Thứ bảy 16/05/2026 05:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và tiến trình hội nhập thế giới ngày càng sâu rộng, trong những năm gần đây, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (gọi tắt là SHTT) được các quốc gia đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đề bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Ở Việt Nam, việc bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và quyền SHTT nói chung ngày càng được đảm bảo thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ... cùng với đó, hệ thống các biện pháp thực thi quyền SHTT như biện pháp dân sự, biện pháp hành chính và biện pháp hình sự cũng được hoàn thiện. Đây là công cụ pháp lý hữu hiệu để xử lý các hành vi xâm phạm. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về thực thi quyền SHTT còn hạn chế, dẫn đến thực tiễn áp dụng chưa mang lại hiệu quả cao.


1. Quy định của pháp luật hình sự và vấn đề áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (gọi tắt là SHCN), thuật ngữ này được sử dụng từ lâu và phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): Nhãn hiệu là “các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau”. Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì nhãn hiệu là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”[1]. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân vì mục đích thu lợi bất chính hoặc làm giảm uy tín để cạnh tranh không lành mạnh mà xâm phạm nghiêm trọng đến nhãn hiệu của các tổ chức, cá nhân khác đã được đăng ký bảo hộ, gây ra những thiệt hại cho chủ thể quyền, cũng như hạn chế năng lực phát triển kinh tế - xã hội. Để xử lý các hành vi xâm phạm này, ngoài biện pháp dân sự và biện pháp hành chính, Nhà nước sử dụng biện pháp hình sự như một công cụ thể hiện tính nghiêm minh và răn đe nhằm hạn chế tiến đến loại bỏ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội.

Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể về việc truy cứu TNHS đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa[2]. Đối tượng hàng giả được quy định tại điều luật này được ghi nhận theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong đó có quy định một trong những đối tượng hàng giả là “hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ”[3] được dẫn chiếu tới Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, theo đó, hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý (sau đây gọi là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu) và hàng hóa sao chép lậu. Trong đó, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý[4]. Như vậy, hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quy định này còn được áp dụng cả đối với pháp nhân thương mại phạm tội[5]. Ngoài ra, hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa cũng có thể bị xử lý hình sự về tội xâm phạm quyền SHCN. Theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015[6].

Từ những quy định trên của pháp luật hình sự hiện hành, có thể thấy rằng, hành giả mạo nhãn hiệu hàng hóa có thể bị xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả hoặc tội xâm phạm quyền SHCN. Vậy, thực tiễn áp dụng phải dựa vào dấu hiệu (tình tiết) nào để phân định hai tội danh này khi truy cứu TNHS đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa? Chúng ta có thể đánh giá qua vụ án sau[7]:

Ngày 02/02/2004, Bùi Trung H - giám đốc Công ty TNHH Nước giải khát NB ký Hợp đồng kinh tế số L 02 - 02 - 2004 với Công ty TNHH bao bì TP đặt mua 72.960 vỏ lon đựng nước uống tăng lực có hình hai con vật húc nhau màu đỏ do Đài Loan sản xuất với giá 875 đồng/1on, tổng in giá 63.840.000 đồng. Ngày 13/3/2004 Công ty TNHH bao bì TP đã xuất đủ 72.960 vỏ lon cho Công ty TNHH NB theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0057885. Sau đó Bùi Trung H đã sử dụng số vỏ lon trên để tổ chức sản xuất nước uống tăng lực tại xưởng NB với số lượng 34.560 lon, còn tồn 38.400 vỏ lon chưa sử dụng. Theo lời khai của Bùi Trung H thì trong số 34.560 lon thành phẩm, Công an quận Tân Phú đã thu giữ khi kiểm tra hành chính là 10.464 lon (trong đó có 384 lon bị hư ), còn 24.096 lon thì trong quá trình sản xuất bị hư hỏng, một số mang chào hàng bán và còn một số để lẫn với các sản phẩm khác ở trong kho. Cơ quan điều tra phối hợp với Công an quận Tân Phú kiểm tra xác định trong kho còn 11.820 lon nước uống tăng lực thành phẩm do Công ty NB sản xuất có nhãn in hình hai con vật húc nhau màu đỏ được đựng trong các bao tải PP màu đen. Như vậy, số lon thành phẩm đã bán và hư hỏng trong quá trình sản xuất là 12.276 lon (24.096 lon - 11.820 lon). Theo kết luận của cơ quan giám định, Công ty TNHH Nước giải khát NB do Bùi Trung H trực tiếp đứng ra tổ chức sử dụng bất hợp pháp một số lượng lớn vỏ lon có in hình hai con vật húc nhau màu đỏ tương tự nhãn hiệu của Công ty TC Pharmaceutical Industrie CO LTD Thái Lan đã được bảo hộ độc quyền tại Việt Nam để sản xuất nước uống tăng lực, bán ra thị trường nhằm thu lợi bất chính.

Hành vi xuất nước uống tăng lực có dán nhãn hiệu “Redbull” và hình hai con bò húc nhau của Bùi Trung H đồng thời thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả (giả về hình thức) và tội xâm phạm quyền SHCN (đối với nhãn hiệu hàng hóa đã được bảo hộ). Như vậy, hành vi của Bùi Trung H sẽ bị xử lý theo tội danh nào?

Để xác định tội danh cho hành vi này, có quan điểm cho rằng[8], cần phải căn cứ vào chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội xâm phạm quyền SHCN hướng tới bảo vệ. Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả thì tội phạm xâm phạm đến tính trung thực, hoạt động đúng đắn của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, đồng thời xâm phạm đến lợi ích của người tiêu dùng. Như vậy, điều luật này hướng tới bảo vệ các chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp và đặc biệt là hướng tới bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Còn theo tội xâm phạm quyền SHCN thì chủ thể được điều luật này hướng tới bảo vệ trước tiên là các chủ sở hữu hợp pháp các đối tượng SHCN (thường là nhà sản xuất, kinh doanh). Quan điểm này hợp lý, trường hợp này, Bùi Trung H sẽ bị xử lý về tội xâm phạm quyền SHCN, bởi vì Bùi Trung H chỉ đặt mua vỏ lon có in hình hai con vật húc nhau màu đỏ tương tự nhãn hiệu của Công ty TC Pharmaceutical Industrie CO LTD Thái Lan đã được bảo hộ độc quyền tại Việt Nam để sản xuất nước uống tăng lực, mà không làm giả về chất lượng nước uống tăng lực, tức là không xâm phạm (hoặc xâm phạm không đáng kể) lợi ích của người tiêu dùng, hành vi của Bùi Trung H xâm phạm chủ yếu đến quyền SHCN đối với nhãn hiệu của Công ty TC Pharmaceutical Industrie CO LTD Thái Lan đã được bảo hộ độc quyền tại Việt Nam.

Mặc dù vậy, cách giải quyết trên chỉ mang tính quan điểm cá nhân mà chưa có quy định nào hướng dẫn đường lối xử lý một cách cụ thể. Tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả… được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 đã giải thích một cách đầy đủ về hàng giả. Đặc biệt, tại điểm b khoản 8 Điều 3 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả... được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 thì hàng giả là: “b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa”. Quy định này là một trong những căn cứ pháp lý để cơ quan chức năng xác định hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa là sản xuất, buôn bán hàng giả hay hàng xâm phạm quyền SHCN, thể hiện qua vụ án sau[9]:

Năm 2015, Đ cùng chồng là N đứng ra thành lập Công ty TNHH M chuyên kinh doanh văn phòng phẩm. Do lúc đó Đ không có chứng minh nhân dân nên lấy tên chồng làm giám đốc nhưng mọi hoạt động của Công ty là do Đ điều hành, chỉ đạo. Đầu năm 2018, qua tìm hiểu, Đ thấy mặt hàng bút chữ A nhãn hiệu A và thước kẻ nhãn hiệu K là sản phẩm đang được tiêu thụ nhiều trên thị trường nên đã nảy sinh ý định sản xuất các mặt hàng giả nhãn hiệu này mang tiêu thụ kiếm lời. Đ đã mua các sản phẩm bút chữ A nhãn hiệu A và thước kẻ nhãn hiệu K chính hãng rồi liên hệ với Công ty Y thuê Yu L đúc các sản phẩm bút và thước nêu trên gồm đế bút, nắp bút, chỗ cầm viết (đệm tay), vỏ đầu bút, thân bút, bìa vỏ hộp đựng cốc theo đúng mẫu của nhãn hiệu chính hãng và được Yu L đồng ý. Sau đó, Đ thuê Công ty TNHH in công nghệ đỉnh cao T do Nguyễn Thị H làm giám đốc in các mẫu chữ A và K lên các sản phẩm đã thuê sao cho giống với các sản phẩm chính hãng. Ngoài ra, Đ còn thuê H đóng gói, dán mác, tem mã vạch, đóng cốc, thùng catton... để có sản phẩm hoàn chỉnh và được H đồng ý. Đ thỏa thuận với H và Yu L như sau: Yu L có trách nhiệm sản xuất các bộ phận của hàng hóa như Đ đã thuê rồi chuyển trực tiếp cho H để H thực hiện việc in chữ lên sản phẩm. Các nguyên liệu khác để sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh như ruột bút, nhãn mác, mã vạch, hộp bìa giấy, hộp caton, túi nilon đựng thước được Đ đặt và mua tại Trung Quốc của một số đối tượng không quen biết tại Lạng Sơn rồi chuyển cho H để hoàn thiện sản phẩm. Quá trình giao dịch, trao đổi với H và Yu L, Đ không nói cho H và Yu L biết là Đ đang thuê họ sản xuất hàng giả. Tin tưởng Đ, H đã thực hiện việc gia công, in chữ lên các sản phẩm bút và thước kẻ cho Đ theo yêu cầu.

Đến thời điểm bị kiểm tra, thu giữ của H và Đ tổng số hàng hóa thành phẩm gồm: 363.366 chiếc bút chữ A nhãn hiệu A; 104.411 chiếc thước kẻ K loại 30cm; 197.105 chiếc thước kẻ K loại 20cm. Tại Kết luận giám định số 3163A/C54 (P4) ngày 20/6/2018 của Viện khoa học hình sự Tổng cục Cảnh sát kết luận: Toàn bộ các mẫu thu được của H, Yu L và Đ đều là hàng giả nhãn hiệu A và K do Công ty TNHH T ở địa chỉ khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn sản xuất. Tổng giá trị số hàng hóa giả nêu trên là 2.203.468.000 đồng.

Với nội dung trên, Bản cáo trạng số 140/CTr - VKS - P3 ngày 30/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Đ về tội “sản xuất, buôn bán hàng giả” theo điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, quan điểm về tội danh này đã thay đổi, khi Viện khoa học hình sự - Bộ Công an đã ra Văn bản số 306 ngày 04/3/2019 giải thích Kết luận giám định phần trăm chỉ tiêu chất lượng của bút và thước kẻ do Đ sản xuất so với tiêu chuẩn cơ sở của bút và thước chính hãng đều đạt thấp nhất là 72,5%, cao nhất là 100%. Các chỉ tiêu này đều cao hơn quy định về hàng giả theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP là hàng hóa có chất lượng đạt từ 70% trở xuống. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát thay đổi tội danh truy tố bị cáo từ tội “sản xuất, buôn bán hàng giả” theo điểm a khoản 3 Điều 192 sang tội “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo khoản 2 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 2015. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã tuyên bị cáo Đ phạm tội “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.

Từ hai vụ án trên có thể thấy, để phân định tội “sản xuất, buôn bán hàng giả” hay “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” đối với hành vi làm giả nhãn hiệu phải dựa vào chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa giả nhãn hiệu. Tuy nhiên, căn cứ này chỉ dựa vào văn bản hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà chưa có văn bản cụ thể hướng dẫn về việc truy cứu TNHS đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả và tội xâm phạm quyền SHCN khi xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu, do đó thực tiễn áp dụng giải quyết chưa rõ ràng, thống nhất.

2. Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa

Qua quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng để truy cứu TNHS đối với hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa, tác giả nhận thấy, cần phải hoàn thiện một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể đường lối xử lý hình sự đối hành vi giả mạo nhãn hiệu hàng hóa, sản phẩm. Theo đó, nên quy định theo một trong hai hướng: (i) Nếu hành vi giả mạo chỉ nhằm mục đích lợi dụng uy tín thương mại của chủ sở hữu các đối tượng SHCN để tăng lợi nhuận kinh doanh chứ không nhằm lừa gạt người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm thì xử lý về tội “xâm phạm quyền SHCN”; (ii) Nếu hành vi giả mạo đồng thời nhằm mục đích lợi dụng uy tín thương mại của chủ sở hữu hợp pháp các đối tượng quyền SHCN, đồng thời lừa gạt người tiêu dùng về chất lượng của sản phẩm, hàng hóa thì xử lý về tội “sản xuất, buôn bán hàng giả”[10].

Thứ hai, nên thu hẹp đối tượng hàng giả trong tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Theo đó, chỉ nên quy định đối tượng tác động của tội phạm trong tội danh này là những hàng hóa, sản phẩm giả về nội dung (chất lượng hoặc công dụng) mà không nên quy định hàng giả về hình thức (bao gồm giả về nhãn hiệu). Quy định như vậy, mặc nhiên những hành vi phạm tội chỉ giả về hình thức (nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý) sẽ bị xử lý về tội xâm phạm quyền SHCN, góp phần khắc phục những vướng mắc, chồng chéo trong việc lựa chọn tội danh, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan chức năng áp dụng giải quyết thống nhất.

Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự vào xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa, cần hướng dẫn cụ thể dấu hiệu “với quy mô thương mại” hoặc bỏ dấu hiệu này trong tội xâm phạm quyền SHCN. Theo Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015, dấu hiệu “với quy mô thương mại” là một trong hai dấu hiệu định tội của tội phạm. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể dấu hiệu này. Có quan điểm cho rằng[11] “quy mô thương mại” đã được cụ thể hóa ở Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sư đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT, đó là đánh giá bằng tiêu chí mức độ từ nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng thể hiện bằng tiêu chí lợi nhuận. Như vậy, “quy mô thương mại” được hiểu là “từ mức độ nghiêm trọng trở lên cho đến rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng” và mức độ được xác định bằng lợi nhuận, giá trị gây thiệt hại và giá trị hàng hóa vi phạm. Nhưng cách hiểu này, theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành sẽ trùng với dấu hiệu định tội thứ hai của tội danh khi đã đề cập đến khoản “thu lợi bất chính”, “giá trị gây thiệt hại” và “giá trị hàng hóa vi phạm”[12]. Vì vậy, cần ban hành văn bản hướng dẫn dấu hiệu “với quy mô thương mại” hoặc bỏ dấu hiệu này. Thực chất, dấu hiệu này được đưa vào từ Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009[13] cho phù hợp với TRIPs[14], tuy nhiên, trong Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 chưa quy định rõ ràng các dấu hiệu định tội thứ hai như trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đến thời điểm trước khi có Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta vẫn ngầm hiểu thuật ngữ “với quy mô thương mại” như dấu hiệu định tội thứ hai mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định, nên vô hình chung, dấu hiệu “với quy mô thương mại” hiện nay làm cho điều luật không rõ ràng, thậm chí bị thừa[15].

Trước diễn biến ngày càng phức tạp và nguy hiểm của các hành vi phạm tội trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nói chung và các tội phạm về hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT nói riêng, đòi hỏi các quy định của pháp luật phải hoàn thiện nhằm tạo khung pháp lý vững chắc cho thực tiễn áp dụng, từ đó nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần ổn định trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng cũng như chủ sở hữu quyền SHTT, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển bền vững.

ThS. Trần Văn Hải

Đại học Luật thuộc Đại học Huế


[1] Theo khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[2] Xem Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Điểm g khoản 3 Điều 8 Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

[4] Khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.

[5] Khoản 5 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Xem: Khoản 1, Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[7] Theo cáo trạng Số 306/KSĐT- XXSTHS ngày 20/7/2007 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh.

[8] Trần Văn Nam, “Pháp luật và thực tiễn đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam” đăng ở Website của Viện nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, truy cập ngày 20/01/2020 trên http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/c/document_library/get_file?uuid=4ed24077-b6a3-4e33-98f1-b7e0167245b2&groupId=13025.

[9] http://amilawfirm.com/wp-content/uploads/2019/07/S%E1%BA%A3n-xu%E1%BA%A5t-h%C3%A0ng-h%C3%B3a-%C4%91%E1%BA%A1t-ch%E1%BA%A5t-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-70-tr%E1%BB%9F-l%C3%AAn-n%C3%AAn-truy-t%E1%BB%91.pdf.

[10] Tuy nhiên, phải có định lượng cụ thể về chỉ tiêu chất lượng hàng hóa như Nghị định số 124/2015/NĐ-CP ngày 19/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định.

[11] Nguyễn Thị Quế Anh, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học, tập 30, Số 2 (2014).

[12] Xem thêm khoản 1 Điều 225 và khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[13] Thay thế cụm từ “vì mục đích kinh doanh” trong Bộ luật Hình sự năm 1999.

[14] Khoản 1 Điều 61 của TRIPs quy định: “Các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hóa hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại (commercial scale)….”.

[15] Tác giả cũng xin khẳng định việc xóa bỏ dấu hiệu này không làm thay đổi sự tương thích với TRIPs.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: