Thứ ba 17/02/2026 03:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong bài viết này, tác giả Vũ Thị Thanh Huyền đã đi sâu phân hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; đồng thời, nêu ra những bất cập của pháp luật hiện hành về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Từ thực trạng đó, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bởi vợ chồng có mẫu thuẫn trong quản lý tài chính hoặc nhiều lý do khác. Do đó, trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có nhu cầu thì có quyền thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã có những ghi nhận về thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế khó có thể đưa vào thực hiện trong thực tế.

1. Hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Gia đình là nền tảng của xã hội và khi một chế độ về gia đình phù hợp và vững mạnh sẽ là nền tảng để thúc đẩy xã hội vươn lên tốt đẹp. Xét về mặt pháp lý, gia đình là một tổ hợp các quan hệ pháp luật có nguồn gốc từ hôn nhân và quy tắc pháp luật. Quan hệ pháp luật trong lĩnh vực gia đình có hai loại gắn kết với nhau khó có thể tách bạch hoàn toàn về phương diện xử lý các tranh chấp. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng đa nguồn gốc và đa hướng, trong đó có tài sản riêng của vợ, chồng. Đồng thời với việc xác lập nền tảng đó, Luật này cũng có quy định về trường hợp có thể xảy ra trong đời sống vợ chồng - đó là trường hợp họ cùng nhau thỏa thuận chia tài sản chung của mình để biến chúng thành tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là một bước tiến bộ đáp ứng các yêu cầu của một xã hội hiện đại, văn minh, mà trong đó lợi ích của con cái, lợi ích chung của gia đình và giải phóng phụ nữ được chú trọng. Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng này trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn có nhiều bất cập và thiếu đầy đủ, chưa xem xét tới những đặc thù của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cũng như tính hệ thống của pháp luật trong những tranh luận pháp lý về hiệu lực của loại hợp đồng này.

Hiện nay, nhiều luật gia Việt Nam khi nói tới hiệu lực của hợp đồng là chỉ đề cập đến điều kiện, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu, mà ít khi nói tới nội dung hiệu lực của hợp đồng[1]. Tác giả Vũ Văn Mẫu viết về phạm vi hiệu lực của hợp đồng như sau: “1. Người thụ trái bị khế ước thúc buộc tới mức nào? Đây là vấn đề hiệu lực thúc buộc của nghĩa vụ. 2. Khế ước phải giải thích như thế nào? 3. Ai có thể xin thi hành nghĩa vụ và ai phải thi hành? Nói một cách khác, ai là những người bị nghĩa vụ thúc buộc? Đây là vấn đề hiệu lực tương đối của nghĩa vụ”[2]. Theo quan niệm này, hiệu lực của nghĩa vụ hẹp hơn so với hiệu lực của hợp đồng, nên khi nghiên cứu hiệu lực của nghĩa vụ, người nghiên cứu chỉ cần xác định ai bị nghĩa vụ thúc buộc phải thi hành. Còn hợp đồng là một căn cứ làm phát sinh ra nghĩa vụ, nên cần phải hiểu hợp đồng có hay không phát sinh ra nghĩa vụ và nghĩa vụ đó là nghĩa vụ gì. Vì vậy, về phương diện hiệu lực, thì khái niệm hiệu lực của hợp đồng rộng hơn khái niệm hiệu lực của nghĩa vụ.

Có lẽ, xuất phát từ các câu hỏi nghiên cứu chung về nội dung hiệu lực của hợp đồng là hợp đồng ràng buộc ai, ràng buộc cái gì và ràng buộc như thế nào[3], tác giả Ngô Huy Cương chia khái niệm hiệu lực của hợp đồng thành hai loại rộng và hẹp khác nhau, đồng thời, nghiên cứu rộng về hiệu lực của hợp đồng phải bao quát các vấn đề như thi hành các hợp đồng, giải thích cho ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và kiềm chế hoặc bảo đảm cho việc biểu lộ ý chí. Còn nghiên cứu hiệu lực của hợp đồng theo nghĩa hẹp phải bao trùm vấn đề thi hành các hợp đồng và giải thích cho ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng[4].

Về nguyên tắc, hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ có hiệu lực khi hôn nhân có hiệu lực, tức là hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực phụ thuộc. Diễn giải pháp luật dưới các chế độ cũ ở Việt Nam, tác giả Trần Văn Liêm nói: “Sự vô hiệu của hôn thú dẫn theo nhiều hậu quả, mà trong đó có hậu quả là các thỏa ước về tài sản do hai vợ chồng thảo ra để quy định chế độ tài sản đều vô hiệu. Các sự tặng dữ của đệ tam nhân cho hai vợ chồng sẽ bị hủy bỏ; các sự tặng dữ giữa hai vợ chồng với nhau cũng vậy”[5]. Có thể hiểu đơn giản rằng, nếu không có hôn nhân, thì không thể có quan hệ vợ chồng, không thể có tài sản chung vợ chồng, do vậy, không thể có hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Lập luận này không bàn tới hôn nhân đó là hôn nhân hợp pháp hay hôn nhân thực tế. Nếu pháp luật thừa nhận để giải quyết hậu quả của hôn nhân thực tế, thì về thực chất, pháp luật đã cho phép có tài sản chung và có sự chia chác tài sản chung đó. Việc thừa nhận hôn nhân thực tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ đó không ngoài mục đích bảo vệ cho người thứ ba (trong đó có cả con) và lợi ích chính đáng của các bên. Vì vậy, các quy định liên quan của pháp luật cũng phải được áp dụng một cách thích hợp trong những trường hợp cụ thể.

Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực ràng buộc với cả vợ và chồng. Kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này, cả vợ và chồng chấm dứt quan hệ đồng sở hữu đối với toàn bộ hoặc một phần khối tài sản chung mà hợp đồng đem ra chia. Nếu hợp đồng chia tài sản cho vợ và cho chồng thì phần tài sản được chia thuộc quyền sở hữu riêng của vợ và thuộc quyền sở hữu riêng của chồng, tức là, kể từ thời điểm đó, vợ hay chồng có toàn quyền quyết định đối với khối tài sản được chia, tuy nhiên, còn phụ thuộc vào quy chế pháp lý đối với từng tài sản cụ thể được phân chia.

Trong khoa học pháp lý, nghĩa vụ có ba loại đối tượng chủ yếu là chuyển giao tài sản, làm một công việc hay không làm một công việc nào đó[6]. Hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là loại hợp đồng làm phát sinh ra nghĩa vụ chuyển giao tài sản. Nhưng vấn đề cần phải xác định trong nghĩa vụ theo hợp đồng này là: Ai là người có nghĩa vụ và ai là người có quyền yêu cầu, bởi nghĩa vụ là mối quan hệ pháp lý giữa một bên có quyền yêu cầu và một bên có nghĩa vụ. Khi không xác định được các chủ thể của quyền và chủ thể của nghĩa vụ như trên, thì không thể xác định được sự ràng buộc của nghĩa vụ. Hợp đồng này cũng có thể xếp vào loại hợp đồng có nghĩa vụ chuyển giao vật, nhưng có nhiều điểm đặc trưng so với những loại hợp đồng khác cũng có nghĩa vụ chuyển giao vật kể cả có đền bù hay không có đền bù.

Trước hết, hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khác với hợp đồng tặng cho, bởi hợp đồng tặng cho được thiết lập giữa người tặng và người được tặng, mà hai người này có lợi ích trái ngược. Bên tặng cho chịu thiệt để làm lợi cho bên được tặng và không nhận lại được một lợi ích nào. Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng khác với hợp đồng mua bán. Tác giả Nguyễn Ngọc Điện phân tích hiệu lực của hợp đồng mua bán như sau: “Nghĩa vụ của người bán được xếp thành hai nhóm tương ứng với hai giai đoạn thực hiện hợp đồng: (i) Giai đoạn bán, người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu, nghĩa vụ giao vật và nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng; (ii) Giai đoạn sau khi bán, người bán có nghĩa vụ bảo đảm sự an toàn của người mua trong việc sử dụng tài sản, nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu của người mua đối với tài sản mua, nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của tài sản mua bán và nghĩa vụ bảo hành”[7]. Điều này không phù hợp trong mối quan hệ pháp luật phân chia tài sản chung vợ chồng và dẫn đến các bất cập đi từ quy định của pháp luật hiện hành.

2. Những bất cập của pháp luật hiện hành về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Xây dựng nền kinh tế thị trường, xã hội đã có những thay đổi, đòi hỏi một chế độ hôn sản thích hợp khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xuất hiện. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có các quy định về loại hợp đồng này, tuy nhiên, còn nhiều bất cập. Qua nghiên cứu lịch sử cũng như pháp luật về hôn nhân gia đình, thì pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có những bất cập chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nền tảng pháp lý chủ yếu để xây dựng chế định hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là chế định ly thân không được chấp nhận đưa vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, mục đích tồn tại của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và các quy định liên quan trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bị thiếu sót và rời rạc.

Thứ hai, hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thiếu sự gắn kết với các quy định khác về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, làm cho các quy định pháp luật về hợp đồng thiếu tính hệ thống. Không chỉ vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thiếu nhiều quy định liên quan tới hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhất là các quy định về sự vô hiệu của hợp đồng, nội dung hiệu lực của hợp đồng.

Thứ ba, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn.

Những bất cập của pháp luật về vấn đề này xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là, do chúng ta đang thiếu những nghiên cứu cơ bản về tài sản, chế độ hôn sản trong nền kinh tế thị trường, đồng thời, thiếu những nghiên cứu hữu ích về lịch sử và tổng kết kinh nghiệm liên quan tới hôn nhân, gia đình và hôn sản.

Hai là, Việt Nam vẫn theo quan điểm tách Luật Hôn nhân và gia đình ra khỏi luật dân sự, nên đã pháp điển hóa riêng rẽ các luật này. Trong khi Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nền tảng pháp lý cho tất cả các luật trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, thì Bộ luật này lại thông qua sau Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 một năm. Vì vậy, tính thứ bậc, trên dưới và tính hệ thống, thống nhất chưa thực sự hợp lý.

Ba là, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay chưa tiếp thu được tối đa những truyền thống của người Việt Nam, nhất là trong việc gắn các quy định về hôn sản với các quan hệ về nhân thân trong gia đình.

3. Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tư nhân, chế độ về gia đình cần sự thay đổi thích hợp. Bản thân các quan hệ gia đình đã bị thay đổi nhiều bởi các tác động xã hội, dẫn tới lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình cần sự thay đổi. Mỗi người trong quan hệ vợ chồng có quyền tự do nghề nghiệp, tự do phấn đấu cho sự tiến bộ của bản thân và để tránh những trục lợi trong quan hệ hôn nhân, thừa nhận quyền của cá nhân đối với tài sản riêng đã đòi hỏi pháp luật về hôn nhân và gia đình phải cải cách theo hướng thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Trong cuốn sách nói về khát vọng Việt Nam đến năm 2035 biên soạn bởi Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã xác định: “Một xã hội hiện đại, sáng tạo và dân chủ với vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển trong tương lai. Trọng tâm là hình thành một môi trường mở và tự do để khuyến khích mọi công dân học hỏi và sáng tạo. Mọi người dân được đảm bảo bình đẳng về cơ hội phát triển và được tự do theo đuổi nghề nghiệp, đồng thời phải hoàn thành trách nhiệm của mình mà không coi nhẹ lợi ích của dân tộc và cộng đồng”[8].

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm tới việc củng cố cho một xã hội văn minh, hiện đại, sáng tạo. Với sự cần thiết như vậy, việc hoàn thiện pháp luật phải theo các định hướng sau đây:

Thứ nhất, cần gắn gia đình với xã hội và bảo đảm cho sự phát triển xã hội bằng sự ổn định từ trong gia đình. Định hướng này đòi hỏi phải nghiên cứu thấu đáo về mặt pháp lý, trước hết bằng biện pháp bảo đảm để việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không ảnh hưởng tới sự ổn định của gia đình.

Thứ hai, bảo đảm tính hệ thống của pháp luật nhưng không thể bỏ qua các đặc thù. Định hướng này đòi hỏi cần cân nhắc kỹ lưỡng mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành để bảo đảm việc xây dựng các quy định trên nền tảng chung nhưng cũng phải bảo đảm tính đặc thù của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Việc bảo đảm tính hệ thống trong các quy định liên quan tới hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần phải xét rộng trên bình diện của hệ thống pháp luật. Có hai hướng lựa chọn: (i) Tiếp cận truyền thống xem Luật Hôn nhân và gia đình không phải là ngành luật riêng biệt, mà là một chế định của luật dân sự; (ii) Vẫn giữ quan niệm Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật. Theo hướng thứ nhất, đưa hầu hết các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành vào Bộ luật Dân sự và chỉ cần chú ý tới sự đồng nhất của các quy định khi sửa đổi hay bổ sung Bộ luật Dân sự hiện hành hay xây dựng mới. Theo hướng thứ hai, vấn đề xây dựng luật phức tạp hơn vì phải xây dựng hai đạo luật, nhưng phải dung hòa được các quy định của hai đạo luật đó.

Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là một chế định của Luật Hôn nhân và gia đình, tuy nhiên, đó không phải là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật và dù có là một ngành luật độc lập với nhiều đặc thù, thì chúng ta cũng phải nhận thấy rằng, pháp luật điều chỉnh hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có nền tảng là luật dân sự bởi nó là một căn cứ làm phát sinh ra quan hệ pháp luật. Hơn nữa, đối tượng của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một khối tài sản mà trong đó có thể có nhiều dạng tài sản khác nhau phụ thuộc vào các quy chế pháp lý khác nhau (ví dụ như cổ phần, tiền gửi ngân hàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ...). Vì vậy, khi hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần phải bảo đảm sự phù hợp với quy định của cả các đạo luật khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020…

Khi nói tới hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nói tới tất cả các quy định pháp luật có liên quan ở bất cứ đạo luật nào. Trong sự hoàn thiện này cần phân tách rõ ràng quy định nào nên được xếp vào đạo luật nào. Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự khi quy định chung về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần dẫn chiếu đến các luật chuyên ngành liên quan tới các đặc thù của loại hợp đồng này. Quan niệm đơn thuần về chế độ hôn sản chỉ liên quan tới vật quyền và không có ý niệm về sản nghiệp cần phải căn chỉnh lại để hướng tới vấn đề hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung và pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng. Cần đưa ra khái niệm chế độ hôn sản, theo đó có thể quy định: Chế độ hôn sản là tổng thể các vấn đề pháp lý liên quan tới tài sản của các thành viên trong gia đình, sự chuyển dịch tài sản giữa các thành viên gia đình với nhau, nghĩa vụ về tài sản của các thành viên của gia đình gắn với quan hệ nhân thân trong đời sống gia đình phát sinh từ việc chung sống của các thành viên trong gia đình với nhau, và liên quan tới các trách nhiệm về tài sản đối với các sự kiện gây thiệt hại bởi thành viên gia đình đối với người khác.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, mà chỉ khẳng định vợ và chồng có quyền thỏa thuận việc chia chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38). Thỏa thuận này chính là hợp đồng bởi nó là sự thống nhất ý chí giữa các bên nhằm làm phát sinh ra, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ về tài sản ở một mức độ nào đó của các bên này cũng như những người có liên quan (nếu có). Tuy nhiên, nếu không sử dụng thuật ngữ hợp đồng sẽ thiếu đi sự xác định rành mạch và dứt khoát về hiệu lực của loại hợp đồng này và đôi khi không thấy hết mối liên hệ của nó với các quy định pháp luật nền tảng về hợp đồng. Vì vậy, kiến nghị bổ sung định nghĩa hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chế định ly thân để tạo nên nền tảng pháp lý áp dụng trong thực tiễn. Theo đó có thể định nghĩa: Hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là sự thỏa thuận giữa vợ và chồng về tài sản chung của họ khi họ còn đang chung sống hoặc khi họ ly thân, mà theo đó toàn bộ hoặc một phần của khối tài sản chung đó được chia cho vợ và cho chồng, hoặc chia cho vợ hoặc chồng, hoặc chia cho người khác sở hữu riêng trong khi vợ và chồng vẫn còn giữ quan hệ vợ chồng ít nhất về mặt hình thức pháp lý.

Định nghĩa này khi được bổ sung cần kèm theo các quy định liên quan tới các đặc điểm của loại hợp đồng này, vì việc xác định các đặc điểm của loại hợp đồng này cho chúng ta thấy cần giải thích cho loại hợp đồng này ra sao, quy chế pháp lý liên quan tới hiệu lực của nó như thế nào. Các đặc điểm của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hợp đồng trọng hình thức; là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba trong trường hợp người thứ ba được chia tài sản từ khối tài sản chung của vợ chồng (ví dụ trong hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong đó có quy định tất cả hoa lợi, hoặc lợi tức hoặc một phần hoa lợi hoặc lợi tức phát sinh từ tài sản được chia của một bên hoặc cả hai bên dành cho con đang học tập ở nước ngoài); là hợp đồng phụ thuộc vào quy chế pháp lý điều chỉnh từng loại tài sản cụ thể đem chia. Ngoài ra, còn một số đặc điểm khác mang tính học thuật như đặc điểm hợp đồng làm phát sinh quan hệ đối nhân, hay biểu lộ ý chí đồng hướng thì có thể được giải thích trong những trường hợp tranh chấp cụ thể. Việc đưa ra định nghĩa trên có liên quan tới nguyên nhân mục đích của hợp đồng trong trường hợp vợ chồng ly thân. Vì vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần bổ sung chế định ly thân để tạo nên nền tảng pháp lý thực sự trong một số trường hợp cho hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Cuối cùng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy định liên quan tới lừa dối hay bạo lực và ảnh hưởng xấu tới nghĩa vụ cấp dưỡng trong gia đình là vô hiệu tuyệt đối. Do tính chất đặc biệt liên quan tới hiệu lực đối với người thứ ba của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà gây ảnh hưởng tới quyền lợi của những người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì hợp đồng bị xem là vô hiệu tuyệt đối. Việc quy định vô hiệu tuyệt đối hữu ích ở chỗ bất kỳ ai có lợi ích liên quan đều có thể nại ra sự vô hiệu, Tòa án có thể tự nại ra sự vô hiệu và không áp dụng thời hiệu đối với việc tuyên vô hiệu đó.

Vũ Thị Thanh Huyền
Khoa Luật, Đại học Lao động - Xã hội Hà Nội



[1]. Ngô Huy Cương (2018), “Sự phân biệt giữa luật công và luật tư” (tr. 21 - 39), Đồng bộ hóa luật tư ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Mạnh Thắng chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[2]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 242.

[3]. Vũ Văn Mẫu (1970), Luật Gia đình lược giảng, Đại học Sài Gòn, Sài Gòn.

[4]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 366.

[5]. Trần Văn Liêm (1974), Dân luật, Quyển II, Luật gia đình, Đại học Luật khoa Sài Gòn, tr. 85.

[6]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 14.

[7]. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 122.

[8]. Ngân hàng Thế giới & Bộ Kế hoạch - Đầu tư (2016), Việt Nam 2035 - Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ - Báo cáo tổng quan, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: