Thứ tư 24/06/2026 18:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong bài viết này, tác giả Vũ Thị Thanh Huyền đã đi sâu phân hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; đồng thời, nêu ra những bất cập của pháp luật hiện hành về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Từ thực trạng đó, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bởi vợ chồng có mẫu thuẫn trong quản lý tài chính hoặc nhiều lý do khác. Do đó, trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có nhu cầu thì có quyền thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành đã có những ghi nhận về thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế khó có thể đưa vào thực hiện trong thực tế.

1. Hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Gia đình là nền tảng của xã hội và khi một chế độ về gia đình phù hợp và vững mạnh sẽ là nền tảng để thúc đẩy xã hội vươn lên tốt đẹp. Xét về mặt pháp lý, gia đình là một tổ hợp các quan hệ pháp luật có nguồn gốc từ hôn nhân và quy tắc pháp luật. Quan hệ pháp luật trong lĩnh vực gia đình có hai loại gắn kết với nhau khó có thể tách bạch hoàn toàn về phương diện xử lý các tranh chấp. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng đa nguồn gốc và đa hướng, trong đó có tài sản riêng của vợ, chồng. Đồng thời với việc xác lập nền tảng đó, Luật này cũng có quy định về trường hợp có thể xảy ra trong đời sống vợ chồng - đó là trường hợp họ cùng nhau thỏa thuận chia tài sản chung của mình để biến chúng thành tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là một bước tiến bộ đáp ứng các yêu cầu của một xã hội hiện đại, văn minh, mà trong đó lợi ích của con cái, lợi ích chung của gia đình và giải phóng phụ nữ được chú trọng. Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng này trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn có nhiều bất cập và thiếu đầy đủ, chưa xem xét tới những đặc thù của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, cũng như tính hệ thống của pháp luật trong những tranh luận pháp lý về hiệu lực của loại hợp đồng này.

Hiện nay, nhiều luật gia Việt Nam khi nói tới hiệu lực của hợp đồng là chỉ đề cập đến điều kiện, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và hợp đồng vô hiệu, mà ít khi nói tới nội dung hiệu lực của hợp đồng[1]. Tác giả Vũ Văn Mẫu viết về phạm vi hiệu lực của hợp đồng như sau: “1. Người thụ trái bị khế ước thúc buộc tới mức nào? Đây là vấn đề hiệu lực thúc buộc của nghĩa vụ. 2. Khế ước phải giải thích như thế nào? 3. Ai có thể xin thi hành nghĩa vụ và ai phải thi hành? Nói một cách khác, ai là những người bị nghĩa vụ thúc buộc? Đây là vấn đề hiệu lực tương đối của nghĩa vụ”[2]. Theo quan niệm này, hiệu lực của nghĩa vụ hẹp hơn so với hiệu lực của hợp đồng, nên khi nghiên cứu hiệu lực của nghĩa vụ, người nghiên cứu chỉ cần xác định ai bị nghĩa vụ thúc buộc phải thi hành. Còn hợp đồng là một căn cứ làm phát sinh ra nghĩa vụ, nên cần phải hiểu hợp đồng có hay không phát sinh ra nghĩa vụ và nghĩa vụ đó là nghĩa vụ gì. Vì vậy, về phương diện hiệu lực, thì khái niệm hiệu lực của hợp đồng rộng hơn khái niệm hiệu lực của nghĩa vụ.

Có lẽ, xuất phát từ các câu hỏi nghiên cứu chung về nội dung hiệu lực của hợp đồng là hợp đồng ràng buộc ai, ràng buộc cái gì và ràng buộc như thế nào[3], tác giả Ngô Huy Cương chia khái niệm hiệu lực của hợp đồng thành hai loại rộng và hẹp khác nhau, đồng thời, nghiên cứu rộng về hiệu lực của hợp đồng phải bao quát các vấn đề như thi hành các hợp đồng, giải thích cho ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng và kiềm chế hoặc bảo đảm cho việc biểu lộ ý chí. Còn nghiên cứu hiệu lực của hợp đồng theo nghĩa hẹp phải bao trùm vấn đề thi hành các hợp đồng và giải thích cho ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng[4].

Về nguyên tắc, hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ có hiệu lực khi hôn nhân có hiệu lực, tức là hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực phụ thuộc. Diễn giải pháp luật dưới các chế độ cũ ở Việt Nam, tác giả Trần Văn Liêm nói: “Sự vô hiệu của hôn thú dẫn theo nhiều hậu quả, mà trong đó có hậu quả là các thỏa ước về tài sản do hai vợ chồng thảo ra để quy định chế độ tài sản đều vô hiệu. Các sự tặng dữ của đệ tam nhân cho hai vợ chồng sẽ bị hủy bỏ; các sự tặng dữ giữa hai vợ chồng với nhau cũng vậy”[5]. Có thể hiểu đơn giản rằng, nếu không có hôn nhân, thì không thể có quan hệ vợ chồng, không thể có tài sản chung vợ chồng, do vậy, không thể có hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Lập luận này không bàn tới hôn nhân đó là hôn nhân hợp pháp hay hôn nhân thực tế. Nếu pháp luật thừa nhận để giải quyết hậu quả của hôn nhân thực tế, thì về thực chất, pháp luật đã cho phép có tài sản chung và có sự chia chác tài sản chung đó. Việc thừa nhận hôn nhân thực tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ đó không ngoài mục đích bảo vệ cho người thứ ba (trong đó có cả con) và lợi ích chính đáng của các bên. Vì vậy, các quy định liên quan của pháp luật cũng phải được áp dụng một cách thích hợp trong những trường hợp cụ thể.

Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực ràng buộc với cả vợ và chồng. Kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng này, cả vợ và chồng chấm dứt quan hệ đồng sở hữu đối với toàn bộ hoặc một phần khối tài sản chung mà hợp đồng đem ra chia. Nếu hợp đồng chia tài sản cho vợ và cho chồng thì phần tài sản được chia thuộc quyền sở hữu riêng của vợ và thuộc quyền sở hữu riêng của chồng, tức là, kể từ thời điểm đó, vợ hay chồng có toàn quyền quyết định đối với khối tài sản được chia, tuy nhiên, còn phụ thuộc vào quy chế pháp lý đối với từng tài sản cụ thể được phân chia.

Trong khoa học pháp lý, nghĩa vụ có ba loại đối tượng chủ yếu là chuyển giao tài sản, làm một công việc hay không làm một công việc nào đó[6]. Hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là loại hợp đồng làm phát sinh ra nghĩa vụ chuyển giao tài sản. Nhưng vấn đề cần phải xác định trong nghĩa vụ theo hợp đồng này là: Ai là người có nghĩa vụ và ai là người có quyền yêu cầu, bởi nghĩa vụ là mối quan hệ pháp lý giữa một bên có quyền yêu cầu và một bên có nghĩa vụ. Khi không xác định được các chủ thể của quyền và chủ thể của nghĩa vụ như trên, thì không thể xác định được sự ràng buộc của nghĩa vụ. Hợp đồng này cũng có thể xếp vào loại hợp đồng có nghĩa vụ chuyển giao vật, nhưng có nhiều điểm đặc trưng so với những loại hợp đồng khác cũng có nghĩa vụ chuyển giao vật kể cả có đền bù hay không có đền bù.

Trước hết, hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khác với hợp đồng tặng cho, bởi hợp đồng tặng cho được thiết lập giữa người tặng và người được tặng, mà hai người này có lợi ích trái ngược. Bên tặng cho chịu thiệt để làm lợi cho bên được tặng và không nhận lại được một lợi ích nào. Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng khác với hợp đồng mua bán. Tác giả Nguyễn Ngọc Điện phân tích hiệu lực của hợp đồng mua bán như sau: “Nghĩa vụ của người bán được xếp thành hai nhóm tương ứng với hai giai đoạn thực hiện hợp đồng: (i) Giai đoạn bán, người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu, nghĩa vụ giao vật và nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng; (ii) Giai đoạn sau khi bán, người bán có nghĩa vụ bảo đảm sự an toàn của người mua trong việc sử dụng tài sản, nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu của người mua đối với tài sản mua, nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của tài sản mua bán và nghĩa vụ bảo hành”[7]. Điều này không phù hợp trong mối quan hệ pháp luật phân chia tài sản chung vợ chồng và dẫn đến các bất cập đi từ quy định của pháp luật hiện hành.

2. Những bất cập của pháp luật hiện hành về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Xây dựng nền kinh tế thị trường, xã hội đã có những thay đổi, đòi hỏi một chế độ hôn sản thích hợp khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xuất hiện. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có các quy định về loại hợp đồng này, tuy nhiên, còn nhiều bất cập. Qua nghiên cứu lịch sử cũng như pháp luật về hôn nhân gia đình, thì pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có những bất cập chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nền tảng pháp lý chủ yếu để xây dựng chế định hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là chế định ly thân không được chấp nhận đưa vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, mục đích tồn tại của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và các quy định liên quan trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bị thiếu sót và rời rạc.

Thứ hai, hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thiếu sự gắn kết với các quy định khác về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, làm cho các quy định pháp luật về hợp đồng thiếu tính hệ thống. Không chỉ vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thiếu nhiều quy định liên quan tới hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nhất là các quy định về sự vô hiệu của hợp đồng, nội dung hiệu lực của hợp đồng.

Thứ ba, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với thỏa thuận chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn.

Những bất cập của pháp luật về vấn đề này xuất phát từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là, do chúng ta đang thiếu những nghiên cứu cơ bản về tài sản, chế độ hôn sản trong nền kinh tế thị trường, đồng thời, thiếu những nghiên cứu hữu ích về lịch sử và tổng kết kinh nghiệm liên quan tới hôn nhân, gia đình và hôn sản.

Hai là, Việt Nam vẫn theo quan điểm tách Luật Hôn nhân và gia đình ra khỏi luật dân sự, nên đã pháp điển hóa riêng rẽ các luật này. Trong khi Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nền tảng pháp lý cho tất cả các luật trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, thì Bộ luật này lại thông qua sau Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 một năm. Vì vậy, tính thứ bậc, trên dưới và tính hệ thống, thống nhất chưa thực sự hợp lý.

Ba là, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay chưa tiếp thu được tối đa những truyền thống của người Việt Nam, nhất là trong việc gắn các quy định về hôn sản với các quan hệ về nhân thân trong gia đình.

3. Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về hiệu lực của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tư nhân, chế độ về gia đình cần sự thay đổi thích hợp. Bản thân các quan hệ gia đình đã bị thay đổi nhiều bởi các tác động xã hội, dẫn tới lĩnh vực pháp luật hôn nhân và gia đình cần sự thay đổi. Mỗi người trong quan hệ vợ chồng có quyền tự do nghề nghiệp, tự do phấn đấu cho sự tiến bộ của bản thân và để tránh những trục lợi trong quan hệ hôn nhân, thừa nhận quyền của cá nhân đối với tài sản riêng đã đòi hỏi pháp luật về hôn nhân và gia đình phải cải cách theo hướng thừa nhận chế độ tài sản riêng của vợ, chồng. Trong cuốn sách nói về khát vọng Việt Nam đến năm 2035 biên soạn bởi Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch - Đầu tư đã xác định: “Một xã hội hiện đại, sáng tạo và dân chủ với vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển trong tương lai. Trọng tâm là hình thành một môi trường mở và tự do để khuyến khích mọi công dân học hỏi và sáng tạo. Mọi người dân được đảm bảo bình đẳng về cơ hội phát triển và được tự do theo đuổi nghề nghiệp, đồng thời phải hoàn thành trách nhiệm của mình mà không coi nhẹ lợi ích của dân tộc và cộng đồng”[8].

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm tới việc củng cố cho một xã hội văn minh, hiện đại, sáng tạo. Với sự cần thiết như vậy, việc hoàn thiện pháp luật phải theo các định hướng sau đây:

Thứ nhất, cần gắn gia đình với xã hội và bảo đảm cho sự phát triển xã hội bằng sự ổn định từ trong gia đình. Định hướng này đòi hỏi phải nghiên cứu thấu đáo về mặt pháp lý, trước hết bằng biện pháp bảo đảm để việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không ảnh hưởng tới sự ổn định của gia đình.

Thứ hai, bảo đảm tính hệ thống của pháp luật nhưng không thể bỏ qua các đặc thù. Định hướng này đòi hỏi cần cân nhắc kỹ lưỡng mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành để bảo đảm việc xây dựng các quy định trên nền tảng chung nhưng cũng phải bảo đảm tính đặc thù của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Việc bảo đảm tính hệ thống trong các quy định liên quan tới hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần phải xét rộng trên bình diện của hệ thống pháp luật. Có hai hướng lựa chọn: (i) Tiếp cận truyền thống xem Luật Hôn nhân và gia đình không phải là ngành luật riêng biệt, mà là một chế định của luật dân sự; (ii) Vẫn giữ quan niệm Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật. Theo hướng thứ nhất, đưa hầu hết các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành vào Bộ luật Dân sự và chỉ cần chú ý tới sự đồng nhất của các quy định khi sửa đổi hay bổ sung Bộ luật Dân sự hiện hành hay xây dựng mới. Theo hướng thứ hai, vấn đề xây dựng luật phức tạp hơn vì phải xây dựng hai đạo luật, nhưng phải dung hòa được các quy định của hai đạo luật đó.

Hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là một chế định của Luật Hôn nhân và gia đình, tuy nhiên, đó không phải là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật và dù có là một ngành luật độc lập với nhiều đặc thù, thì chúng ta cũng phải nhận thấy rằng, pháp luật điều chỉnh hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có nền tảng là luật dân sự bởi nó là một căn cứ làm phát sinh ra quan hệ pháp luật. Hơn nữa, đối tượng của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một khối tài sản mà trong đó có thể có nhiều dạng tài sản khác nhau phụ thuộc vào các quy chế pháp lý khác nhau (ví dụ như cổ phần, tiền gửi ngân hàng, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ...). Vì vậy, khi hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần phải bảo đảm sự phù hợp với quy định của cả các đạo luật khác như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020…

Khi nói tới hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nói tới tất cả các quy định pháp luật có liên quan ở bất cứ đạo luật nào. Trong sự hoàn thiện này cần phân tách rõ ràng quy định nào nên được xếp vào đạo luật nào. Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự khi quy định chung về hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần dẫn chiếu đến các luật chuyên ngành liên quan tới các đặc thù của loại hợp đồng này. Quan niệm đơn thuần về chế độ hôn sản chỉ liên quan tới vật quyền và không có ý niệm về sản nghiệp cần phải căn chỉnh lại để hướng tới vấn đề hoàn thiện pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung và pháp luật về hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng. Cần đưa ra khái niệm chế độ hôn sản, theo đó có thể quy định: Chế độ hôn sản là tổng thể các vấn đề pháp lý liên quan tới tài sản của các thành viên trong gia đình, sự chuyển dịch tài sản giữa các thành viên gia đình với nhau, nghĩa vụ về tài sản của các thành viên của gia đình gắn với quan hệ nhân thân trong đời sống gia đình phát sinh từ việc chung sống của các thành viên trong gia đình với nhau, và liên quan tới các trách nhiệm về tài sản đối với các sự kiện gây thiệt hại bởi thành viên gia đình đối với người khác.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, mà chỉ khẳng định vợ và chồng có quyền thỏa thuận việc chia chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38). Thỏa thuận này chính là hợp đồng bởi nó là sự thống nhất ý chí giữa các bên nhằm làm phát sinh ra, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ về tài sản ở một mức độ nào đó của các bên này cũng như những người có liên quan (nếu có). Tuy nhiên, nếu không sử dụng thuật ngữ hợp đồng sẽ thiếu đi sự xác định rành mạch và dứt khoát về hiệu lực của loại hợp đồng này và đôi khi không thấy hết mối liên hệ của nó với các quy định pháp luật nền tảng về hợp đồng. Vì vậy, kiến nghị bổ sung định nghĩa hợp đồng chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chế định ly thân để tạo nên nền tảng pháp lý áp dụng trong thực tiễn. Theo đó có thể định nghĩa: Hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là sự thỏa thuận giữa vợ và chồng về tài sản chung của họ khi họ còn đang chung sống hoặc khi họ ly thân, mà theo đó toàn bộ hoặc một phần của khối tài sản chung đó được chia cho vợ và cho chồng, hoặc chia cho vợ hoặc chồng, hoặc chia cho người khác sở hữu riêng trong khi vợ và chồng vẫn còn giữ quan hệ vợ chồng ít nhất về mặt hình thức pháp lý.

Định nghĩa này khi được bổ sung cần kèm theo các quy định liên quan tới các đặc điểm của loại hợp đồng này, vì việc xác định các đặc điểm của loại hợp đồng này cho chúng ta thấy cần giải thích cho loại hợp đồng này ra sao, quy chế pháp lý liên quan tới hiệu lực của nó như thế nào. Các đặc điểm của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hợp đồng trọng hình thức; là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba trong trường hợp người thứ ba được chia tài sản từ khối tài sản chung của vợ chồng (ví dụ trong hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong đó có quy định tất cả hoa lợi, hoặc lợi tức hoặc một phần hoa lợi hoặc lợi tức phát sinh từ tài sản được chia của một bên hoặc cả hai bên dành cho con đang học tập ở nước ngoài); là hợp đồng phụ thuộc vào quy chế pháp lý điều chỉnh từng loại tài sản cụ thể đem chia. Ngoài ra, còn một số đặc điểm khác mang tính học thuật như đặc điểm hợp đồng làm phát sinh quan hệ đối nhân, hay biểu lộ ý chí đồng hướng thì có thể được giải thích trong những trường hợp tranh chấp cụ thể. Việc đưa ra định nghĩa trên có liên quan tới nguyên nhân mục đích của hợp đồng trong trường hợp vợ chồng ly thân. Vì vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần bổ sung chế định ly thân để tạo nên nền tảng pháp lý thực sự trong một số trường hợp cho hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Cuối cùng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy định liên quan tới lừa dối hay bạo lực và ảnh hưởng xấu tới nghĩa vụ cấp dưỡng trong gia đình là vô hiệu tuyệt đối. Do tính chất đặc biệt liên quan tới hiệu lực đối với người thứ ba của hợp đồng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà gây ảnh hưởng tới quyền lợi của những người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng thì hợp đồng bị xem là vô hiệu tuyệt đối. Việc quy định vô hiệu tuyệt đối hữu ích ở chỗ bất kỳ ai có lợi ích liên quan đều có thể nại ra sự vô hiệu, Tòa án có thể tự nại ra sự vô hiệu và không áp dụng thời hiệu đối với việc tuyên vô hiệu đó.

Vũ Thị Thanh Huyền
Khoa Luật, Đại học Lao động - Xã hội Hà Nội



[1]. Ngô Huy Cương (2018), “Sự phân biệt giữa luật công và luật tư” (tr. 21 - 39), Đồng bộ hóa luật tư ở Việt Nam hiện nay, Nguyễn Mạnh Thắng chủ biên, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

[2]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 242.

[3]. Vũ Văn Mẫu (1970), Luật Gia đình lược giảng, Đại học Sài Gòn, Sài Gòn.

[4]. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 366.

[5]. Trần Văn Liêm (1974), Dân luật, Quyển II, Luật gia đình, Đại học Luật khoa Sài Gòn, tr. 85.

[6]. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam Dân Luật lược khảo, Quyển II - Nghĩa vụ và khế ước, Phần thứ nhất - Nguồn gốc của nghĩa vụ, In lần thứ nhất, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, tr. 14.

[7]. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 122.

[8]. Ngân hàng Thế giới & Bộ Kế hoạch - Đầu tư (2016), Việt Nam 2035 - Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ - Báo cáo tổng quan, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: