Thứ ba 03/03/2026 20:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh

Địa giới hành chính được quy định tại Điều 29 Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính các cấp.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp. Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa và lập hồ sơ về địa giới hành chính trong phạm vi địa phương. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa tại địa phương; trường hợp mốc địa giới hành chính bị mất, xê dịch hoặc hư hỏng phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tiễn cho thấy pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Bài viết đã chỉ ra thực trạng và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương.

Trong hệ thống tổ chức hành chính ở Việt Nam, hai cấp cơ sở, gần dân là cấp huyện, cấp xã - được thành lập để bảo đảm thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương trên cơ sở chỉ đạo, điều hành của đơn vị hành chính trung ương và đơn vị hành chính cấp tỉnh. Để thực hiện các hoạt động liên quan đến việc xác lập, thay đổi địa giới hành chính hai cấp này, các cấp chính quyền dựa vào hệ thống pháp luật về chính quyền địa phương, địa giới hành chính. Đó là công cụ để điều chỉnh các quan hệ, thủ tục thành lập mới, giải thể, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh (sau đây gọi chung là xác lập, điều chỉnh) địa giới hành chính giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ và các bộ liên quan) và địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Nội vụ và các sở, ngành liên quan); giữa chính quyền với nhân dân... Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp nói chung và dưới cấp tỉnh nói riêng đã được hoàn chỉnh cơ bản đầy đủ. Từ năm 2002 đến nay, Chính phủ tập trung chỉ đạo, điều hành và hoàn chỉnh pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính đô thị dưới cấp tỉnh; sự thay đổi mang tính chất hệ thống về địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã thực hiện trước năm 2002 khi mà đất nước mới được thống nhất và đặc biệt sau khi hàng loạt tỉnh được tách ra sau quá trình sáp nhập. Sau năm 2002 đến trước khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua,việc xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính đối với hai loại đơn vị hành chính này được tiến hành trong phạm vi từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên Quốc hội thông qua Luật số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 về Tổ chức chính quyền địa phương, trong đó quy định về chính quyền địa phương và các nội dung về địa giới hành chính các cấp, khẳng định thẩm quyền quyết định cuối cùng và quy định bao quát, cụ thể hóa nội dung liên quan đến tiêu chí phân loại địa giới hành chính các cấp; trình tự, thủ tục, phương thức xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp, trong đó có chính quyền dưới cấp tỉnh. Đây là văn bản pháp lý cao nhất quy định toàn diện về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và các hoạt động liên quan đến địa giới hành chính địa phương từ năm 1945 đến nay.

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua hai nghị quyết về phân loại đơn vị hành chính và đô thị[1]. Trong đó, lần đầu tiên các văn bản này đã có sự phân định rõ hơn các loại đơn vị hành chính đô thị và các tiêu chuẩn; loại đơn vị hành chính nông thôn, đơn vị hành chính đô thị và bổ sung đơn vị hành chính hải đảo.

Về các lĩnh vực pháp luật liên quan đến địa giới hành chính như đất đai, tài nguyên, quy hoạch, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để thể chế hóa tư tưởng mới của Hiến pháp năm 2013, như: Luật Đất đai năm 2013; Văn bản hợp nhất Luật Quy hoạch đô thị năm 2015 (sau khi sửa đổi theo Điều 140 Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Một số dự án luật vẫn đang được Chính phủ xây dựng như Luật về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật về quy hoạch. Như vậy, pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính cơ bản đã được hoàn thiện, đạt được những kết quả cụ thể sau:

1. Thực trạng về hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh

Thứ nhất, về thẩm quyền xây dựng, quyết định xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

- Về thẩm quyền quyết định xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Điều 129 quy định thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính, giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Về thẩm quyền xây dựng, trình đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính: Luật cũng giao cho Chính phủ và chính quyền địa phương trong việc xây dựng, thẩm định, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền và quyết định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính; phân loại đô thị; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính. Đối với cấp huyện, cấp xã, Chính phủ là chủ thể có thẩm quyền cao nhất xây dựng, trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định[2]. Trong đó, Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ giúp theo dõi, hướng dẫn và tổ chức thẩm định, hoàn chỉnh Đề án; giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cấp chính quyền ở địa phương xây dựng, trình Chính phủ (Bộ Nội vụ)[3].

Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bỏ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng Đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính là rất phù hợp với điều kiện thực tiễn. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ còn thẩm quyền quyết nghị tán thành hoặc không tán thành với “chủ trương” của Đề án mà không phải là Đề án trên, sau khi trên 50% nhân dân có ý kiến tán thành.

Mặt khác, Luật Tổ chức chính quyền địa phương vẫn còn một số điểm chưa rõ cần được hướng dẫn như Đề án hoàn chỉnh sau khi tiếp thu ý kiến nhân dân và “chủ trương” để lấy ý kiến Hội đồng nhân dân các cấp có phải là một, hay chủ trương ở đây được hiểu theo đúng nghĩa chỉ là những quan điểm, định hướng cơ bản của Đề án.

- Thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố vẫn được thực hiện theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Các quy hoạch này vẫn là cơ sở cho quy hoạch, xác lập đơn vị hành chính - quy hoạch về đơn vị hành chính sẽ là căn cứ để xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính[4]. Do đó, việc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tham gia vào việc quyết định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đơn vị hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ là thiếu sót về mặt thể chế và thẩm quyền.

Thứ hai, về nguyên tắc xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

Để khắc phục những hạn chế, bất cập về việc định hướng các hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính thời gian qua, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định 03 nhóm nguyên tắc cơ bản trong việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính nói chung, trong đó có cấp huyện, cấp xã tại Điều 128:

- Về định hướng xác lập đơn vị hành chính, Luật xác định nguyên tắc ổn định tổ chức và giảm bớt đầu mối quản lý nhà nước theo tinh thần cải cách hành chính. Khoản 1 Điều này quy định “đơn vị hành chính được tổ chức ổn định trên cơ sở các đơn vị hành chính hiện có. Khuyến khích việc nhập các đơn vị hành chính, cùng cấp”.

- Về điều kiện bảo đảm xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính, Luật đưa ra các điều kiện giới hạn “thực hiện trong các trường hợp cần thiết” (khoản 2 Điều 128).

- Luật xác định rõ hơn các trường hợp hạn chế việc giải thể đơn vị hành chính (khoản 3 Điều 128): Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương hoặc của quốc gia; do thay đổi các yếu tố địa lý, địa hình tác động đến sự tồn tại của đơn vị hành chính đó.

Như vậy, các quy định này vừa mang tính nguyên tắc định hướng, vừa mang tính chất là điều kiện pháp lý để xác định sự cần thiết khi xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp. Nó sẽ góp phần hạn chế tình trạng chia tách, thành lập mới các đơn vị hành chính trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, chúng chưa tạo ra được những khung pháp lý cần thiết để định hình các hoạt động xác định địa giới hành chính nói chung và dưới cấp tỉnh nói riêng. Đặc biệt, các nguyên tắc này chưa được cụ thể hóa bởi các quy định về quy trình, thủ tục và tiêu chí cho từng hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính.

Thứ ba, về xác định các tiêu chí của đơn vị hành chính các cấp là căn cứ để xác lập địa giới hành chính

Trên cơ sở các quy định trước đây của Chính phủ về tiêu chí và phân loại đơn vị hành chính các cấp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phân loại đô thị (Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13), Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính (Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13) đã cụ thể hóa chi tiết các tiêu chí phân loại đơn vị hành chính nhằm mục đích “là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính” (khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đây là những tiêu chí xác lập nên các đơn vị hành chính, do đó nó sẽ là mục tiêu hướng đến của các hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính.

Đối với các địa giới hành chính hình thành trước đó, khoản 1 Điều 31 Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 xác định nguyên tắc “không hồi tố” đối với các đơn vị hành chính đã thành lập, theo đó: Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính quy định tại Chương I của Nghị quyết này không áp dụng cho các đơn vị hành chính được thành lập trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành. Dường như quy định này vẫn theo tư duy trước về phân định đẳng cấp của các loại đơn vị hành chính, mà không nhằm mục tiêu quản lý nhà nước và hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại từ việc phân loại đơn vị hành chính (như phân bổ nguồn lực tài chính, cán bộ tương xứng với loại đơn vị hành chính theo tiêu chí phân loại).

Thứ tư, về quy trình, thủ tục xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

Về quy trình, thủ tục, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc đề xuất, xây dựng đề án thành lập, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những quy định mang tính chất xác định chủ thể chịu trách nhiệm và nội dung cơ bản. Các quy định hiện hành chưa làm rõ được quy trình, thủ tục xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính để bảo đảm tình chặt chẽ, hiệu quả của hoạt động này. Nếu xét về tầm quan trọng, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính có hiệu lực tương tự một văn bản quy phạm pháp luật, thì quy trình, thủ tục nêu trên là quá đơn giản so với quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, từ đó dễ dẫn đến sự tùy tiện, thiếu chặt chẽ trong chuẩn bị đề án.

Thứ năm, về việc lấy ý kiến nhân dân vào Đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

Điểm mới nữa so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính phải được lấy ý kiến của nhân dân là cử tri ở đơn vị hành chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính (Điều 131). Việc lấy ý kiến cử tri được thực hiện theo hình thức phát phiếu lấy ý kiến cử tri và nếu có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn tán thành thì cơ quan xây dựng đề án có trách nhiệm hoàn thiện đề án và gửi Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính có liên quan để lấy ý kiến (Điều 132). Dự thảo đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính sẽ được Hội đồng nhân dân có liên quan thảo luận, biểu quyết về việc tán thành hoặc không tán thành chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính theo trình tự từ cấp dưới lên cấp trên theo 03 cấp xã, huyện, tỉnh; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Bộ Nội vụ để tổng hợp, báo cáo Chính phủ và cấp có thẩm quyền quyết định.

Để triển khai quy định này, cần thiết phải có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa về cách thức triển khai việc lấy ý kiến nhân dân để bảo đảm sự thống nhất và đặc biệt là tránh sự hình thức như đã diễn ra ở một số nơi.

2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương

- Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương để thực thi toàn diện hơn nữa Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Hoàn thiện pháp luật về quy trình, thủ tục xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương cần phải tính đến các yếu tố được đổi mới về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo quy định mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, giảm bớt thủ tục xây dựng ở các cấp chính quyền, đồng thời thể hiện rõ nét hơn quy định về lấy ý kiến nhân dân là cử tri về đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã thay đổi thẩm quyền quyết định việc thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã theo hướng nâng cao thẩm quyền từ Chính phủ lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc đổi mới quy định này tất yếu dẫn đến việc thay đổi các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính và quy trình thẩm định, thẩm tra, cho ý kiến trước khi ban hành. Đặc biệt là bổ sung vai trò của các cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc tham gia xây dựng Đề án.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện động bộ hệ tiêu chuẩn định lượng và định tính xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính. Bên cạnh tiêu chuẩn chung về từng đơn vị hành chính, mỗi loại hình hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính lại có những đặc điểm riêng cần được xác định những tiêu chí nhất định. Làm rõ các đặc trưng, tiêu chí, trình tự, thủ tục đối với từng hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính làm căn cứ xác định rõ hơn cho hoạt động quản lý và tiến hành xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh.

Pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính cũng cần thiết quy định tiêu chí thành lập đơn vị hành chính ở đô thị, gồm: Thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, quận, phường, thị trấn; đồng thời quy định các mức tiêu chí phù hợp với từng loại đơn vị hành chính ở đô thị. Mức tiêu chí này được xác định theo mức bình quân đơn vị hành chính tương đương trong cả nước và loại đô thị tương ứng. Quy định tiêu chí thành lập đơn vị hành chính ở nông thôn gồm tiêu chí diện tích tự nhiên và tiêu chí quy mô dân số phù hợp với vùng Tây Nguyên, vùng núi và vùng đồng bằng.

- Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính theo hướng làm rõ điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục của từng loại hoạt động và mối liên hệ giữa chúng. Xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính là các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thiết lập một hệ thống các địa giới hành chính theo quy hoạch, chiến lược phát triển chung. Trong đó, từng hoạt động tuy có tính độc lập nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hoạt động này là tiền đề cho hoạt động khác và ngược lại, tạo thành một chu trình thống nhất trong hoạt động quản lý nhà nước về lãnh thổ và địa giới hành chính các cấp.

Pháp luật về địa giới hành chính gắn liền với từng hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính. Do đó, về mặt pháp luật, mỗi một hành vi đều phải được định hình cụ thể với những đặc trưng về điều kiện, hoàn cảnh và cách thức thực hiện. Vì vậy, mỗi hoạt động nêu trên đều có nội hàm, tính chất, điều kiện riêng và từ đó cần được định hình trong khuôn khổ pháp lý cụ thể. Việc hoàn chỉnh pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính không thể không tính đến việc làm rõ các đặc điểm, tính chất và điều kiện, quy trình, thủ tục của từng hoạt động để từ đó bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về pháp luật và sự hiệu quả trong tổ chức thi hành pháp luật.

- Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính gắn chặt với cải cách hành chính đến năm 2020, đặc biệt là tập trung xây dựng Chính phủ điện tử ở các cấp chính quyền địa phương. Địa giới hành chính và tổ chức bộ máy chính quyền địa phương đều gắn chặt với các yếu tố khoa học, công nghệ. Ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, việc tổ chức các đơn vị hành chính thường có quy mô địa giới hành chính nhỏ để bảo đảm hiệu quả thực hiện các chức năng nhà nước trong điều kiện thông tin, giao thông và công nghệ quản lý hành chính lạc hậu. Đến thời kỳ công nghiệp hóa, thế giới đã chứng kiến sự biến đổi thần kỳ về khoa học, công nghệ phục vụ đời sống và quản lý nhà nước, đồng thời với đó là khả năng thực hiện hiệu quả hơn chức năng nhà nước trong một phạm vi địa giới hành chính rộng lớn, đặc biệt là các đô thị, trung tâm hành chính, trung tâm kinh tế. Hiện nay, một số quốc gia đã bắt đầu xu hướng thành lập những đơn vị hành chính có địa giới hành chính rộng hơn.

Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính trong giai đoạn hiện nay cũng phải tính đến các yếu tố này và thực tế những văn bản mới ban hành cũng đã có những điều chỉnh nhất định về tiêu chí đơn vị hành chính (như về dân cư, diện tích).

ThS. Đỗ Tiến Dũng
Viện Nghiên cứu lập pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị; Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính.

[2]. Xem: Khoản 3 Điều 129 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[3]. Xem: Điều 130 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[4]. Xem: Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: