Thứ năm 16/07/2026 11:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện quy định của pháp luật về công tác quản lý bị can, bị cáo trong các trại tạm giam

Hoàn thiện quy định của pháp luật về công tác quản lý bị can, bị cáo trong các trại tạm giam

Tóm tắt: Bài viết phân tích, chỉ ra một số bất cập trong các quy định của pháp luật về công tác quản lý bị can, bị cáo trong các trại tạm giam và đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định này trong thời gian tới.

Abstract: The article analyzes and points out some shortcomings in the legal provisions on the management of accused and defendants in detention camps and proposes ideas to improve these regulations in the near future.

Từ năm 2015 đến năm 2022, công tác quản lý người bị tạm giam nói chung, quản lý bị can, bị cáo trong các trại tạm giam nói riêng được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015. Các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn trong ngành Công an đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tổ chức quản lý bị can, bị cáo trong các trại tạm giam. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản, quy phạm pháp luật đó vẫn còn những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn hoặc chưa cụ thể, chưa rõ ràng nên quá trình áp dụng còn gặp không ít khó khăn, thậm chí không thực hiện được. Vì vậy, trong phạm vi giới hạn của bài viết, tác giả phân tích những hạn chế dưới đây và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về công tác quản lý bị can, bị cáo trong các trại tạm giam.

1. Thông báo hết thời hạn tạm giam

Theo điểm h khoản 1 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, trại tạm giam có nhiệm vụ: “Thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án 01 ngày trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ, 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, 10 ngày trước khi hết thời hạn gia hạn tạm giam…”. Tuy nhiên, trên thực tế các trại tạm giam khó thực hiện đúng quy định này một cách triệt để, vì thời hạn ngắn, việc thông báo, đôn đốc, trao đổi, chủ yếu bằng điện thoại cho cơ quan đang thụ lý, sau đó mới làm văn bản thông báo, dẫn đến việc vi phạm trên thực tế tương đối phổ biến. Vì vậy, đề nghị chỉnh sửa thời hạn thông báo khi hết thời hạn tạm giam tại điểm h khoản 1 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ năm 2015, tạm giam để bảo đảm thuận tiện trong thực tiễn áp dụng.

2. Khám sức khỏe cho bị can, bị cáo

Khoản 2 Điều 16 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định: Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ có trách nhiệm: “Lập biên bản giao nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, tài liệu, hồ sơ kèm theo; tổ chức khám sức khỏe…”. Quy định này được hiểu là ngay khi tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam, cơ sở giam giữ phải tổ chức khám sức khỏe cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam để bảo đảm quyền lợi chính đáng của người bị tạm giữ, người bị tạm giam và là cơ sở phân loại giam giữ. Tuy nhiên, việc khám sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam nói chung, cho bị can, bị cáo nói riêng đòi hỏi cán bộ y tế phải có chuyên môn cùng với các phương tiện y tế cần thiết. Ngoài ra, trong quá trình khám do không có cán bộ y tế chuyên trách nên cơ bản là kiểm tra các dấu vết bên ngoài, không thể xác định được người bị tạm giữ, tạm giam có bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, người đồng tính hay chuyển giới để phân loại giam, giữ riêng. Vì vậy, nếu quy định phải tổ chức khám sức khỏe cho bị can, bị cáo sẽ vô hình trung gây khó khăn cho các trại tạm giam. Vì vậy, cần phải quy định rõ hơn nội dung này để phù hợp với tình hình thực tế của các trại tạm giam.

3. Lập danh bản, chỉ bản của bị can, bị cáo

Khoản 3 Điều 16 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định: Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ có trách nhiệm: “Chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản và vào sổ theo dõi người bị tạm giữ, người bị tạm giam”. Tuy nhiên, quy định hiện hành chưa quy định cụ thể về thời hạn lập danh bản, chỉ bản nên có thể dẫn đến việc thực hiện không thống nhất giữa các đơn vị hoặc giữa các thời điểm trong cùng một đơn vị và phụ thuộc vào nhận thức của người thực hiện, theo đó cũng gây khó khăn cho công tác kiến nghị yêu cầu khắc phục của Viện kiểm sát, thậm chí có những trường hợp bị can, bị cáo ở trong các trại tạm giam trong thời gian dài nhưng chưa tiến hành lập danh bản, chỉ bản. Do vậy, cần có hướng dẫn quy định rõ về thời hạn lập danh bản, chỉ bản để thống nhất trong việc thực hiện hoạt động này.

4. Xây dựng hồ sơ tạm giam đối với bị can, bị cáo

Tại Điều 17 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam quy định về hồ sơ quản lý tạm giữ, tạm giam quy định: “Tài liệu khác có liên quan” thì đó là tài liệu gì? Quy định này dẫn đến cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan hoạt động tố tụng hình sự; đôi lúc gây khó khăn trong quá trình áp dụng để làm căn cứ yêu cầu cơ sở giam giữ thực hiện. Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể về “tài liệu khác có liên quan” bao gồm những tài liệu cụ thể nào.

5. Trích xuất và bàn giao bị can, bị cáo trong thời gian trích xuất

Khoản 4 Điều 20 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định: “Cơ sở giam giữ có trách nhiệm kiểm tra, bàn giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam cho cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải. Cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải có trách nhiệm bàn giao người được trích xuất cho người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất. Việc giao nhận phải được lập biên bản”.

Theo quy định trên, việc trích xuất bị cáo đang bị tạm giam đi xét xử phải có ít nhất bốn biên bản bàn giao: Biên bản cơ sở giam giữ giao người bị tạm giam cho lực lượng áp giải khi trích xuất ra khỏi cơ sở giam giữ; biên bản giao giữa lực lượng áp giải cho thẩm phán chủ tọa phiên tòa (người có thẩm quyền trích xuất); biên bản giao giữa người có thẩm quyền trích xuất với lực lượng áp giải sau khi kết thúc phiên tòa; biên bản giao giữa lực lượng áp giải với cơ sở giam giữ sau khi kết thúc việc áp giải. Theo quy định hiện hành, cơ quan có nhiệm vụ áp giải phối hợp với cơ sở giam giữ và người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất quản lý người bị trích xuất. Đồng thời, đề cập việc trích xuất người bị can, bị cáo ra ngoài trại tạm giam, cơ quan áp giải phải có kế hoạch áp giải, quản lý; trường hợp trích xuất nhiều người, tội phạm rất nghiêm trọng... thì cơ quan, người có nhiệm vụ áp giải phải có kế hoạch để bảo đảm tuyệt đối an toàn. Như vậy, theo quy định trên thì việc quản lý, bảo đảm an toàn cho bị can, bị cáo ra khỏi trại tạm giam đều do lực lượng áp giải thực hiện và chịu trách nhiệm và trên thực tế thì chỉ lực lượng đó mới có đủ khả năng để quản lý và bảo đảm an toàn cho bị can, bị cáo. Do đó, việc lập biên bản bàn giao người cho người có thẩm quyền trích xuất là không cần thiết và người có thẩm quyền trích xuất (trong trường hợp là thẩm phán) cũng không đủ khả năng để quản lý, bảo đảm an toàn cho bị can, bị cáo trong suốt thời gian trích xuất.

6. Trả tự do cho bị can, bị cáo

Đề nghị bổ sung khoản 3 Điều 13 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam theo hướng: “Giám thị trại tạm giam có quyền từ chối việc thi hành lệnh, quyết định tạm giam, trả tự do khi có căn cứ xác định là trái pháp luật”. Quy định như vậy sẽ khắc phục tình trạng vi phạm quy định pháp luật về tạm giam, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân. Mặt khác, việc trao quyền cho giám thị trại tạm giam từ chối việc thi hành lệnh, quyết định tạm giam, trả tự do khi biết là trái pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc ra lệnh, phê chuẩn lệnh, quyết định tạm giam, trả tự do cũng như trách nhiệm của các trại tạm giam trong thi hành quyết định tạm giam hoặc trả tự do cho bị can, bị cáo. Thực tế có trường hợp giám thị trại tạm giam đã thông báo việc hết hạn tạm giam đối với đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án nhưng đến ngày hết thời hạn tạm giam của bị can, bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án vẫn không ra quyết định (gia hạn, hủy bỏ hoặc thay thế). Việc kiến nghị lên Viện kiểm sát chưa có kết quả. Trong trường hợp này, tiếp tục giam giữ là tạm giam quá hạn, vi phạm các quyền của công dân. Việc này sẽ khắc phục tình trạng tạm giam quá hạn, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân và đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án và trách nhiệm của giám thị trại tạm giam trong việc giam giữ bị can, bị cáo.

7. Chế độ của bị can, bị cáo

Điều 27 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định về chế độ ăn, ở của người bị tạm giam có quy định sử dụng điện. Ngoài ra, Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ quy định định mức sử dụng điện là 45kW/h điện và 3m3 nước trên một đầu người. Thực tế hiện nay cho thấy, các buồng tạm giam không có công tơ điện riêng, không có đồng hồ đo nước riêng mà sử dụng điện, nước chung với đơn vị, do đó gây khó khăn cho quá trình thực hiện chế độ này cho bị can, bị cáo.

Mặt khác, việc quy định định mức sử dụng điện cho 1 người là chưa phù hợp, bởi thực tế dù trong 1 buồng tạm giam, số lượng điện tiêu thụ hầu như không thay đổi và không phụ thuộc vào số người có trong buồng giam đó mà phụ thuộc phần lớn vào số thiết bị sử dụng điện được trang bị cho buồng giam cũng như số thời gian được cung cấp điện và sử dụng thiết bị điện. Do đó, nếu cứ áp dụng quy định này thì rất dễ dẫn đến vi phạm của cơ sở giam giữ bởi số lượng người trong các buồng tạm giam luôn có sự thay đổi, không thể lúc nào cũng bằng nhau.

Đối với chế độ ăn, khoản 1 Điều 4 Nghị định số 113/2021/NĐ-CP ngày 14/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã quy định định mức ăn trong một tháng của người bị tạm giam theo từng chủng loại thực phẩm và quy định định mức trên được quy đổi ra tiền theo thời giá thị trường ở địa phương nơi giam giữ. Tuy nhiên, việc ấn định một số định lượng của một số loại thực phẩm không thực tế. Chẳng hạn, quy định định lượng muối, đường đều là 0,5kg/tháng, nước chấm 0,75l/tháng là không phù hợp với nhu cầu thực tế, cần có sự điều chỉnh giảm lượng thực phẩm trên và tăng loại thực phẩm khác như rau xanh, thịt, cá... Bên cạnh đó, do việc quy định định lượng thực phẩm trên tính theo tháng cũng gây khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện chế độ, chính sách và hoạt động kiểm tra giám sát, bởi khi kiểm tra bữa ăn, nếu không bảo đảm lượng thức ăn thì cơ sở giam giữ cho rằng sẽ bù vào bữa khác trong ngày (nếu kiểm tra bữa trưa thì nói sẽ bù vào bữa tối, nếu kiểm tra bữa tối thì nói đã bù ở bữa trưa để bảo đảm thuận lợi cho việc mua và chế biến thực phẩm...). Do vậy, chỉ kiểm tra trên sổ cấp phát và giao nhận thực phẩm, nên rất khó phát hiện vi phạm trong việc thực hiện chế độ ăn cho người bị tạm giam. Để khắc phục vướng mắc này, cần quy định định lượng gam gạo bữa cho từng người một bữa ăn và quy định giá trị thức ăn của một bữa ăn của một người, đồng thời, quy định các thành phần bắt buộc trong một bữa ăn để bảo đảm dinh dưỡng để các cơ sở giam giữ thuận tiện trong việc bố trí thực đơn bữa ăn cho phù hợp với đặc điểm vùng miền, mùa vụ và cung cấp đủ dinh dưỡng cho người bị tạm giam.

ThS. Phạm Đức Huyên

Học viện Cảnh sát nhân dân

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: