Hiếu

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu;

Giảng viên chính, Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Xem thêm Điều 40, Điều 42 Luật Thi hành án dân sự.

[2]. Khoản 1 Điều 39 Luật Thi hành án dân sự quy định: Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.

[3]. Điều 11 Luật Thi hành án dân sự.

[4]. Vy Anh, “Hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác thi hành án dân sự”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam,https://dangcongsan.vn/phap-luat/hoan-thien-the-che-phap-luat-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-654070.html, truy cập ngày 01/4/2024.

[5]. Khoản 3 Điều 68 Luật Thi hành án dân sự.

[6]. Điều 80 và Điều 81 Luật Thi hành án dân sự.

[7]. Khoản 1 Điều 88 Luật Thi hành án dân sự.

[8]. Tuấn Đạo Thanh, Hoàng Văn Hữu, “Bàn về vai trò của người làm chứng trong lĩnh vực công chứng”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/ban-ve-vai-tro-cua-nguoi-lam-chung-trong-linh-vuc-cong-chung, truy cập ngày 01/4/2024.

[9]. Mẫu số: D37-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp).

[10]. Mẫu số: D44-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp).

[11]. Mẫu số: D48-THADS (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp).

[12]. Vy Anh, “Hoàn thiện thể chế, pháp luật trong công tác thi hành án dân sự”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/phap-luat/hoan-thien-the-che-phap-luat-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-654070.html, truy cập ngày 01/4/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 402), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: