Thứ tư 09/09/2026 02:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

Bài viết này nghiên cứu về chính sách thuế và quản lý thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong thời gian tới.

1. Khái quát về chính sách thuế và quản lý thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ

Kinh tế chia sẻ được đề xuất đầu tiên vào năm 1978 bởi giáo sư xã hội học người Mỹ, Marcus Felson và Joe L. Spaeth[1], thông qua sự phát triển của công nghệ internet, nền tảng bên thứ ba phát triển nhanh chóng làm cầu nối cho người có nguồn cung tài sản, dịch vụ và người có nhu cầu. Kinh tế chia sẻ phá vỡ ranh giới về thời gian và không gian, giải quyết vấn đề lãng phí tài nguyên do bất cân xứng thông tin giữa cung và cầu gây ra, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

“Mô hình kinh tế chia sẻ là mô hình tổ chức và thực hiện hoạt động kinh doanh kết hợp giữa sở hữu và chia sẻ dựa trên nền tảng và các ứng dụng công nghệ, mà ở đó tài sản và dịch vụ được chia sẻ cho nhiều người sử dụng trên thị trường thông qua việc sử dụng các nền tảng số”[2].

Mô hình này gồm 03 bên: (i) Bên cung cấp dịch vụ, tài sản; (ii) Bên cung cấp nền tảng số; (iii) Bên khách hàng[3]. Kinh tế chia sẻ hiện diện ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như vận tải, lưu trú, trao đổi tài sản, trao đổi lao động… Liên quan đến thuế, có thể phân loại kinh tế chia sẻ theo đối tượng chia sẻ gồm nền tảng lao động và nền tảng vốn, trong đó, nền tảng lao động kết nối khách hàng với lực lượng lao động, nền tảng vốn liên kết khách hàng với những người sẵn sàng cho thuê hoặc trao đổi tài sản của họ[4].

Mô hình kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh mới, phức tạp, tạo ra thách thức về thuế trên toàn cầu. Có thể điểm lại những thay đổi trong chính sách thuế và quản lý thuế ở nhiều quốc gia từ khi có sự hiện diện của mô hình kinh tế chia sẻ như sau:

Tại Úc, năm 2017, Chính phủ đã dỡ bỏ ngưỡng thuế hàng hóa và dịch vụ đối với các công ty chia sẻ xe[5]. Tại Brazil, tháng 02/2017, một thẩm phán Tòa án lao động ở Minas Gerais đã ra phán quyết rằng, tài xế Uber là nhân viên[6]. Tại Canada, vụ kiện được đệ trình ở Ontario đòi bồi thường 200 triệu USD thay mặt cho bất kỳ người nào đã lái xe cho Uber kể từ năm 2012, với lý do rằng, họ đã bị phân loại sai là nhà thầu[7].

Tại các bang ở Hoa Kỳ, như: (i) Atlanta và Georgia, năm 2017, đề xuất bổ sung thuế doanh thu 4% cho mỗi chuyến đi và mỗi thành phố sẽ thêm thuế riêng của mình; (ii) California, năm 2016, sau khi giải quyết vụ kiện phân loại sai nhân viên, các tài xế Uber vẫn được phân loại là nhà thầu độc lập; (iii) Hawaii, năm 2017, đề xuất giá vé đi chung xe phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 4,75% tại điểm bán; (iv) Tiểu bang Massachusetts, năm 2016, chính quyền tiểu bang đã áp dụng mức thuế 0,2 USD cho mỗi chuyến đi đặt hàng thông qua các dịch vụ gọi xe dành riêng cho chi tiêu cho lĩnh vực taxi truyền thống[8].

Liên minh châu Âu cũng tổ chức hàng loạt các chương trình nghị sự để giải quyết vấn đề về thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ như: (i) Tháng 6/2016, Ủy ban châu Âu đã trình bày một thông cáo có tựa đề “Chương trình nghị sự châu Âu về nền kinh tế hợp tác”[9], trong đó nhấn mạnh mô hình kinh tế chia sẻ dẫn đến việc xóa mờ ranh giới giữa người tiêu dùng và nhà cung cấp hoặc việc cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, từ đó gây ra những vấn đề về thuế;
(ii) Ngày 11/5/2017, Nghị viện châu Âu đã trình bày dự thảo luật nghị quyết về chương trình nghị sự châu Âu về nền kinh tế hợp tác[10]; (iii) Vào tháng 3/2018, Ủy ban châu Âu đã ban hành thuế dịch vụ kỹ thuật số và có kế hoạch áp dụng mức thuế đặc biệt 3% đối với doanh thu được tạo ra từ các hoạt động được thực hiện thông qua công nghệ kỹ thuật số.

Tại Việt Nam, năm 2017, Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh truy thu thuế Uber[11]. Năm 2018, Uber kiện Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh[12]. Năm 2018, tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Công ty Cổ phần Ánh Dương Việt Nam (Vinasun) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Grab, trong 05 cáo buộc phía nguyên đơn, Công ty Cổ phần Ánh Dương Việt Nam có đưa ra vấn đề về thuế, theo đó, phía nguyên đơn cho rằng, việc thu thuế giữa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kết nối vận tải và mô hình kinh doanh truyền thống không phù hợp, Vinasun phải đóng thuế nhiều hơn và chính sách thuế này vi phạm nguyên tắc trung lập về thuế. Năm 2020, tài xế xe công nghệ tắt ứng dụng và tập trung trước trụ sở của Grab để phản đối chính sách khấu trừ thuế mới[13].

Những vấn đề về thuế đặt ra trên toàn cầu, điều đó cho thấy, các vấn đề trên có nguyên nhân từ bản chất của mô hình kinh tế chia sẻ chứ không phải là một vấn đề thuộc về thể chế, pháp lý riêng biệt của một quốc gia nơi mô hình kinh tế đó vận hành. Có thể thấy, những thách thức về thuế trên thực tế xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Một là, các bên trong mô hình kinh tế chia sẻ không đồng nhất, có thể là các doanh nghiệp và cũng có thể là những cá nhân không chuyên. Vì vậy, gây khó khăn cho việc xác định chủ thể nộp thuế, loại thuế, ngưỡng thuế, việc đánh thuế phải bảo đảm tính công bằng, trung lập về thuế và tránh thất thu thuế.

Hai là, sự phát triển của công nghệ, việc kết nối giúp xóa khoảng cách không gian giữa các bên tham gia mô hình kinh tế chia sẻ, vì vậy, quy mô hoạt động của mô hình kinh tế chia sẻ vượt khỏi biên giới quốc gia, tạo ra thách thức về thuế đối với nhà quản lý trong việc đánh thuế các giao dịch xuyên biên giới như thế nào để công bằng, không đánh thuế hai lần, xác định được thẩm quyền về thuế.

Ba là, quy mô của mô hình kinh tế chia sẻ rộng nhưng những người tham gia phần lớn là nhỏ, lẻ không chuyên. Vì thế, nếu không xác định loại thuế và thủ tục đăng ký, kê khai, thu, nộp thuế phù hợp thì việc đánh thuế, kiểm tra, giám sát các bên tham gia trong việc tuân thủ thuế sẽ gây tốn kém chi phí cho xã hội.

Bốn là, bản chất giao dịch trong mô hình kinh tế chia sẻ không đồng nhất, có những giao dịch miễn phí bên cạnh những giao dịch tính phí. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là, làm thế nào để kiểm soát, phân loại các giao dịch nhằm xác định chủ thể phải nộp thuế và kiểm soát được việc “rửa tiền” hay các giao dịch ngầm “núp bóng” kinh tế chia sẻ không thu phí.

Năm là, khó xác định người tham gia chia sẻ sức lao động là người lao động hay nhà thầu để xác định chính sách thuế.

2. Chính sách thuế và quản lý thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam hiện nay

2.1. Chính sách thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam, chính sách thuế là như nhau, không có sự phân biệt giữa mô hình kinh tế chia sẻ và mô hình kinh doanh truyền thống. Cụ thể:

Thứ nhất, đối với doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật Việt Nam, có thể chia làm 02 nhóm:

- Doanh nghiệp có doanh thu hàng năm từ 01 tỷ đồng trở lên: (i) Kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, mức thuế suất tương ứng với từng loại hàng hóa, dịch vụ; (ii) Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ, nếu tổng doanh thu hàng năm không quá 20 tỷ đồng áp dụng mức thuế suất 20%, từ 20 tỷ đồng trở lên áp dụng mức thuế suất 22%[14].

- Doanh nghiệp có doanh thu hàng năm không quá 01 tỷ đồng: (i) Kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp hoặc tự nguyện chọn phương pháp khấu trừ thuế với tỷ lệ % tương ứng với từng hoạt động quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng; (ii) Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp kê khai, mức thuế suất 20% trên thu nhập chịu thuế.

Thứ hai, đối với nhà thầu nước ngoài: Chủ thể này do không có hiện diện thương mại tại Việt Nam, vì vậy, người mua sản phẩm là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, tổ chức đăng ký hoạt động theo pháp luật Việt Nam, tổ chức khác và cá nhân sản xuất, kinh doanh, người mua có nghĩa vụ kê khai, khấu trừ và nộp thuế thay cho tổ chức nước ngoài số thuế nhà thầu phải nộp, hoặc nhà thầu nước ngoài có thể thông qua các đại lý thuế để thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định[15]. Đối với nhà thầu nước ngoài, hiện nay, có ba vấn đề về thuế đặt ra:

(i) Nhà thầu nước ngoài chỉ nộp được thuế thu nhập doanh nghiệp theo phương thức trực tiếp do không quản lý được chi phí đầu vào ở nước ngoài và không có trụ sở thường trú tại Việt Nam, điều này tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.

(ii) Thiếu các cơ chế, chính sách quản lý các giao dịch thanh toán điện tử xuyên biên giới để có thể giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tác nước ngoài tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Cơ quan thuế đang trở nên thụ động và cần sự phối hợp tích cực của các bên tham gia trong việc kê khai, cung cấp thông tin. Việc thu thuế phụ thuộc vào sự trung thực của người nộp thuế, vì vậy, tình trạng gian lận về thuế hoàn toàn có thể xảy ra.

(iii) Việc quy định trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ trong nước có nghĩa vụ kê khai và nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài là khó khả thi bởi Việt Nam đã tham gia ký kết 76 hiệp định về tránh đánh thuế hai lần nên các quy định về nộp thuế sẽ tuân thủ theo quy định tại các hiệp định này.

Thứ ba, đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh: Hiện nay, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán và không phân biệt kinh doanh theo hình thức truyền thống hay hình thức kinh tế chia sẻ, cũng như không phân biệt giữa chia sẻ nền tảng lao động và chia sẻ nền tảng vốn đều thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân nếu có phát sinh doanh thu từ trên 100 triệu đồng/năm trở lên và mức thuế suất tùy theo lĩnh vực. Nhận dạng được quan hệ giữa doanh nghiệp kết nối và người tham gia chia sẻ sức lao động là quan hệ lao động hay quan hệ đối tác hay một quan hệ mới cần định nghĩa là vấn đề cốt lõi để giải quyết vấn đề về đánh thuế công bằng.

2.2. Quản lý thuế đối với mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

Thứ nhất, về tuyên truyền kiến thức thuế: Mô hình kinh tế chia sẻ có đặc điểm là những người tham gia chia sẻ phần lớn không chuyên doanh, họ không có kiến thức về thuế, kiến thức này lại không phải kiến thức phổ thông mà là chuyên ngành phức tạp. Việc tuyên truyền kiến thức thuế là giải pháp cho việc nâng cao tuân thủ thuế của người tham gia mô hình kinh tế chia sẻ nhưng hiện nay, vẫn chưa được chú trọng.

Thứ hai, về đăng ký thuế: Đăng ký thuế là bước đầu của quá trình nộp thuế và là khâu quan trọng của hoạt động quản lý thuế. Cũng như các hoạt động kinh doanh truyền thống khác, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trước khi thực hiện kinh doanh theo mô hình kinh tế chia sẻ phải thực hiện đăng ký với cơ quan thuế để được cấp mã số thuế. Tuy nhiên, do đặc thù của kinh tế chia sẻ với quy mô rộng lớn, người tham gia nhỏ, lẻ, kết nối đơn giản, đôi khi chỉ cần một trang mạng xã hội cũng có thể kết nối người bán và người mua. Ngoài ra, nhà quản lý còn phải phân định giữa giao dịch chia sẻ không tính phí và giao dịch chia sẻ tính phí để xác định nghĩa vụ thuế. Vì vậy, kiểm soát việc đăng ký thuế là một thách thức lớn đặt ra.

Thứ ba, về hóa đơn, chứng từ nộp thuế: Các quy định về hóa đơn và chứng từ nộp thuế tại Việt Nam tương đối hoàn chỉnh. Theo đó, tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không phân biệt mô hình kinh doanh có nghĩa vụ lập và giao hóa đơn cho người mua. Tuy nhiên, trong kinh tế chia sẻ, khó kiểm soát các giao dịch trên thực tế có lập hóa đơn và chứng từ nộp thuế hay không, đặc biệt là mô hình kinh tế chia sẻ không tính phí.

Thứ tư, về nghĩa vụ kê khai, tính thuế: Một ưu điểm của kinh tế chia sẻ là việc kết nối thực hiện trên môi trường internet, vì vậy, sẽ lưu vết các giao dịch. Việc quy định các doanh nghiệp kinh doanh kết nối cung cấp thông tin giao dịch cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ thuế như hiện nay là phù hợp. Tuy nhiên, còn một số vấn đề đặt ra như: (i) Do một số hoạt động của kinh tế chia sẻ có đặc thù riêng và có tính đan xen giữa các ngành nên ngành thuế gặp khó khăn trong việc xác định doanh thu của cơ sở để nộp thuế do các giao dịch của họ chủ yếu là các văn bản điện tử nên phụ thuộc rất nhiều vào sự trung thực của các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh. (ii) Khai thuế gặp khó khăn khi hệ thống pháp luật chưa ghi nhận loại hình kinh doanh này và các cơ quan thuế lúng túng khi xác định bản chất giao dịch để áp thuế. Như, start-up Log Lag đang gặp vấn đề về kê khai thuế, do hệ thống pháp luật chưa ghi nhận loại hình doanh nghiệp công nghệ trong lĩnh vực vận tải hàng hóa. Hay trường hợp, Công ty Luxstay Việt Nam hoạt động theo mô hình chia sẻ căn hộ[16]. (iii) Khó kiểm soát doanh thu, cơ sở tính thuế khi hoạt động thanh toán vẫn chủ yếu bằng tiền mặt.

3. Một số khuyến nghị

Thứ nhất, quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kết nối khai báo các giao dịch của mô hình kinh tế chia sẻ để xác định chủ thể nộp thuế trong mô hình kinh tế chia sẻ.

Chủ thể tham gia mô hình kinh tế chia sẻ thường có quy mô nhỏ. Sự tham gia không thường xuyên và quy mô nhỏ của nhiều người chia sẻ, không phải lúc nào họ cũng được coi là đang tiến hành hoạt động kinh doanh hoặc thương mại. Vì vậy, cần chọn lọc và loại bỏ mọi nghĩa vụ pháp lý đối với người bán trong việc báo cáo thu nhập của họ cho cơ quan thuế khi hoạt động của họ không phải hoạt động thương mại. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Úc, các hoạt động không thường xuyên mang tính dân sự không có bất kỳ nghĩa vụ thuế hoặc báo cáo nào và được loại khỏi mạng lưới thuế. Hoặc, việc bán lại các vật dụng cá nhân đã qua sử dụng trên nền tảng thị trường trực tuyến, thông thường cũng không bị đánh thuế vì chúng thường được bán lỗ.

Để cơ quan thuế có thể chọn lọc, xác định người nộp thuế thì tất cả các hoạt động của kinh tế chia sẻ phải được khai báo với cơ quan thuế. Nhiều quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ và Canada đều yêu cầu báo cáo tất cả thu nhập của kinh tế chia sẻ cho cơ quan thuế. Để quá trình khai báo này được đầy đủ, giảm chi phí cho xã hội thì nên quy định các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối phải có nghĩa vụ khai báo thay cho người chia sẻ hàng hóa, dịch vụ, sức lao động.

Để xác định chủ thể nộp thuế, cần có quy định kinh doanh dịch vụ kết nối phải đăng ký doanh nghiệp, kể cả tính phí và không tính phí. Tác giả cho rằng, cần có một nền tảng tập trung cho những hoạt động chia sẻ không thu phí. Điều này cũng giúp phòng, chống rửa tiền, kinh tế ngầm, trốn thuế, tránh thuế thông qua nền tảng chia sẻ không thu phí. Doanh nghiệp cung cấp nền tảng kết nối bắt buộc phải khai báo. Có thể tham khảo kinh nghiệm từ pháp luật về thuế của Mỹ và Canada về vấn đề này[17].

Thứ hai, nhận diện quan hệ lao động đối với mô hình kinh tế chia sẻ nền tảng lao động để xác định chính sách thuế đối với bên chia sẻ sức lao động.

Cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp có thu nhập như nhau theo nguyên tắc mọi người đều phải là đối tượng chịu thuế và thuế phải được tính đối với doanh thu vượt quá một ngưỡng nhất định. Tuy nhiên, cần phải có ngoại lệ trong trường hợp chia sẻ lao động. Theo đó, cần xác định quan hệ giữa người chia sẻ sức lao động và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kết nối là quan hệ lao động hay quan hệ đối tác để xác định những khoản phúc lợi và nghĩa vụ thuế của người tham gia chia sẻ sức lao động.

Tác giả cho rằng, khi đã có quy định về nhận diện hợp đồng lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019 thì quan hệ giữa người tham gia chia sẻ sức lao động và doanh nghiệp kinh doanh kết nối là quan hệ lao động. Theo đó, cần có hướng dẫn rõ ràng để thực thi quy định này trong đời sống xã hội. Người chia sẻ sức lao động thực chất là người lao động nhưng hiện nay, họ phải chịu thuế như cá nhân kinh doanh với ngưỡng thuế 100 triệu/năm, thuế suất tùy theo lĩnh vực được quy định tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế. Chính sách thuế này chưa thực sự phù hợp bởi: (i) Ngưỡng thuế chia bình quân theo tháng là 8,33 triệu đồng so với ngưỡng thuế của người lao động với 11 triệu đồng/tháng là thấp hơn; (ii) Người lao động được áp dụng miễn trừ gia cảnh trước khi xác định thu nhập chịu thuế; (iii) Nếu tính theo thuế khoán dành cho cá nhân kinh doanh thì cũng là bất cập vì người chia sẻ lao động không được trừ những chi phí mình bỏ ra khi xác định ngưỡng thuế. Như vậy, cần công nhận người tham gia chia sẻ sức lao động là người lao động và áp dụng chính sách thuế như người lao động.

Thứ ba, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kết nối hoạt động như một đại lý thuế có thu, làm trung gian thu thuế người bán/cung ứng dịch vụ hay người chia sẻ.

Tham khảo kinh nghiệm từ Ấn Độ và Anh[18], yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kết nối tính thuế và nộp thay cho người bán/cung ứng dịch vụ. Hiện tại, ở Việt Nam cũng đang áp dụng cách thức này. Tuy nhiên, sẽ hiệu quả hơn nếu cho phép các doanh nghiệp này được hưởng lợi từ hoạt động đại lý thuế đó.

Khó khăn khi áp dụng giải pháp này có thể gặp phải là khi đánh thuế vào thu nhập của người nộp thuế cần phải tổng hợp tất cả thu nhập kiếm được và khấu trừ chi phí trước khi áp dụng lộ trình miễn trừ và thuế suất biên thích hợp. Nếu toàn bộ thu nhập của một cá nhân kiếm được trên một nền tảng duy nhất, các nền tảng có thể khấu trừ thuế thu nhập sau khi khấu trừ ước tính chi phí hoặc nếu các cá nhân cung cấp hồ sơ chi phí cho nền tảng. Tuy nhiên, người chia sẻ kiếm được một lượng thu nhập nhỏ thông qua nhiều hoạt động chia sẻ bên cạnh thu nhập chính hoặc tham gia vào cùng một hoạt động trên nhiều nền tảng khác nhau và các nền tảng không có thông tin đầy đủ về tổng thu nhập và chi phí của người bán và do đó, không thể thực hiện việc khấu trừ như vậy. Giải pháp được đặt ra là, người nộp thuế ủy quyền cho một doanh nghiệp tính thuế và phải cung cấp đầy đủ thông tin về thu nhập của mình ở những nơi khác.

Thứ tư, đơn giản hóa thủ tục nhằm đơn giản hóa tuân thủ thuế của người nộp thuế và ứng dụng công nghệ trong quản lý thuế để giảm chi phí quản lý thuế và tuân thủ thuế.

Để đạt được mức thuế hiệu quả hơn trong nền kinh tế chia sẻ, điều quan trọng nhất là đơn giản hóa việc tuân thủ của người nộp thuế. Nếu việc tuân thủ hệ thống dễ dàng thì khả năng người nộp thuế thực sự tuân thủ sẽ cao hơn. Do vậy, cần đẩy mạnh khai thác công nghệ để cải thiện quản lý thuế. Theo đó, cần đơn giản hóa thủ tục trong quản lý thuế và ứng dụng công nghệ AI trong quản lý thuế để người nộp thuế có thể tuân thủ thuế dễ dàng.

Thứ năm, kiểm soát dòng tiền thanh toán bằng quy định bắt buộc thanh toán không bằng tiền mặt đối với các giao dịch của kinh tế chia sẻ.

Như đã đề cập ở phần trên, bản chất giao dịch trong mô hình kinh tế chia sẻ không đồng nhất, có những giao dịch miễn phí bên cạnh những giao dịch có tính phí dẫn đến việc có thể xuất hiện hiện tượng kinh tế ngầm, phi chính thức diễn ra “núp bóng” dưới những giao dịch không tính phí nên thách thức trong việc kiểm soát dòng tiền thanh toán để xác định chính xác nghĩa vụ thuế. Vì vậy, việc kiểm soát dòng tiền thanh toán bằng quy định bắt buộc thanh toán không bằng tiền mặt đối với các giao dịch của kinh tế chia sẻ là cần thiết.

Thứ sáu, thuế dịch vụ kỹ thuật số và các hiệp định về thuế để giải quyết vấn đề thuế đối với các giao dịch xuyên biên giới.

Cần nghiên cứu thuế dịch vụ kỹ thuật số và tham gia các hiệp định đa phương về thuế để giải quyết việc đánh thuế đối với các giao dịch xuyên biên giới. Theo Bộ Tài chính, nằm trong xu hướng trên, Việt Nam cũng đã sớm cân nhắc tới việc đánh thuế lên dịch vụ kỹ thuật số[19].

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc

Giảng viên Trường Đại học Tài chính - Marketing;

Nghiên cứu sinh tại Đại học Kinh tế - Luật,

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Zhijian Yu, Hefei Bai (2017), Research on Tax Issues of Shared Economic Business Model, Advances in Social Science, Education and Humanities Research (ASSEHR), volume 95.

[2]. Chu Thị Hoa (2022), Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mô hình kinh tế chia sẻ ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr. 19.

[3]. Chu Thị Hoa (2022), tlđd, tr. 18.

[4]. Kristoffersson, E. (2019) How to Tax The Sharing Economy In: Proceedings of the GSRD INTERNATIONAL CONFERENCE (pp. 30-35). World research library, http://urn.kb.se/resolve?urn=urn:nbn:se:oru:pa-75678, truy cập ngày 28/12/2023.

[5]. Uber B.V. v Commissioner of Taxation [2017] FCA 110, Link: https://www.ato.gov.au/law/view/pdf/misc-case/rdr_2017fca110.pdf, truy cập ngày 28/12/2023.

[6]. DigWatch (2017), New court ruling in Brazil says that Uber drivers are employees, https://dig.watch/updates/new-court-ruling-brazil-says-uber-drivers-are-employees. https://www.reuters.com/article/us-uber-tech-brazil-labor-idINKBN15T2OC/, truy cập ngày 28/12/2023.

[7]. Uber launches lawsuit over 'bad faith' council vote, calls on court to overturn ridesharing cap, https://toronto.ctvnews.ca/uber-launches-lawsuit-over-bad-faith-council-vote-calls-on-court-to-overturn-ridesharing-cap-1.6672787, truy cập ngày 28/12/2023.

[8]. Aqib Aslam and Alpa Shah (2017), Taxation and the Peer-to-Peer Economy, IMF working papers, https://www.imf.org/en/Publications/WP/Issues/2017/08/08/Taxation-and-the-Peer-to-Peer-Economy-45157, truy cập ngày 28/12/2023.

[9]. A European agenda for the collaborative economy, https://policycommons.net/artifacts/1340001/a-european-agenda-for-the-collaborative-economy/1950091/, truy cập ngày 28/12/2023.

[10]. EU (2017), REPORT on a European Agenda for the collaborative economy,

https://www.europarl.europa.eu/doceo/document/A-8-2017-0195_EN.html, ngày truy cập 28/12/2023.

[11]. A. Hồng (2017), Uber bị truy thu thuế hơn 66.68 tỷ đồng tại Việt Nam, https://tuoitre.vn/uber-bi-truy-thu-thue-hon-6668-ti-dong-tai-viet-nam-2017092309291164.htm, truy cập ngày 07/12/2023.

[12]. A. Hồng (2018), sao Uber kiện Cục Thuế TP.HCM ra tòa, https://tuoitre.vn/vi-sao-uber-kien-cuc-thue-tp-hcm-ra-toa-20180325214551946.htm, truy cập ngày 07/12/2023.

[13]. Duy Vũ (2020), Hàng trăm tài xế Grab tắt ứng dụng, biểu tình vì mức khấu trừ mới, https://vietnamnet.vn/hang-tram-tai-xe-grab-tat-ung-dung-bieu-tinh-vi-muc-khau-tru-moi-i271641.html, truy cập ngày 07/12/2023.

[14]. Điều 12 Thông tư số 14/VBHN-BTC ngày 09/5/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng, Điều 10 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

[15]. Điều 4 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam.

[16]. Anh Hoa (2019), Khi start-up không chờ Sandbox, https://baodautu.vn/khi-start-up-khong-cho-sandbox-d110416.html, truy cập ngày 07/01/2024.

[17]. Aqib Aslam and Alpa Shah (2017), Taxation and the Peer-to-Peer Economy, IMF working Paper, https://www.imf.org/en/Publications/WP/Issues/2017/08/08/Taxation-and-the-Peer-to-Peer-Economy-45157, truy cập ngày 28/12/2023.

[18]. Aqib Aslam and Alpa Shah (2017), Taxation and the Peer-to-Peer Economy, IMF working Papers, https://www.imf.org/en/Publications/WP/Issues/2017/08/08/Taxation-and-the-Peer-to-Peer-Economy-45157, truy cập ngày 28/12/2023.

[19]. Bộ Tài chính (2020), Xu hướng đánh thuế dịch vụ kỹ thuật số trên toàn cầu, https://mof.gov.vn/webcenter/portal/btcvn/pages_r/l/tin-bo-tai-chinh?dDocName=MOFUCM186238, truy cập ngày 28/12/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 397), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: