Chủ nhật 09/08/2026 21:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ

Bài viết phân tích một số bất cập trong các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

1. Nhận diện các vi phạm hành chính về buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ

Trong những năm qua, cùng với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, tình hình sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ có diễn biến ngày càng phức tạp, không chỉ gây thiệt hại cho lợi ích quốc gia mà còn gây thiệt hại cho nền kinh tế thế giới[1]. Nhiều nước trên thế giới đã có những giải pháp hữu hiệu nhằm đấu tranh, phòng chống nạn sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà sản xuất và người tiêu dùng.

Tại Việt Nam, việc đấu tranh, phòng chống nạn sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ được quy định bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Theo khoản 13 Điều 3 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng[2] (Nghị định số 98/2020/NĐ-CP), hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ là hàng hóa lưu thông trên thị trường không có căn cứ xác định được nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa. Căn cứ xác định nguồn gốc nơi sản xuất hoặc xuất xứ của hàng hóa bao gồm thông tin được thể hiện trên nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, tài liệu kèm theo hàng hóa hoặc chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hợp đồng, hóa đơn mua bán, tờ khai hải quan, giấy tờ khác chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với hàng hóa và giao dịch dân sự giữa tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa với bên có liên quan theo quy định của pháp luật[3].

Hiện nay, tình trạng buôn bán các loại hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ như thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, chất tẩy rửa, hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản, thức ăn thủy sản… rất phổ biến[4]. Tác hại của buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ không chỉ gây tác hại tổn thất đến hiệu quả kinh tế nội địa và chính sách khuyến khích đầu tư, mà còn dẫn đến những hệ quả tiêu cực khôn lường đối với an toàn, trật tự và văn hóa, xã hội[5]. Theo thống kê của lực lượng quản lý thị trường, từ năm 2016 đến tháng 10/2022, chỉ tính riêng hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ thì các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 48.321 vụ vi phạm hành chính, chuyển cơ quan điều tra truy tố hình sự 782 vụ[6].

Vi phạm hành chính về buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ là một loại vi phạm rất phổ biến, thể hiện qua các vi phạm cụ thể như chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu và hoạt động khác đưa hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ vào lưu thông trong thị trường.

Hiện tại, việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ được quy định tại Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP. Khoản 12 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP cũng quy định phạt tiền gấp hai lần các mức tiền phạt thông thường đối với người sản xuất, nhập khẩu hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ thuộc một trong các trường hợp sau đây: Là thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc phòng bệnh và thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; là chất tẩy rửa, hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, thuốc thú y, phân bón, xi măng, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản, thức ăn thủy sản; hàng hóa khác thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

2. Bất cập trong các quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ

Thứ nhất, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP chưa quy định rõ trường hợp nào áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo, trường hợp nào áp dụng hình thức phạt tiền đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có giá trị dưới 1.000.000 đồng.

Hiện nay, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP không có quy định tiêu chí cụ thể để căn cứ vào đó người có thẩm quyền lựa chọn hình thức xử phạt cảnh cáo hay phạt tiền. Theo quy định pháp luật, hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với các hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có giá trị dưới 1.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, loại hành vi này có thể bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Vậy căn cứ vào tiêu chí nào để người có thẩm quyền lựa chọn hình thức xử phạt cảnh cáo hay phạt tiền? Quy định này vô hình trung đã không làm rõ hai hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền, trong khi hậu quả pháp lý của hai hình thức xử phạt này là rất khác nhau.

Thứ hai, mức phạt tiền đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. Mặc dù Nghị định số 98/2020/NĐ-CP đã nâng mức tiền phạt đối với đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ nhưng mức phạt tiền đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ tại Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP vẫn chưa thật sự phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.

Nghiên cứu 11 khung tiền phạt tại Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP thì có thể nhận thấy là mức tiền phạt luôn ít hơn giá trị hàng hóa vi phạm. Điều này tạo ra cho người vi phạm một thái độ rất tiêu cực là ngay cả khi hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ đang diễn ra và bị phát hiện xử phạt với hình thức phạt cảnh cáo, không đủ sức trừng trị và răn đe đối tượng vi phạm. Chính lý do này làm cho các đối tượng vi phạm sẵn sàng vi phạm dù họ đều biết rằng buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ là phạm pháp và trái pháp luật.

Thứ ba, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ cho khá nhiều chủ thể khác nhau gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện, Quản lý thị trường, Công an nhân dân, Hải quan... Việc mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều đối tượng khác nhau thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong việc đấu tranh, phòng chống đối với vi phạm phổ biến này. Tuy nhiên, khả năng thực hiện thẩm quyền xử phạt của một số chức danh trong thực tiễn bị hạn chế nhiều. Theo quy định tại Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ bị áp dụng hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm, biện pháp khắc phục hậu quả gồm: Buộc tiêu hủy tang vật, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.

Nếu căn cứ vào mức tiền phạt thì một số chức danh như Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thể xử phạt đối với các vi phạm tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP khi các hành vi này có mức phạt dưới 5.000.000 đồng. Thế nhưng, do hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp, trong khi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không thể áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp nên kết quả là không thể xử phạt đối với hành vi này. Điều này làm cho việc xử phạt bị tồn đọng vì phải chuyển lên cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện. Bất cập này cũng thể hiện đối với một số chức danh khác thuộc lực lượng công an nhân dân (như Trưởng Công an cấp huyện, Trưởng các phòng nghiệp vụ...), lực lượng hải quan (như Đội trưởng, Tổ trưởng thuộc Chi cục Hải quan; Tổ trưởng thuộc Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Đội trưởng thuộc Chi cục Kiểm tra sau thông quan)...

Thứ tư, Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định đối với hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ liên quan đến hành vi buôn bán trái pháp luật khi bị phát hiện sẽ bị xử lý theo hai hướng: (i) Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật là hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ; (ii) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả gồm buộc tiêu hủy tang vật là hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ hay buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Việc quyết định lựa chọn hình thức xử phạt bổ sung hay biện pháp khắc phục hậu quả đối với hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có thể dựa vào giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa và mức độ gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường. Nếu hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có giá trị sử dụng nhất định và không gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường thì cơ quan chức năng có thể tịch thu để sung ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ không có giá trị sử dụng, công dụng, có khả năng gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường thì sẽ bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là tiêu hủy để xử lý.

Tuy nhiên, ngoài quy định của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP thì hiện nay chưa có quy định nào hướng dẫn cụ thể khi nào hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ mà gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường để người có thẩm quyền xử phạt lựa chọn tịch thu hay buộc tiêu hủy, buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp do hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ nên người có thẩm quyền không có cơ sở để xác định. Để có thể xác định khả năng và mức độ gây hại của hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ là điều không đơn giản, bản thân người có thẩm quyền xử phạt không đủ trình độ, chuyên môn để có thể đánh giá mà cần phải có một quy trình cụ thể với sự tham gia của các cơ quan có chuyên môn về thẩm định mới có thể đưa ra kết luận cụ thể.

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật

Một là, điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính đã đưa ra nguyên tắc xây dựng hình thức xử phạt để áp dụng với các hành vi vi phạm. Theo đó, hành vi vi phạm không nghiêm trọng, có tính chất đơn giản, thì phải quy định hình thức xử phạt cảnh cáo. Như vậy, một khi hành vi vi phạm được nhà làm luật quy định áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo thì có nghĩa đây là vi phạm không nghiêm trọng, có tính chất đơn giản.

Đối chiếu với Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP thì hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có giá trị dưới 1.000.000 đồng có tính chất đơn giản và không nghiêm trọng. Do đó, quy định việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với vi phạm này là hợp lý. Do đó, theo tác giả, khi tiến hành sửa đổi Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, Chính phủ không nên tiếp tục quy định cũng chính hành vi này có thể bị áp dụng hình thức phạt tiền. Việc phạt tiền chỉ nên được áp dụng trong trường hợp chủ thể vi phạm có tình tiết tái phạm. Theo tác giả, Chính phủ có thể sửa đổi Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP theo hướng: “Phạt cảnh cáo đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ có giá trị dưới 1.000.000 đồng. Trong trường hợp hành vi vi phạm đã bị xử phạt mà còn tái phạm thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng…”.

Hai là, sửa đổi mức tiền phạt theo hướng tạo ra sự tương xứng giữa mức phạt tiền với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Hiện nay, Điều 17 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP chia ra 11 khung tiền phạt với mức tiền phạt khác nhau và căn cứ vào giá trị hàng hóa vi phạm. Tuy nhiên, một điểm chung có thể nhận thấy là mức tiền phạt luôn ít hơn giá trị hàng hóa vi phạm. Do đó, tác giả kiến nghị cần tăng mức tiền phạt cho tương xứng với giá trị giá trị hàng hóa vi phạm nhằm bảo đảm tính răn đe.

Ba là, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xử phạt đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, Quốc hội cần sửa đổi thẩm quyền xử phạt theo hướng mở rộng thẩm quyền của các chức danh được quy định. Điều này sẽ tăng cường hiệu quả xử phạt đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Bốn là, về thủ tục xử phạt đối với hành vi buôn bán hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, các cơ quan chức năng cần phải sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về việc xác định giá trị sử dụng thực tế hoặc mức độ gây thiệt hại của hàng giả về giá trị sử dụng, công dụng được sử dụng để buôn bán làm cơ sở để người có thẩm quyền xử phạt căn cứ lựa chọn hình thức xử lý phù hợp. Nội dung của văn bản này cần quy định cụ thể chủ thể có quyền yêu cầu giám định, thời hạn giám định, cơ quan có thẩm quyền để giám định mức độ gây thiệt hại, giá trị pháp lý của kết quả giám định, chi phí giám định.

Lê Nguyễn Hoàng Long

Trường Đại học Trà Vinh

[1]. Phạm Vũ Ngọc Quang (2016), “Những vướng mắc về xử lý hình sự đối với hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là sản phẩm thuốc lá ngoại nhập lậu”, Tạp chí Kiểm sát, (12), tr. 37.

[2]. Được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 17/2022/NĐ-CP ngày 31/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp; điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; hoạt động dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí.

[3]. Báo cáo số 04/BC-BCĐ389 ngày 02/3/2021 của Ban chỉ đạo 389 Quốc gia về tổng kết Kế hoạch số 19/KH-BCĐ389 ngày 23/7/2019 của Ban chỉ đạo 389 quốc gia về tăng cường phòng, chống buôn lậu, sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo nhãn mác, xuất xứ Việt Nam.

[4]. Báo cáo số 10/BC-BCĐ389 ngày 11/9/2020 của Ban chỉ đạo 389 Quốc gia về tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch số 1339/KH-BCĐ389 ngày 13/12/2017 của Ban chỉ đạo 389 Quốc gia.

[5]. Nguyễn Thúy Vân (2017), Tác hại của hàng hóa giả mạo và hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ, Tạp chí Quản lý nhà nước, (11), tr. 44.

[6]. Báo cáo số 23/BC-BCĐ389 ngày 04/11/2022 của Ban chỉ đạo 389 Quốc gia về tổng kết kết quả xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến hàng giả, hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 388), tháng 9/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: