Thứ tư 20/05/2026 08:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thành lập trung tâm trọng tài

Bài viết phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về thành lập Trung tâm trọng tài, để kiến nghị hoàn thiện pháp luật có liên quan đến việc thành lập các trung tâm trọng tài trong thời gian tới.

Trọng tài thương mại được xem là hình thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án mà thẩm quyền của nó là sự kết hợp bởi sự thừa nhận của pháp luật và sự thỏa thuận của các bên tranh chấp[1]. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này. Với nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp, trừ một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt thì pháp luật đã loại trừ thẩm quyền của Tòa án khi các bên có lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài[2]. Có thể nói, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp đang được ưa chuộng tại các nước và bắt đầu có xu hướng phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, tính đến năm 2024, cả nước đã có khoảng 700 trọng tài viên với 46 Trung tâm trọng tài[3]. Điều đó cho thấy, việc thành lập Trung tâm trọng tài ở Việt Nam đang được quan tâm và ngày càng phát triển về số lượng. Tuy nhiên, một số quy định liên quan đến thành lập Trung tâm trọng tài vẫn còn tồn tại vướng mắc, bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện. Cụ thể như sau:

1. Về điều kiện đối với sáng lập viên Trung tâm trọng tài

Để thành lập Trung tâm trọng tài, khoản 1 Điều 24 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định điều kiện là phải có ít nhất 05 sáng lập viên là công dân Việt Nam. Đồng thời, tất cả các sáng lập viên phải có đủ các điều kiện làm trọng tài viên theo quy định tại Điều 20 của Luật này. Quy định này bộc lộ một số bất cập cần hoàn thiện như sau:

Thứ nhất, về số lượng sáng lập viên.

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định phải có ít nhất 05 sáng lập viên là chưa thực sự hợp lý, vì trong cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm trọng tài, thông thường, Ban điều hành sẽ có tối đa là 03 người, gồm 01 Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch. Bên cạnh đó, khi Trung tâm trọng tài đi vào hoạt động, để thành lập Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp thì Hội đồng trọng tài cũng chỉ cần có 03 trọng tài viên, nếu các bên không có thỏa thuận khác[4].

Như vậy, việc quy định yêu cầu đến 05 sáng lập viên để thành lập Trung tâm trọng tài là không cần thiết để vận hành và quản lý một Trung tâm trọng tài lúc mới thành lập. Do đó, khoản 1 Điều 24 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nên được sửa đổi theo hướng giảm số lượng còn 03 sáng lập viên. Sau khi đi vào hoạt động, các Trung tâm trọng tài vẫn có thể kết nạp thêm trọng tài viên để hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phát triển trung tâm trọng tài. Việc giảm số lượng sáng lập viên sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển mạng lưới các trung tâm trọng tài, nhằm đáp ứng được nhu cầu và tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn hơn cho các bên tranh chấp khi họ quyết định giải quyết các tranh chấp bằng hình thức trọng tài.

Thứ hai, về tiêu chuẩn của sáng lập viên:

Quy định hiện hành yêu cầu tất cả các sáng lập viên phải có đủ các điều kiện làm trọng tài viên theo quy định tại Điều 20 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 27 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trung tâm trọng tài có Ban điều hành và Ban thư ký. Cơ cấu, bộ máy của Trung tâm trọng tài do điều lệ của Trung tâm quy định. Ban điều hành Trung tâm trọng tài gồm có Chủ tịch, một hoặc các Phó Chủ tịch, có thể có Tổng thư ký do Chủ tịch Trung tâm trọng tài cử. Chủ tịch Trung tâm trọng tài là trọng tài viên”. Điều này có nghĩa là, Luật không bắt buộc các sáng lập viên phải tham gia Ban điều hành của Trung tâm trọng tài, vì trong Ban điều hành, chỉ bắt buộc Chủ tịch Trung tâm trọng tài là trọng tài viên. Như vậy, việc yêu cầu tất cả các sáng lập viên đều phải đạt tiêu chuẩn của trọng tài viên là chưa hợp lý và không có ý nghĩa thực tiễn.

Vì vậy, trong số các sáng lập viên của Trung tâm trọng tài, Luật chỉ nên yêu cầu 01 người đủ tiêu chuẩn của trọng tài viên và người này phải giữ chức vụ Chủ tịch Trung tâm trọng tài. Có thể vì lý do số lượng trọng tài viên phải bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm trọng tài nên pháp luật hiện hành mới quy định tất cả các sáng lập viên đều phải đủ tiêu chuẩn của trọng tài viên theo Điều 20. Có thể nhà làm luật gián tiếp yêu cầu các sáng lập viên phải có tiêu chuẩn của trọng tài viên là để bảo đảm trường hợp các bên tranh chấp không thỏa thuận được số lượng trọng tài viên của Hội đồng trọng tài thì số lượng trọng tài viên của Hội đồng trọng tài phải là 03 trọng tài viên. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không bắt buộc trọng tài viên của Hội đồng trọng tài phải là trọng tài viên của Trung tâm trọng tài đó. Nói cách khác, nếu điều lệ của Trung tâm trọng tài có quy định Hội đồng trọng tài có thể có trọng tài viên của trung tâm trọng tài khác tham gia thì việc quy định các sáng lập viên chỉ cần người làm Chủ tịch Trung tâm trọng tài là trọng tài viên là điều có thể làm được. Khi đó, Trung tâm trọng tài này có thể thành lập Hội đồng trọng tài mà trọng tài viên đến từ các Trung tâm trọng tài khác mà không bắt buộc phải là các trọng tài viên của chính Trung tâm trọng tài của mình. Trong trường hợp muốn bảo đảm sự lựa chọn trọng tài viên của các bên tranh chấp được thực hiện một cách dễ dàng, không phải tìm các trọng tài viên của Trung tâm trọng tài khác thì Luật có thể bổ sung quy định điều kiện hoạt động của Trung tâm trọng tài là phải có ít nhất 05 trọng tài viên. Như vậy, sau khi trung tâm trọng tài được thành lập thì bắt buộc trung tâm phải kết nạp trọng tài viên đủ số lượng quy định thì mới đăng ký hoạt động được. Vì vậy, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 nên giảm số lượng, tiêu chuẩn của sáng lập viên khi thành lập Trung tâm trọng tài.

Ngoài ra, Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 chưa quy định sáng lập viên phải là người quản lý Trung tâm trọng tài nhưng trên thực tế, Ban điều hành của các Trung tâm trọng tài thường do các sáng lập viên đảm nhiệm. Vì vậy, Luật nên bổ sung quy định về điều kiện kinh nghiệm nghề nghiệp của Chủ tịch Trung tâm trọng tài. Theo đó, Chủ tịch Trung tâm trọng tài phải là một trong các sáng lập viên và có kinh nghiệm hành nghề trọng tài viên ít nhất là 02 năm làm trọng tài viên hoặc đã tham gia ít nhất là 02 Hội đồng trọng tài. Như vậy, Chủ tịch Trung tâm trọng tài mới có thể bảo đảm tốt về chất lượng, hiệu quả, đúng pháp luật của Trung tâm trọng tài trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành, kết nạp trọng tài viên, chỉ định trọng tài viên tham gia Hội đồng trọng tài… Kiến nghị này dựa trên cơ sở so sánh với quy định về tiêu chuẩn để luật sư tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư. Cụ thể, điểm a khoản 3 Điều 32 Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) quy định: “Luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này”. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 32 Luật Luật sư cũng quy định: “Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ chức hành nghề luật sư. Trong trường hợp luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên”. Tổ chức hành nghề luật sư và Trung tâm trọng tài đều là những tổ chức chịu sự quản lý của Sở Tư pháp. Nên để tránh xung đột về quyền, lợi ích và cạnh tranh không lành mạnh…, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cần bổ sung quy định về hạn chế quyền thành lập nhiều Trung tâm trọng tài cùng lúc theo hướng, sáng lập viên của Trung tâm trọng tài không được đồng thời là sáng lập viên của Trung tâm trọng tài khác.

2. Về tên gọi của Trung tâm trọng tài

Trung tâm trọng tài không thể thành lập nếu không có tên gọi. Đây là một trong những căn cứ để nhận diện Trung tâm. Tên Trung tâm trọng tài có thể được đặt theo ngành, nghề, lĩnh vực hoạt động, địa điểm đặt trụ sở hoặc cũng có thể được đặt theo sở thích cá nhân của người thành lập Trung tâm trọng tài. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 có quy định về cách đặt tên Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, trên thực tế, không đơn giản để đưa ra được một cái tên “khai sinh” cho Trung tâm trọng tài phù hợp với quy định pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 6 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại (Nghị định số 63/2011/NĐ-CP) thì tên của Trung tâm trọng tài phải được viết bằng tiếng Việt. Tên này do các sáng lập viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ “Trung tâm trọng tài” và không trùng, không gây nhầm lẫn với tên của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Trung tâm trọng tài đã được cấp Giấy phép thành lập, không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Cũng theo khoản 1 Điều 6 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP, “trong trường hợp Trung tâm trọng tài có tên bằng tiếng nước ngoài thì tên gọi đó phải là tên được dịch từ tên bằng tiếng Việt sang tiếng nước ngoài, không trùng, không gây nhầm lẫn với tên của tổ chức trọng tài khác đang hoạt động tại Việt Nam”. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn một số vướng mắc, bất cập, chưa được hướng dẫn áp dụng bằng một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nên dẫn đến việc áp dụng còn gặp khó khăn, chưa thống nhất.

Cụ thể, văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010 chưa có quy định hướng dẫn nội dung “không gây nhầm lẫn với tên của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Trung tâm trọng tài đã được cấp Giấy phép thành lập, không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”. Điều này dẫn đến nhiều cách hiểu của các sáng lập viên, bởi vì, các sáng lập viên có thể đến từ những vùng, miền khác nhau, đặc biệt là quan niệm về tên của Trung tâm trọng tài có chứa đựng những từ ngữ nào và ở mức độ nào thì vi phạm “truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”. Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền từ chối với lý do nêu trên thì sẽ căn cứ vào cơ sở pháp lý nào và có thông qua cơ quan có thẩm quyền chuyên môn để thẩm định hay không? Nếu có thì đó là cơ quan nào? Khi nào thì được đặt tên có thuật ngữ “quốc tế”? Tên trung tâm trọng tài xác định cụ thể lĩnh vực và phạm vi hoạt động thì có được hoạt động ngoài phạm vi và lĩnh vực đã được xác định hay không (điều lệ có quyền xác định phạm vi, lĩnh vực rộng hơn tên của trung tâm hay không)? Tên riêng là sự kết hợp của tổ chức kinh tế quốc tế bằng tiếng nước ngoài có được hay không? Có được viết tắt trong tên riêng của trung tâm trọng tài hay không? Việc dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài là tiếng Anh hay tiếng của nước nào cũng được? Có được sử dụng tên của tổ chức quốc tế làm tên riêng của trung tâm trọng tài hay không? Nếu được thì có bắt buộc phải dịch tên của tổ chức quốc tế đó sang tiếng Việt để đặt tên riêng cho trung tâm trọng tài hay không? Tên địa danh và đơn vị hành chính lãnh thổ trong thời kỳ đất nước bị xâm lược, tên của nhân vật lịch sử có tội với đất nước và với dân tộc… thì có được sử dụng làm tên của trung tâm trọng tài hay không…?

Những câu hỏi nêu trên được đặt ra là vì trên thực tế hiện nay, có nhiều trung tâm trọng tài đang sử dụng tên của tổ chức quốc tế, tên địa danh, tên viết tắt… để làm tên của trung tâm trọng tài của mình[5]. Vì vậy, để khắc phục những bất cập trên, khoản 1 Điều 6 Nghị định số 63/NĐ-CP cần sửa đổi, bổ sung như sau:

Thứ nhất, đối với quy định về tên “gây nhầm lẫn”: Cần bổ sung nội dung giải thích thế nào là tên “gây nhầm lẫn” với tên của Trung tâm trọng tài đã đăng ký. Cụ thể, “gây nhầm lẫn” là đọc giống tên trung tâm trọng tài đã được đăng ký, hoặc tên viết tắt trùng với tên viết tắt của trung tâm trọng tài đã đăng ký, hoặc chỉ khác với tên của trung tâm trọng tài đã được đăng ký bởi một số tự nhiên, một số thứ tự, một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, hoặc bởi từ “tân” ngay trước, hoặc từ “mới”, hoặc tương đương được viết liền, hoặc cách ngay sau, hoặc trước tên riêng của trung tâm trọng tài đã đăng ký.

Ngoài ra, cũng được xem là gây nhầm lẫn khi tên đó chỉ khác với tên của Trung tâm trọng tài đã được đăng ký bởi một ký hiệu “&” hoặc “và”, “.”, “,”, “+”, “-”, “_”. Kiến nghị này dựa trên cơ sở tham khảo quy định về tên của doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2020. Về bản chất, Trung tâm trọng tài không phải là doanh nghiệp nhưng việc tham khảo hướng quy định cụ thể về tên gây nhầm lẫn là thực sự cần thiết để tránh gây nhầm lẫn cho các bên tranh chấp khi họ quyết định lựa chọn và giao tranh chấp của mình cho Trung tâm trọng tài giải quyết. Đây cũng là cách nhằm góp phần bảo vệ hiệu quả quyền lợi cho các bên tranh chấp và uy tín của các Trung tâm trọng tài.

Thứ hai, đối với quy định về tên của trung tâm trọng tài “không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”: Cần có một văn bản hướng dẫn cụ thể theo hướng tham khảo nội dung của Thông tư số 10/2014/TT-BVHTTDL ngày 01/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hướng dẫn đặt tên doanh nghiệp phù hợp với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Mặc dù Thông tư này là văn bản hướng dẫn về tên của doanh nghiệp và đã hết hiệu lực nhưng nội dung của văn bản giải thích thế nào là vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc vẫn có giá trị tham khảo để hướng dẫn trong tất cả các lĩnh vực. Bởi vì, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc là lĩnh vực rất ổn định, không thể thay đổi nên việc dựa vào nội dung hướng dẫn của văn bản này để ban hành văn bản hướng dẫn đối với tên của Trung tâm trọng tài là thật sự cần thiết. Ví dụ, không được sử dụng tên danh nhân làm tên của Trung tâm trọng tài, trừ trường hợp tên của một trong các sáng lập viên trùng với tên của danh nhân đó, không được sử dụng tên nhân vật lịch sử có tội với đất nước, có tội với dân tộc làm tên của Trung tâm trọng tài, không sử dụng từ ngữ, ký hiệu mang tính chất bạo lực, phân biệt chủng tộc… để đặt tên của trung tâm trọng tài…

Thứ ba, đối với quy định tên “bằng tiếng nước ngoài”: Quy định pháp luật hiện hành chỉ có nội dung về tên tiếng nước ngoài phải dịch từ tên tiếng Việt mà chưa có quy định ngược lại để áp dụng cho trường hợp những sáng lập viên sử dụng tên các tổ chức quốc tế hoặc tên vùng miền quốc tế một cách trực tiếp như hiện nay. Do đó, cần bổ sung thêm quy định “phải được dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt” khi các sáng lập viên sử dụng tên của tổ chức quốc tế hay vùng, miền nước ngoài để đặt tên cho Trung tâm trọng tài của mình. Bên cạnh đó, cần phải quy định rõ là tên Trung tâm trọng tài có được sử dụng cụm từ viết tắt của một cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước hay không? Nếu vẫn được chấp thuận như thực tế tên của một số Trung tâm trọng tài hiện nay thì cần bổ sung vào quy định xem đây là trường hợp ngoại lệ của tên bằng tiếng Việt. Đồng thời, để tránh tình trạng gây nhầm lẫn và nghĩ rằng trung tâm trọng tài là do cơ quan, tổ chức thành lập vì có tên của cơ quan, tổ chức đó trong các thành tố của cấu thành nên tên của Trung tâm trọng tài, pháp luật cần bổ sung quy định là phải có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan, tổ chức đó thì các sáng lập viên mới có quyền sử dụng tên của cơ quan, tổ chức làm một phần hoặc toàn bộ tên của Trung tâm trọng tài. Kiến nghị này nhằm mục đích bảo vệ uy tín, hình ảnh của cơ quan, tổ chức, tránh tình trạng lợi dụng, sử dụng tên của cơ quan, tổ chức đặt tên của Trung tâm trọng tài để tạo uy tín, niềm tin đối với các chủ thể kinh doanh và các bên tranh chấp.

3. Về trình tự, thủ tục thành lập Trung tâm trọng tài

Hiện nay, theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP thì “Hồ sơ xin cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động, hồ sơ chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài, Chi nhánh Trung tâm trọng tài, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính cho cơ quan có thẩm quyền”. Tuy nhiên, Điều 3a Thông tư số 12/2012/TT- BTP ngày 07/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành một số biểu mẫu về tổ chức và hoạt động trọng tài thương mại (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 03/2024/TT-BTP ngày 15/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung 08 thông tư liên quan đến thủ tục hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp) quy định: “Trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến: các thông tin được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để tự động điền vào biểu mẫu, người thực hiện thủ tục hành chính không cần kê khai. Nếu các thông tin không được tự động điền vào biểu mẫu thì người thực hiện thủ tục hành chính kê khai đầy đủ”; “trường hợp nộp hồ sơ giấy (nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính): người thực hiện thủ tục hành chính kê khai đầy đủ trong biểu mẫu”. Như vậy, Điều 5 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP còn thiếu hình thức nộp hồ sơ trực tuyến so với quy định nêu trên. Do đó, để tránh tình trạng không thống nhất giữa thông tư và nghị định, Điều 5 Nghị định số 63/2011/NĐ-CP cần được bổ sung hình thức nộp hồ sơ trực tuyến.

Ngoài ra, về thủ tục, Nghị định số 63/2011/NĐ-CP không quy định về quy trình tiếp nhận hồ sơ đăng ký trực tiếp để xác định ngày nộp hồ sơ. Trong khi đó, khoản 3 Điều 24 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định thời gian 30 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài và phê chuẩn điều lệ của Trung tâm trọng tài. Trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Do đó, trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp thì phải có minh chứng ngày nộp, để từ đó tính thời hạn 30 ngày trả kết quả nêu trên. Từ bất cập này, Nghị định số 63/2011/NĐ-CP nên bổ sung quy định về hình thức tiếp nhận hồ sơ trực tiếp. Cụ thể, khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thành lập trung tâm trọng tài, cơ quan có thẩm quyền sẽ trao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.

Mặc dù đã có nhiều quy định áp dụng cho điều kiện, tên gọi và thủ tục để thành lập Trung tâm trọng tài tại Việt Nam nhưng Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Nghị định số 63/2011/NĐ-CP vẫn còn một số quy định còn bất cập, chưa bắt kịp với sự phát triển của hệ thống các Trung tâm trọng tài và hoạt động trọng tài hiện nay. So với một số văn bản quy phạm pháp luật khác về doanh nghiệp và luật sư thì các quy định về thành lập Trung tâm trọng tài còn nhiều điểm chưa rõ, chưa được hướng dẫn cụ thể bằng văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là vấn đề cùng tham gia làm sáng lập viên của nhiều Trung tâm trọng tài, tiêu chuẩn của các sáng lập viên, số lượng trọng tài viên tối thiểu của một trung tâm trọng tài, tên trùng hoặc gây nhầm lẫn hay vi phạm, không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, tên trùng một phần hoặc toàn bộ với tên của cơ quan, tổ chức hoặc thủ tục tiếp nhận hồ sơ trực tiếp, hình thức nộp hồ sơ trực tuyến… Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi pháp luật để khắc phục các bất cập này là thật sự cần thiết, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về trọng tài thương mại nói riêng./.

TS. Cao Nhất Linh

Phó Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

Tô Thị Hồng Thắm

Học viên Cao học Luật Kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

[1]. Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ngoài Tòa án: Xu thế tất yếu trong bối cảnh hiện nay, https://htpldn.moj.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=1905&l=Nghiencuutraodoi, truy cập ngày 01/7/2024.

[2]. Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[3]. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Danh sách các tổ chức trọng tài tại Việt Nam, https://bttp.moj.gov.vn/qt/Pages/trong-tai-tm.aspx, truy cập ngày 20/6/2024.

[4]. Khoản 2 Điều 39 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

[5]. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, Danh sách các tổ chức trọng tài tại Việt Nam, https://bttp.moj.gov.vn/qt/Pages/trong-tai-tm.aspx, truy cập ngày 20/6/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: