Chủ nhật 03/05/2026 01:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh

Địa giới hành chính được quy định tại Điều 29 Luật Đất đai năm 2013. Theo đó, Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính các cấp.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp. Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa và lập hồ sơ về địa giới hành chính trong phạm vi địa phương. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa tại địa phương; trường hợp mốc địa giới hành chính bị mất, xê dịch hoặc hư hỏng phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện trên thực tiễn cho thấy pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Bài viết đã chỉ ra thực trạng và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương.

Trong hệ thống tổ chức hành chính ở Việt Nam, hai cấp cơ sở, gần dân là cấp huyện, cấp xã - được thành lập để bảo đảm thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương trên cơ sở chỉ đạo, điều hành của đơn vị hành chính trung ương và đơn vị hành chính cấp tỉnh. Để thực hiện các hoạt động liên quan đến việc xác lập, thay đổi địa giới hành chính hai cấp này, các cấp chính quyền dựa vào hệ thống pháp luật về chính quyền địa phương, địa giới hành chính. Đó là công cụ để điều chỉnh các quan hệ, thủ tục thành lập mới, giải thể, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh (sau đây gọi chung là xác lập, điều chỉnh) địa giới hành chính giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ và các bộ liên quan) và địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Nội vụ và các sở, ngành liên quan); giữa chính quyền với nhân dân... Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp nói chung và dưới cấp tỉnh nói riêng đã được hoàn chỉnh cơ bản đầy đủ. Từ năm 2002 đến nay, Chính phủ tập trung chỉ đạo, điều hành và hoàn chỉnh pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính đô thị dưới cấp tỉnh; sự thay đổi mang tính chất hệ thống về địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã thực hiện trước năm 2002 khi mà đất nước mới được thống nhất và đặc biệt sau khi hàng loạt tỉnh được tách ra sau quá trình sáp nhập. Sau năm 2002 đến trước khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua,việc xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính đối với hai loại đơn vị hành chính này được tiến hành trong phạm vi từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên Quốc hội thông qua Luật số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 về Tổ chức chính quyền địa phương, trong đó quy định về chính quyền địa phương và các nội dung về địa giới hành chính các cấp, khẳng định thẩm quyền quyết định cuối cùng và quy định bao quát, cụ thể hóa nội dung liên quan đến tiêu chí phân loại địa giới hành chính các cấp; trình tự, thủ tục, phương thức xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp, trong đó có chính quyền dưới cấp tỉnh. Đây là văn bản pháp lý cao nhất quy định toàn diện về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và các hoạt động liên quan đến địa giới hành chính địa phương từ năm 1945 đến nay.

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua hai nghị quyết về phân loại đơn vị hành chính và đô thị[1]. Trong đó, lần đầu tiên các văn bản này đã có sự phân định rõ hơn các loại đơn vị hành chính đô thị và các tiêu chuẩn; loại đơn vị hành chính nông thôn, đơn vị hành chính đô thị và bổ sung đơn vị hành chính hải đảo.

Về các lĩnh vực pháp luật liên quan đến địa giới hành chính như đất đai, tài nguyên, quy hoạch, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để thể chế hóa tư tưởng mới của Hiến pháp năm 2013, như: Luật Đất đai năm 2013; Văn bản hợp nhất Luật Quy hoạch đô thị năm 2015 (sau khi sửa đổi theo Điều 140 Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Một số dự án luật vẫn đang được Chính phủ xây dựng như Luật về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật về quy hoạch. Như vậy, pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính cơ bản đã được hoàn thiện, đạt được những kết quả cụ thể sau:

1. Thực trạng về hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh

Thứ nhất, về thẩm quyền xây dựng, quyết định xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

- Về thẩm quyền quyết định xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính: Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Điều 129 quy định thẩm quyền quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính, đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính, giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Về thẩm quyền xây dựng, trình đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính: Luật cũng giao cho Chính phủ và chính quyền địa phương trong việc xây dựng, thẩm định, trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền và quyết định việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính; phân loại đô thị; đặt tên, đổi tên đơn vị hành chính; giải quyết tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính. Đối với cấp huyện, cấp xã, Chính phủ là chủ thể có thẩm quyền cao nhất xây dựng, trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định[2]. Trong đó, Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ giúp theo dõi, hướng dẫn và tổ chức thẩm định, hoàn chỉnh Đề án; giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cấp chính quyền ở địa phương xây dựng, trình Chính phủ (Bộ Nội vụ)[3].

Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bỏ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng Đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính là rất phù hợp với điều kiện thực tiễn. Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ còn thẩm quyền quyết nghị tán thành hoặc không tán thành với “chủ trương” của Đề án mà không phải là Đề án trên, sau khi trên 50% nhân dân có ý kiến tán thành.

Mặt khác, Luật Tổ chức chính quyền địa phương vẫn còn một số điểm chưa rõ cần được hướng dẫn như Đề án hoàn chỉnh sau khi tiếp thu ý kiến nhân dân và “chủ trương” để lấy ý kiến Hội đồng nhân dân các cấp có phải là một, hay chủ trương ở đây được hiểu theo đúng nghĩa chỉ là những quan điểm, định hướng cơ bản của Đề án.

- Thẩm quyền phê duyệt các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố vẫn được thực hiện theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Các quy hoạch này vẫn là cơ sở cho quy hoạch, xác lập đơn vị hành chính - quy hoạch về đơn vị hành chính sẽ là căn cứ để xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính[4]. Do đó, việc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa tham gia vào việc quyết định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đơn vị hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ là thiếu sót về mặt thể chế và thẩm quyền.

Thứ hai, về nguyên tắc xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

Để khắc phục những hạn chế, bất cập về việc định hướng các hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính thời gian qua, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định 03 nhóm nguyên tắc cơ bản trong việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính nói chung, trong đó có cấp huyện, cấp xã tại Điều 128:

- Về định hướng xác lập đơn vị hành chính, Luật xác định nguyên tắc ổn định tổ chức và giảm bớt đầu mối quản lý nhà nước theo tinh thần cải cách hành chính. Khoản 1 Điều này quy định “đơn vị hành chính được tổ chức ổn định trên cơ sở các đơn vị hành chính hiện có. Khuyến khích việc nhập các đơn vị hành chính, cùng cấp”.

- Về điều kiện bảo đảm xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính, Luật đưa ra các điều kiện giới hạn “thực hiện trong các trường hợp cần thiết” (khoản 2 Điều 128).

- Luật xác định rõ hơn các trường hợp hạn chế việc giải thể đơn vị hành chính (khoản 3 Điều 128): Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương hoặc của quốc gia; do thay đổi các yếu tố địa lý, địa hình tác động đến sự tồn tại của đơn vị hành chính đó.

Như vậy, các quy định này vừa mang tính nguyên tắc định hướng, vừa mang tính chất là điều kiện pháp lý để xác định sự cần thiết khi xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp. Nó sẽ góp phần hạn chế tình trạng chia tách, thành lập mới các đơn vị hành chính trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, chúng chưa tạo ra được những khung pháp lý cần thiết để định hình các hoạt động xác định địa giới hành chính nói chung và dưới cấp tỉnh nói riêng. Đặc biệt, các nguyên tắc này chưa được cụ thể hóa bởi các quy định về quy trình, thủ tục và tiêu chí cho từng hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính.

Thứ ba, về xác định các tiêu chí của đơn vị hành chính các cấp là căn cứ để xác lập địa giới hành chính

Trên cơ sở các quy định trước đây của Chính phủ về tiêu chí và phân loại đơn vị hành chính các cấp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về phân loại đô thị (Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13), Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính (Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13) đã cụ thể hóa chi tiết các tiêu chí phân loại đơn vị hành chính nhằm mục đích “là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính” (khoản 1 Điều 3 Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đây là những tiêu chí xác lập nên các đơn vị hành chính, do đó nó sẽ là mục tiêu hướng đến của các hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính.

Đối với các địa giới hành chính hình thành trước đó, khoản 1 Điều 31 Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 xác định nguyên tắc “không hồi tố” đối với các đơn vị hành chính đã thành lập, theo đó: Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính quy định tại Chương I của Nghị quyết này không áp dụng cho các đơn vị hành chính được thành lập trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành. Dường như quy định này vẫn theo tư duy trước về phân định đẳng cấp của các loại đơn vị hành chính, mà không nhằm mục tiêu quản lý nhà nước và hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại từ việc phân loại đơn vị hành chính (như phân bổ nguồn lực tài chính, cán bộ tương xứng với loại đơn vị hành chính theo tiêu chí phân loại).

Thứ tư, về quy trình, thủ tục xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

Về quy trình, thủ tục, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc đề xuất, xây dựng đề án thành lập, nhập, chia và điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những quy định mang tính chất xác định chủ thể chịu trách nhiệm và nội dung cơ bản. Các quy định hiện hành chưa làm rõ được quy trình, thủ tục xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính để bảo đảm tình chặt chẽ, hiệu quả của hoạt động này. Nếu xét về tầm quan trọng, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính có hiệu lực tương tự một văn bản quy phạm pháp luật, thì quy trình, thủ tục nêu trên là quá đơn giản so với quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, từ đó dễ dẫn đến sự tùy tiện, thiếu chặt chẽ trong chuẩn bị đề án.

Thứ năm, về việc lấy ý kiến nhân dân vào Đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính

Điểm mới nữa so với Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính phải được lấy ý kiến của nhân dân là cử tri ở đơn vị hành chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính (Điều 131). Việc lấy ý kiến cử tri được thực hiện theo hình thức phát phiếu lấy ý kiến cử tri và nếu có trên 50% tổng số cử tri trên địa bàn tán thành thì cơ quan xây dựng đề án có trách nhiệm hoàn thiện đề án và gửi Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính có liên quan để lấy ý kiến (Điều 132). Dự thảo đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính sẽ được Hội đồng nhân dân có liên quan thảo luận, biểu quyết về việc tán thành hoặc không tán thành chủ trương thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính theo trình tự từ cấp dưới lên cấp trên theo 03 cấp xã, huyện, tỉnh; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Bộ Nội vụ để tổng hợp, báo cáo Chính phủ và cấp có thẩm quyền quyết định.

Để triển khai quy định này, cần thiết phải có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa về cách thức triển khai việc lấy ý kiến nhân dân để bảo đảm sự thống nhất và đặc biệt là tránh sự hình thức như đã diễn ra ở một số nơi.

2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương

- Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương để thực thi toàn diện hơn nữa Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Hoàn thiện pháp luật về quy trình, thủ tục xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính các cấp chính quyền địa phương cần phải tính đến các yếu tố được đổi mới về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo quy định mới của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, giảm bớt thủ tục xây dựng ở các cấp chính quyền, đồng thời thể hiện rõ nét hơn quy định về lấy ý kiến nhân dân là cử tri về đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh.

Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã thay đổi thẩm quyền quyết định việc thành lập mới, chia tách, sáp nhập, giải thể, điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã theo hướng nâng cao thẩm quyền từ Chính phủ lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Việc đổi mới quy định này tất yếu dẫn đến việc thay đổi các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục xây dựng đề án xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính và quy trình thẩm định, thẩm tra, cho ý kiến trước khi ban hành. Đặc biệt là bổ sung vai trò của các cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc tham gia xây dựng Đề án.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện động bộ hệ tiêu chuẩn định lượng và định tính xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính. Bên cạnh tiêu chuẩn chung về từng đơn vị hành chính, mỗi loại hình hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính lại có những đặc điểm riêng cần được xác định những tiêu chí nhất định. Làm rõ các đặc trưng, tiêu chí, trình tự, thủ tục đối với từng hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính làm căn cứ xác định rõ hơn cho hoạt động quản lý và tiến hành xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính dưới cấp tỉnh.

Pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính cũng cần thiết quy định tiêu chí thành lập đơn vị hành chính ở đô thị, gồm: Thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, quận, phường, thị trấn; đồng thời quy định các mức tiêu chí phù hợp với từng loại đơn vị hành chính ở đô thị. Mức tiêu chí này được xác định theo mức bình quân đơn vị hành chính tương đương trong cả nước và loại đô thị tương ứng. Quy định tiêu chí thành lập đơn vị hành chính ở nông thôn gồm tiêu chí diện tích tự nhiên và tiêu chí quy mô dân số phù hợp với vùng Tây Nguyên, vùng núi và vùng đồng bằng.

- Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính theo hướng làm rõ điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục của từng loại hoạt động và mối liên hệ giữa chúng. Xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính là các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thiết lập một hệ thống các địa giới hành chính theo quy hoạch, chiến lược phát triển chung. Trong đó, từng hoạt động tuy có tính độc lập nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hoạt động này là tiền đề cho hoạt động khác và ngược lại, tạo thành một chu trình thống nhất trong hoạt động quản lý nhà nước về lãnh thổ và địa giới hành chính các cấp.

Pháp luật về địa giới hành chính gắn liền với từng hoạt động xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính. Do đó, về mặt pháp luật, mỗi một hành vi đều phải được định hình cụ thể với những đặc trưng về điều kiện, hoàn cảnh và cách thức thực hiện. Vì vậy, mỗi hoạt động nêu trên đều có nội hàm, tính chất, điều kiện riêng và từ đó cần được định hình trong khuôn khổ pháp lý cụ thể. Việc hoàn chỉnh pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính không thể không tính đến việc làm rõ các đặc điểm, tính chất và điều kiện, quy trình, thủ tục của từng hoạt động để từ đó bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ về pháp luật và sự hiệu quả trong tổ chức thi hành pháp luật.

- Hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính gắn chặt với cải cách hành chính đến năm 2020, đặc biệt là tập trung xây dựng Chính phủ điện tử ở các cấp chính quyền địa phương. Địa giới hành chính và tổ chức bộ máy chính quyền địa phương đều gắn chặt với các yếu tố khoa học, công nghệ. Ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, việc tổ chức các đơn vị hành chính thường có quy mô địa giới hành chính nhỏ để bảo đảm hiệu quả thực hiện các chức năng nhà nước trong điều kiện thông tin, giao thông và công nghệ quản lý hành chính lạc hậu. Đến thời kỳ công nghiệp hóa, thế giới đã chứng kiến sự biến đổi thần kỳ về khoa học, công nghệ phục vụ đời sống và quản lý nhà nước, đồng thời với đó là khả năng thực hiện hiệu quả hơn chức năng nhà nước trong một phạm vi địa giới hành chính rộng lớn, đặc biệt là các đô thị, trung tâm hành chính, trung tâm kinh tế. Hiện nay, một số quốc gia đã bắt đầu xu hướng thành lập những đơn vị hành chính có địa giới hành chính rộng hơn.

Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về xác lập, điều chỉnh địa giới hành chính trong giai đoạn hiện nay cũng phải tính đến các yếu tố này và thực tế những văn bản mới ban hành cũng đã có những điều chỉnh nhất định về tiêu chí đơn vị hành chính (như về dân cư, diện tích).

ThS. Đỗ Tiến Dũng
Viện Nghiên cứu lập pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị; Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính.

[2]. Xem: Khoản 3 Điều 129 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[3]. Xem: Điều 130 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

[4]. Xem: Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: