Thứ năm 25/06/2026 19:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về tội gây ô nhiễm môi trường

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội gây ô nhiễm môi trường; qua đó, kiến nghị một số vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội gây ô nhiễm môi trường; qua đó, kiến nghị một số vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định này.

Abstract: The article analyzes and evaluates the advantages and limitations of the provisions of the Penal Code of 2015 (amended and supplemented in 2017) on the crime of causing environmental pollution; thereby, proposes a number of issues to improve these regulations.

1. Dẫn nhập

Với việc nội luật hóa Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) năm 2001 (Việt Nam tham gia ký kết công ước ngày 23/5/2001 và phê chuẩn Công ước ngày 22/7/2002) và cụ thể hóa các hành vi vi phạm, quy định mức định lượng vi phạm cụ thể để xử lý trách nhiệm hình sự thay cho quy định mang tính chất định tính trước đây… cho thấy, quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội gây ô nhiễm môi trường đã bảo đảm tính khả thi và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng vào thực tiễn. Song, bên cạnh đó, các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội gây ô nhiễm môi trường vẫn còn một số vấn đề cần trao đổi, làm rõ và có những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện để đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả khi áp dụng.

2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội gây ô nhiễm môi trường

Thứ nhất, về hành vi khách quan của tội phạm.

Theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi khách quan của tội gây ô nhiễm môi trường thể hiện ở các dạng hành vi vi phạm liên quan đến việc chôn, lấp, đổ, thải, xả thải, phát tán ra môi trường trái pháp luật các loại chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật hoặc có chứa chất phải loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, chất thải rắn thông thường, chất thải rắn có chứa chất phóng xạ, nước thải, khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường… Đây là những hành vi vi phạm diễn ra phổ biến, trực tiếp gây ô nhiễm đất, nước, không khí (những thành phần cơ bản, quan trọng của môi trường). Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định những hành vi vi phạm này là tội phạm là phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường và thực tiễn hiện nay. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có một số hành vi gây ô nhiễm môi trường diễn ra cũng khá phổ biến, đang gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật, tự nhiên và diễn biến ngày càng phức tạp, nghiêm trọng, như: Thải bụi có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường; xả nước thải có chứa thông số vi sinh vật (Salmonclla, Shigella, Vibrio cholerae) theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế hoặc xả nước thải có nồng độ pH nằm ngoài ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật; gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường… Đây là các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo vệ môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và được quy định cụ thể với các chế tài xử lý hành chính theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 55/2021/NĐ-CP ngày 24/5/2021 của Chính phủ), nhưng chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử lý về hình sự. Do đó, để bảo đảm tính dự báo và tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý với chế tài nghiêm khắc hơn, việc bổ sung các hành vi vi phạm này với những điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể vào trong cấu thành tội phạm của tội gây ô nhiễm môi trường là vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu.

Thứ hai, về dấu hiệu định tội và định khung của tội phạm.

Định lượng các loại chất thải, nước thải, khí thải đối với từng hành vi vi phạm là dấu hiệu định tội và định khung tăng nặng của tội gây ô nhiễm môi trường. Đây là điểm sửa đổi, bổ sung đáng lưu ý nhằm bảo đảm tính minh bạch, thống nhất của quy định, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm. Mức định lượng cụ thể được quy định tại cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng của tội phạm là phù hợp.

Dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hoặc đã bị kết án về tội gây ô nhiễm môi trường, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm được quy định là dấu hiệu định tội trong một số trường hợp cụ thể. Đây là điểm mới trong đường lối xử lý đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Với quy định này, việc xử lý các hành vi vi phạm sẽ nghiêm khắc, mang tính răn đe hơn, tránh trường hợp các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây ô nhiễm môi trường liên tục, nhiều lần nhưng lại không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do mỗi lần vi phạm chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Bên cạnh các dấu hiệu mang tính định lượng khác, điểm e khoản 2 và khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” và “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” là dấu hiệu độc lập để định khung hình phạt cho người phạm tội. Rõ ràng, để thống nhất trong nhận thức và cả thực tiễn áp dụng, đòi hỏi Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần có những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Thứ ba, về hình phạt.

Phạt tiền được quy định là hình phạt chính trong cấu thành cơ bản và tất cả cấu thành tăng nặng của tội phạm; mức phạt tiền được quy định cao hơn (kể cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung) so với quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 1999, trong khi hình phạt tù có thời hạn được quy định ít nghiêm khắc hơn. Quy định về hình phạt đối với tội gây ô nhiễm môi trường hiện hành phù hợp với mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã đặt ra, đó là “giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền… đối với một số loại tội phạm”[1], trong đó có các tội phạm về môi trường. Việc mở rộng áp dụng phạt tiền đối với các tội phạm về môi trường, trong đó có tội gây ô nhiễm môi trường sẽ là xu hướng tất yếu trong chính sách hình sự đối với loại tội phạm này thời gian tới.

Tuy nhiên, việc quy định mức phạt tù có thời hạn đối với tội gây ô nhiễm môi trường theo hướng ít nghiêm khắc hơn lại là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu. Mức phạt tù có thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cao nhất là đến 07 năm tù (trước đây là đến 10 năm). Theo cách phân loại tội phạm quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cấu thành tội phạm nặng nhất của tội gây ô nhiễm môi trường chỉ là tội phạm nghiêm trọng. Với việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao nhất của tội phạm chỉ là loại tội phạm nghiêm trọng, tác giả cho rằng chưa phù hợp với hậu quả thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường đã, đang và sẽ gây ra cho con người và môi trường sinh thái tự nhiên. Trên phương diện quốc tế, một số quốc gia đã có những hoạt động pháp lý để các thành viên của Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) chấp nhận hành vi hủy diệt môi trường là tội phạm hình sự quốc tế (bên cạnh tội diệt chủng, tội ác chống lại nhân loại, tội phạm chiến tranh và tội xâm lược) để có thể xử lý bằng các chế tài nghiêm khắc hơn. Dưới góc độ phòng ngừa tội phạm, mức hình phạt 07 năm tù là chưa đủ sức răn đe các đối tượng đang có ý định phạm tội. Ngoài ra, thời hạn điều tra (xác định theo loại tội phạm) sẽ ngắn hơn, trong khi phương thức, thủ đoạn phạm tội, che giấu tội phạm của các đối tượng, nhất là pháp nhân thương mại ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn, điều này sẽ gây khó khăn nhất định cho quá trình điều tra các vụ án gây ô nhiễm môi trường xảy ra. Từ những lý do trên, việc nghiên cứu, nâng mức hình phạt tù có thời hạn đối với tội gây ô nhiễm môi trường là vấn đề cần được đặt ra.

Thứ tư, trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.

Tội gây ô nhiễm môi trường là một trong 09 tội danh thuộc các tội phạm về môi trường mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự[2]. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại về tội gây ô nhiễm môi trường theo quy định tại khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cần xác định có hành vi gây ô nhiễm môi trường xảy ra thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và phải bảo đảm đủ các điều kiện cụ thể, như: Hành vi gây ô nhiễm môi trường được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi gây ô nhiễm môi trường được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi gây ô nhiễm môi trường được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vấn đề phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại nói chung để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm cụ thể, trong đó có tội gây ô nhiễm môi trường cũng chưa có sự thống nhất về mặt nhận thức. Có quan điểm cho rằng, căn cứ vào Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và quy định về hình phạt đối với pháp nhân thương mại thì chỉ có thể phân loại tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng. Tác giả cho rằng, quan điểm này chưa phù hợp. Theo quy định, việc phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại chỉ căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà không căn cứ vào mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt áp dụng cho pháp nhân thương mại phạm tội như trường hợp đối với người phạm tội, bởi lẽ: Trong các hình phạt chính được áp dụng đối với pháp nhân thương mại có các hình phạt đặc thù như đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn và được quy định là hình phạt cao nhất của khung hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại ở một số tội phạm, nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không có quy định về việc phân loại tội phạm dựa trên các hình phạt này; mặt khác, một số tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt áp dụng đối với pháp nhân thương mại là phạt tiền, nếu xác định đây chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng thì không hợp lý, bởi vì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong trường hợp này có thể tương ứng với loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với người phạm tội. Do đó, việc phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại phạm tội cần được xác định như sau: Nếu pháp nhân thương mại phạm tội theo điểm, khoản nào của điều luật và được viện dẫn tương ứng với khoản nào của cùng tội danh áp dụng cho người phạm tội, thì xác định loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại tương ứng với loại tội phạm đối với người phạm tội.

Với nhận thức đó và theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội theo điểm a khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm, vì khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là tội phạm ít nghiêm trọng, nên tương ứng với pháp nhân thương mại phạm tội theo điểm a khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng là tội phạm ít nghiêm trọng. Tương tự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo điểm b, c khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là 10 năm (cả hai trường hợp này đều là tội phạm nghiêm trọng).

Bên cạnh các trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội theo các khoản tương ứng đối với người phạm tội, tại điểm d khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Đây là trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra (ví dụ: Xả nước thải có chứa chất phóng xạ nguy hiểm trực tiếp ra biển, dẫn đến các sinh vật biển chết hàng loạt, môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng, phá hủy toàn bộ hệ sinh thái vùng biển đó mà không thể khắc phục được)[3] hoặc pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm. Các vấn đề cụ thể này cần có sự hướng dẫn để áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Mặt khác, trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội theo điểm d khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì sẽ thuộc loại tội phạm nào để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được chính xác, bởi vì, pháp nhân thương mại phạm tội trong trường hợp này không tương ứng với khoản cụ thể nào của Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với người phạm tội như các trường hợp phạm tội theo điểm a, b và c khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội gây ô nhiễm môi trường

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các vấn đề còn hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội gây ô nhiễm môi trường, để hoàn thiện các quy định này đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, tác gải có một số kiến nghị sau:

Một là, khi có yêu cầu sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cần nghiên cứu, bổ sung một số dạng hành vi gây ô nhiễm môi trường vào trong cấu thành của tội phạm để xử lý về hình sự, như: Thải bụi có chứa các thông số môi trường nguy hại vào môi trường; xả nước thải có chứa thông số vi sinh vật (Salmonella, Shigella, Vibrio cholerae) theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế hoặc xả nước thải có nồng độ pH nằm ngoài ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật; gây tiếng ồn, độ rung vượt mức cho phép theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường… Đồng thời, cần nâng mức hình phạt tù đối với tội gây ô nhiễm môi trường với mức hình phạt cao nhất thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; phù hợp với tính chất, mức độ của nhóm tội phạm[4] và bảo đảm xử lý nghiêm khắc tội phạm xảy ra.

Hai là, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn một số vấn đề sau: Xác định như thế nào là “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” trong cấu thành tăng nặng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); thống nhất về mặt nhận thức đối với trường hợp có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội quy định tại Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); thống nhất về mặt nhận thức việc phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại để làm cơ sở xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội nói chung và phạm tội gây ô nhiễm môi trường nói riêng, đặc biệt là trường hợp phạm tội theo điểm d khoản 5 Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

TS. Hồ Thanh Giang
Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Xem Tờ trình số 186/TTr-CP ngày 27/4/2015 về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

[2]. Xem Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3]. Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

[4]. Theo thống kê, trong 12 tội danh thuộc các tội phạm về môi trường, có 04 tội danh có mức cao nhất của khung hình phạt thuộc loại tội phạm nghiêm trọng và 08 tội danh có mức cao nhất của khung hình phạt thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: